Nghiên cứu sinh kế hộ nông dân sau thu hồi đất xây dựng KCN tại xã Đông Mỹ, Thái Bình

Luận án: Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã đông mỹ thành phố thái bình tỉnh thái bình.

Tác giả

Luan An

Số trang

128

Thời gian đọc

20 phút

Lượt xem

1

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

40 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
Sinh kế nông dân Thái Bình: Bối cảnh thu hồi đất KCN
Số trang:
128 trang
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I.Sinh kế nông dân Thái Bình Bối cảnh thu hồi đất KCN

Việt Nam là quốc gia nông nghiệp. Hơn 70% dân số sống ở nông thôn. Gần 70% lao động làm nông nghiệp. Đảm bảo sinh kế bền vững cho nông dân là vấn đề quan trọng. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra nhanh chóng. Việc phát triển các khu công nghiệp (KCN) mang lại nhiều kết quả tích cực. Nó thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ địa phương. Tuy nhiên, quá trình này cũng dẫn đến việc thu hồi đất sản xuất. Hàng ngàn hộ gia đình bị ảnh hưởng. Các hộ nông dân mất đi tài sản sinh kế quan trọng là đất đai. Điều này làm mất đi địa vị, cơ hội, nguồn thực phẩm và thu nhập. Xã hội đối mặt với sự xáo trộn. Nông dân phải tìm cách kiếm sống mới. Nhiều người gặp khó khăn trong việc thích nghi. Đặc biệt tại xã Đông Mỹ, thành phố Thái Bình, việc thu hồi đất đã tạo ra nhiều thách thức về sinh kế.

1.1. Thực trạng công nghiệp hóa tại Việt Nam

Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương phát triển kinh tế thị trường. Trọng tâm là phát triển công nghiệp. Hiện nay, Việt Nam có trên 150 KCN tập trung. Tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 30.000 ha. Các KCN này thu hút hàng nghìn dự án. Tổng vốn đầu tư lên đến hàng trăm nghìn tỷ đồng. Phát triển KCN giúp nhiều địa phương có điều kiện phát triển kinh tế mạnh mẽ.

1.2. Mất đất sản xuất nông nghiệp Vấn đề cấp thiết

Phát triển KCN kéo theo thu hồi đất nông nghiệp quy mô lớn. Hàng năm, khoảng 50-60 nghìn hecta đất nông nghiệp được chuyển mục đích. Điều này tương ứng với khoảng 1.5 lao động/hộ mất việc làm. Đất đai là tài sản sinh kế đặc biệt quan trọng. Mất đất sản xuất làm nông dân mất thu nhập, nguồn thực phẩm. Các cơ hội trong cộng đồng cũng bị giảm sút. Đây là nguyên nhân gây ra sự xáo trộn xã hội.

1.3. Điển hình tại xã Đông Mỹ Thái Bình

Xã Đông Mỹ nằm ven trung tâm thành phố Thái Bình. Địa phương này có nhiều điều kiện phát triển. Theo quy hoạch năm 2007, gần 14 ha đất nông nghiệp đã bị thu hồi. Đất được sử dụng để xây dựng Khu công nghiệp Gia Lễ. Gần 140 hộ nông dân bị mất đất sản xuất. Nhiều lao động nhận được việc làm tạm thời. Một số khác rơi vào cảnh thiếu việc làm. Đời sống của họ còn đối mặt nhiều khó khăn. Vấn đề đặt ra là đảm bảo sinh kế cho họ.

II.Tác động thu hồi đất nông nghiệp lên sinh kế nông dân

Thu hồi đất nông nghiệp tạo ra nhiều tác động tiêu cực đến sinh kế nông dân. Đất đai là phương tiện sản xuất chính. Mất đất đồng nghĩa với mất nguồn thu nhập ổn định. Nông dân phải tìm kiếm các hoạt động tạo thu nhập mới. Trình độ dân trí và kỹ năng lao động của họ thường hạn chế. Việc chuyển đổi nghề nghiệp trở nên khó khăn. Nhiều người phải đối mặt với mất việc làm hoặc tìm kiếm công việc bấp bênh. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và an sinh xã hội của hộ gia đình. Các rủi ro về kinh tế và xã hội tăng lên.

