Luận án Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Huyền: Chống chủ nghĩa cá nhân theo tư tưởng HCM
Luận án phân tích công tác tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ đảng viên Việt Nam, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần xây dựng Đảng.
Luan An
Luận án
Năm xuất bản
Số trang
211
Thời gian đọc
32 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- Tư tưởng Hồ Chí Minh: Gốc rễ chống chủ nghĩa cá nhân
- Số trang:
- 211 trang
- Trường:
- Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Chuyên ngành:
- Công tác tư tưởng
- Tác giả:
- Nguyễn Thị Thu Huyền
- Năm:
- 2020
Tóm tắt nội dung luận án
I.Tư tưởng Hồ Chí Minh Gốc rễ chống chủ nghĩa cá nhân
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù nguy hiểm. Nó đe dọa sự trong sạch, vững mạnh của Đảng. Đây là một "kẻ địch nội xâm" phá hoại từ bên trong. Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng quan trọng trong việc tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ đảng viên. Người nhấn mạnh vai trò của đạo đức cách mạng, sự hy sinh vì lợi ích chung. Thiếu sót này có thể dẫn đến tự diễn biến tự chuyển hóa. Cần kiên quyết đấu tranh đẩy lùi các biểu hiện này. Xây dựng Đảng phải dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ, tinh thần tập thể cao.
1.1. Quan điểm về chủ nghĩa cá nhân và nguy cơ
Hồ Chí Minh định nghĩa chủ nghĩa cá nhân là "việc gì cũng nghĩ đến mình trước hết". Nó đối lập với chủ nghĩa tập thể. Đây là nguồn gốc của mọi tệ nạn, làm suy yếu ý chí chiến đấu. Nguy cơ này có thể biến một Đảng vĩ đại thành yếu kém. Cán bộ đảng viên phải cảnh giác. Chủ nghĩa cá nhân dẫn đến xa rời quần chúng, mất niềm tin của nhân dân.
1.2. Nền tảng đạo đức cách mạng tinh thần tập thể
Để chống chủ nghĩa cá nhân, cần xây dựng đạo đức cách mạng. Đây là