2.1. Mất việc làm và giảm thu nhập

Nông dân quen lao động chân tay. Sau khi mất đất, họ thiếu kỹ năng cần thiết cho việc làm phi nông nghiệp. Một số phải đi làm thuê để kiếm sống. Việc làm thường không ổn định, thu nhập bấp bênh. Lao động trẻ có thể tìm được việc trong KCN. Tuy nhiên, lao động lớn tuổi gặp khó khăn hơn. Thu nhập hộ gia đình thường bị giảm sút đáng kể.

2.2. Khó khăn chuyển đổi nghề nghiệp

Trình độ dân trí của nông dân có hạn. Kỹ năng lao động chủ yếu tập trung vào nông nghiệp. Việc chuyển đổi nghề nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp hay dịch vụ là một thách thức lớn. Họ cần được đào tạo nghề cho nông dân phù hợp. Thiếu định hướng rõ ràng khiến nhiều người loay hoay tìm kiếm hướng đi mới. Điều này cản trở việc tạo ra sinh kế mới hiệu quả.

2.3. Rủi ro và xáo trộn xã hội

Nhiều nông dân phải rời quê hương. Họ đổ ra thành thị để kiếm việc làm. Cuộc sống nơi đô thị tiềm ẩn nhiều rủi ro. Một số khác tự mở các dịch vụ nhỏ lẻ như quán nước. Một bộ phận đầu tư xây dựng nhà ở cho thuê. Tuy nhiên, điều này không phải lúc nào cũng khả thi. Cộng đồng nông thôn bị xáo trộn. Mất đất sản xuất cũng làm thay đổi các mối quan hệ xã hội.

III.Chuyển đổi nghề nghiệp và sinh kế nông dân Thái Bình

Sau thu hồi đất, nông dân Thái Bình buộc phải thay đổi sinh kế. Quá trình chuyển đổi nghề nghiệp diễn ra đa dạng. Một số lao động trẻ tìm được việc làm trong các nhà máy KCN. Một số khác tìm kiếm việc làm tại các địa phương lân cận. Nhiều hộ gia đình tự tạo việc làm phi nông nghiệp. Ví dụ như mở quán nước hoặc cung cấp dịch vụ nhỏ. Tuy nhiên, sự thích nghi này không đồng đều. Nhiều người vẫn gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm ổn định. Cần có sự hỗ trợ về đào tạo nghề và định hướng sinh kế.

3.1. Các phương án tìm kiếm sinh kế mới

Lao động trẻ thường được tuyển dụng vào làm việc trong nhà máy KCN. Một số lao động tìm kiếm việc làm tại các địa phương khác. Một bộ phận mở các dịch vụ nhỏ tại nhà như quán nước. Một số hộ đầu tư xây dựng nhà ở cho thuê. Ngay cả những nông dân không bị thu hồi đất cũng chuyển một phần lao động sang làm việc trong KCN hoặc các dịch vụ liên quan.

3.2. Nhu cầu đào tạo nghề cho nông dân

Nông dân cần được đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu thị trường. Các khóa học nghề phải thực tế. Chúng giúp nông dân có kỹ năng cần thiết cho việc làm phi nông nghiệp. Đào tạo nghề cho nông dân là chìa khóa. Nó giúp họ thích nghi với cuộc sống mới. Điều này cải thiện cơ hội việc làm và thu nhập ổn định hơn.

3.3. Thích ứng với môi trường làm việc mới

Làm việc trong KCN đòi hỏi kỹ năng công nghiệp và kỷ luật. Nhiều nông dân quen với công việc tự do. Việc thích nghi với môi trường làm việc nhà máy là một thách thức. Sự hỗ trợ về định hướng nghề nghiệp và tâm lý là cần thiết. Điều này giúp họ ổn định và hòa nhập tốt hơn với công việc mới.

IV.Hỗ trợ sinh kế nông dân Thái Bình sau thu hồi đất KCN

Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách. Mục tiêu là ổn định đời sống cho người dân sau thu hồi đất. Các chính sách định cư, hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi nghề được triển khai. Tuy nhiên, vấn đề sinh kế của người dân mất đất sản xuất vẫn còn nhiều khó khăn. Cần có sự trợ giúp kịp thời từ các cấp, ngành và địa phương. Mục tiêu là giúp nông dân thích nghi và ổn định với cuộc sống mới. Đảm bảo họ có một sinh kế bền vững. Nâng cao hiệu quả của công tác bồi thường giải phóng mặt bằng cũng rất quan trọng.

4.1. Các chính sách hỗ trợ hiện hành

Chính sách định cư giúp người dân có nơi ở ổn định. Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cung cấp kỹ năng mới. Các chương trình chuyển đổi nghề nghiệp cũng được thực hiện. Các biện pháp này nhằm giúp người dân tái hòa nhập. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế của những chính sách này đôi khi còn hạn chế. Cần có sự đánh giá và điều chỉnh thường xuyên.

4.2. Đề xuất giải pháp đảm bảo sinh kế

Cần nghiên cứu và xây dựng các mô hình sinh kế phù hợp. Đặc biệt cho từng nhóm đối tượng nông dân. Hỗ trợ vốn, kỹ thuật và thông tin thị trường. Mở rộng cơ hội việc làm phi nông nghiệp. Đẩy mạnh các chương trình đào tạo nghề chất lượng cao. Đảm bảo người dân có thể tự tạo ra thu nhập ổn định. Các giải pháp phải hướng tới phát triển bền vững.

4.3. Nâng cao hiệu quả bồi thường và tái định cư

Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng cần được thực hiện công bằng và minh bạch. Mức bồi thường phải đảm bảo đủ để nông dân tái tạo sinh kế. Chính sách tái định cư cần tính đến yếu tố cộng đồng. Đảm bảo người dân có điều kiện sống tốt hơn hoặc tương đương. Hỗ trợ tái định cư kèm theo các chương trình an sinh xã hội. Điều này giúp ổn định cuộc sống lâu dài cho người dân.

V.An sinh xã hội cho nông dân Thái Bình Đảm bảo bền vững

Đảm bảo an sinh xã hội là yếu tố then chốt. Nó giúp ổn định đời sống nông dân sau thu hồi đất. Một số hộ đã thích nghi và tìm được việc làm. Họ xây dựng mô hình sinh kế phù hợp, tăng thu nhập. Tuy nhiên, nhiều hộ vẫn thiếu việc làm và cần trợ giúp. An sinh xã hội cung cấp lưới an toàn. Nó giúp giảm thiểu rủi ro cho những người dễ bị tổn thương. Việc xây dựng một hệ thống an sinh xã hội toàn diện là cần thiết. Điều này góp phần vào phát triển bền vững của cộng đồng nông thôn.

5.1. Vai trò của an sinh xã hội

An sinh xã hội cung cấp một lưới an toàn. Nó giúp nông dân giảm thiểu cú sốc mất đất sản xuất. Bao gồm bảo hiểm y tế, trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ giáo dục. Đảm bảo người dân không rơi vào cảnh khó khăn cùng cực. Nó cũng góp phần ổn định tâm lý và trật tự xã hội. Một hệ thống an sinh xã hội vững chắc là nền tảng cho sự phục hồi.

5.2. Xây dựng mô hình sinh kế bền vững

Cần khuyến khích đa dạng hóa các mô hình sinh kế. Không chỉ phụ thuộc vào KCN. Phát triển các ngành nghề dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp tại địa phương. Khuyến khích nông dân khởi nghiệp với các ý tưởng sáng tạo. Cung cấp hỗ trợ về vốn, kỹ thuật và thị trường tiêu thụ. Điều này giúp họ tự chủ về kinh tế và tạo ra thu nhập ổn định lâu dài.

5.3. Hướng tới mục tiêu phát triển chung

Ổn định sinh kế nông dân là một phần quan trọng của phát triển bền vững. Nó đảm bảo công bằng xã hội. Giảm khoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm dân cư. Tạo sự hài hòa giữa phát triển công nghiệp và bảo tồn giá trị nông thôn. Nâng cao chất lượng cuộc sống cho toàn bộ cộng đồng. Các chính sách cần hướng đến mục tiêu này. Đồng thời, cần bảo vệ quyền lợi của người nông dân.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã đông mỹ thành phố thái bình tỉnh thái bình

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (128 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Nước ta là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân số sống ở nông thôn và gần 70% lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Khu vực nông thôn có 13 triệu hộ trong đó có khoảng 11 triệu hộ chuyên sản xuất nông nghiệp. Vì thế đảm bảo sinh kế bền vững cho hộ nông dân là vấn đề được quan tâm nhiều trong nông thôn khi mà hiện nay quá trình CNH - HĐH ngày càng diễn ra với tốc độ nhanh chóng. Ngay từ Đại hội Đảng VI (1986) Đảng và nhà nước ta đã chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, trong đó chú trọng phát triển công nghiệp.

Đến nay Việt Nam đã có khoảng trên 150 KCN tập trung với diện tích đất tự nhiên vào khoảng 30.000ha ở 45 tỉnh thành trong cả nước, thu hút hàng nghìn dự án với tổng số vốn đầu tư lên đến hàng trăm nghìn tỷ đồng. Quá trình phát triển KCN đã mang lại nhiều kết quả tốt, giúp nhiều địa phương có điều kiện phát triển công nghiệp, dịch vụ. Tuy nhiên cùng với đó là việc thu hồi đất sản xuất đã có tác động đến đời sống của hàng ngàn hộ gia đình. Các hộ bị thu hồi đất phần lớn là những hộ sản xuất nông nghiệp.

Sau khi bị thu hồi đất, có nhiều hộ đã được tạo điều kiện chuyển đổi sang các ngành nghề khác, nhưng cũng có rất nhiều hộ phải đối mặt với mất việc làm. Hàng năm có khoảng 50 – 60 nghìn ha đất nông nghiệp được chuyển sang mục đích phi nông nghiệp, tương ứng với khoảng 1.5 lao động/hộ bị mất việc làm.Việc thu hồi đất không chỉ làm các hộ nông dân mất đi tài sản sinh kế đặc biệt quan trọng là đất đai mà còn làm mất đi địa vị, các cơ hội, nguồn thực phẩm, thu nhập của hộ gia đình và cộng đồng, gây ra sự xáo trộn xã hội. Không còn hoặc còn rất ít đất sản xuất nông nghiệp, nông dân phải tìm cách kiếm sống mới. Với trình độ dân trí có hạn, quen lao động chân tay, người nông dân đã xoay xở như thế nào với cuộc sống mới? Có nhiều người phải đổ ra thành thị để kiếm việc làm và đối mặt với rủi ro của cuộc sống nơi đô thị, một số ít lao động trẻ được tuyển dụng vào làm việc trong khu công nghiệp, một số lao động tìm kiếm việc làm tại các địa phương khác hoặc mở các dịch vụ (mở quán nước, xây dựng nhà ở cho thuê.

Bên cạnh đó những nông dân không bị thu hồi đất 1 cũng bị tác động đến sản xuất của mình, một phần lao động trong gia đình chuyển sang làm việc trong nhà máy hoặc dịch vụ trong khu công nghiệp. Đảng và nhà nước ta cũng đã có nhiều biện pháp tác động nhằm ổn định đời sống cho người dân sau khi bị thu hồi đất như: Chính sách định cư, chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi nghề… Mặc dù thế vấn đề sinh kế của người dân mất đất sản xuất nông nghiệp còn gặp rất nhiều khó khăn. Như vậy, cùng với tốc độ hình thành các KCN thì số lao động nông nghiệp không còn đất sản xuất nông nghiệp hoặc còn quá ít đất sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng lên, trong số đó một số đã thích nghi được với điều kiện mới và đã tìm được việc làm đảm bảo cho cuộc sống, xây dựng mô hình sinh kế phù hợp với điều kiện của hộ, tăng thu nhập, song nhiều hộ lại vẫn đang thiếu việc làm, rất cần sự trợ giúp của các cấp, ngành và của địa phương để họ ổn định với cuộc sống mới. Xã Đông Mỹ là một xã nằm ven trung tâm thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình, có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội.

Theo quy hoạch của tỉnh Thái Bình năm 2007 đã thu hồi gần 14ha đất nông nghiệp của xã để xây dựng khu công nghiệp Gia Lễ. Gần 140 hộ nông dân bị thu hồi đất sản xuất. Có nhiều lao động được nhận vào làm việc trong nhà máy thuộc khu công nghiệp và cũng có nhiều lao động chỉ có việc làm tạm thời hoặc rơi vào cảnh thiếu việc làm. Họ phải đi làm thuê để kiếm sống hoặc mở quán nước.

Nhìn chung đời sống của họ cũng còn nhiều khó khăn. Vấn đề đặt ra là sau khi mất đất sinh kế của các hộ dân thay đổi như thế nào? Có đảm bảo cho cuộc sống hiện tại của họ hay không? Mức sống của họ thay đổi ra sao? Làm sao để ổn định đời sống, đảm bảo an sinh xã hội cho họ? Để trả lời những câu hỏi này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã Đông Mỹ - thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình” 1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp, đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bảo sinh kế cho hộ nông dân xã Đông Mỹ - thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình.2 Mục tiêu cụ thể 2 - Góp phần hệ thống hoá lý luận và thực tiễn về sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất để xây dựng KCN. - Đánh giá thực trạng sinh kế và kết quả sinh kế sau thu hồi đất của hộ nông dân xã Đông Mỹ - thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình. - Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo sinh kế cho hộ nông dân sau thu hồi đất.3 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hộ nông dân, nguồn lực sinh kế, các hoạt động tạo thu nhập, sự chuyển đổi nghề nghiệp sau khi mất ruộng, thu nhập và đời sống của các hộ dân xã Đông Mỹ sau thu hồi đất.4 Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất cho xây dựng khu công nghiệp tại xã Đông Mỹ.

Phân tích quá trình thay đổi sinh kế và các yếu tố ảnh hưởng tới sinh kế của người dân trong xã, từ đó đề xuất những giải pháp khắc phục và phát triển kinh tế hộ. - Phạm vi về không gian: Đề tài được nghiên cứu tại xã Đông Mỹ, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. - Phạm vi về thời gian: + Số liệu được thu thập qua 3 năm (2006 - 2008). + Thời gian thực hiện đề tài từ ngày 08/01/2009 đến ngày 22/5/2009.

3 PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 2.1 Khái niệm về khu công nghiệp Có nhiều khái niệm về khu công nghiệp, tuy nhiên có thể liệt kê một số khái niệm sau: KCN: là khu vực tập trung nhiều doanh nghiệp và cả xí nghiệp công nghiệp, doanh nghiệp phục vụ sản xuất và doanh nghiệp phục vụ khác. Có ranh giới địa lý xác định. Các doanh nghiệp trong KCN cùng xây dựng một hệ thống kỹ thuật hạ tầng và hạ tầng xã hội. KCN tập trung là một khu vực được xây dựng cho các xí nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ.

Trong đó có sẵn các khu nhà máy cũng như các dịch vụ và tiện nghi cho những người làm việc trong KCN sinh sống. Chức năng chủ yếu của KCN là sản xuất và cung cấp dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất. Trong những trường hợp cụ thể KCN có thể có khu dịch vụ công cộng, khu nhà ở… trong KCN có thể có khu chế xuất, khu kỹ thuật cao. Các KCN ở Việt Nam do Chính phủ quyết định thành lập và quản lý phát triển theo một quy chế riêng.

Có nhiều khái niệm về KCN - KCN là khu vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản xuất công nghiệp, đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ, kể cả dịch vụ sản xuất công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, văn phòng, nhà ở… Thực chất mô hình này là khu hành chính kinh tế đặc biệt như KCN Bata (Indonexia), các khu công viên công cộng ở khu vực lãnh thổ Đài Loan và một số nước Tây Âu. - KCN là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có cư dân sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất (theo quy chế KCN, ban hành theo quyết định 36/CP ngày 24/04/1997). 4 Như vậy KCN là một khu vực lãnh thổ hữu hạn được phân cách trong đường bao hữu hình hoặc vô hình.

Được phân bổ tập trung với hạt nhân là doanh nghiệp sản xuất công nghiệp (hay tiêu dùng, công nghệ chế biến, tư liệu sản xuất) và hệ thống doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ với doanh nghiệp dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. Các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và dịch vụ cho sản xuất công nghiệp sử dụng hạ tầng kỹ thuật và xã hội theo cơ chế tổ chức quản lý thống nhất của Ban quản lý KCN. Trong KCN có doanh nghiệp xây dựng KCN, có trách nhiệm đảm bảo hạ tầng kỹ thuật và xã hội của cả khu trong thời gian tồn tại KCN. Nguồn nhân lực chủ yếu là lao động trong nước và tại chỗ.

Được quản lý trực tiếp của Chính phủ (từ quyết định thành lập, quy hoạch tổng thể, khung điều lệ mẫu, kiểm tra, kiểm soát…). * Vai trò của xây dựng KCN + Thu hút vốn đầu tư trên quy mô lớn và phát triển kinh tế. + Thúc đẩy hoạt động xuất khẩu. + Tạo nhiều việc làm cho lao động.

Trong khi các nước đang phát triển dư thừa sức lao động thì tình trạng khan hiếm nguồn lao động và giá nhân công cao ở các nước tư bản phát triển đặt các nước này trước sự lựa chọn sử dụng lao động dồi dào ở các nước đang phát triển. Thực tiễn cho thấy, KCN là công cụ hữu hiệu thực hiện chiến lược lâu dài về tạo việc làm và chuyển đổi cơ cấu lao động cũng như sử dụng lao động một cách hiệu quả nhất ở các nước đang phát triển. + Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật. + Chuyển giao công nghệ mới.

Nhờ đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất sẽ nâng cao trình độ cũng như tay nghề cho công nhân, cán bộ kỹ thuật, và như vậy sẽ có một lực lượng lao động có tay nghề cao trong sản xuất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Sinh kế nông dân Thái Bình sau thu hồi đất làm KCN (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/kinh-te-nong-nghiep/sinh-ke-cua-ho-nong-dan-sau-thu-hoi-dat-san-xuat-nong-nghiep-de-xay-dung-khu

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Sinh kế nông dân Thái Bình sau thu hồi đất làm KCN" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án: Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã đông mỹ thành phố thái bình tỉnh thái bình.

Luận án "Sinh kế nông dân Thái Bình sau thu hồi đất làm KCN" có bao nhiêu trang?

Luận án "Sinh kế nông dân Thái Bình sau thu hồi đất làm KCN" có 128 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Sinh kế nông dân Thái Bình sau thu hồi đất làm KCN" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter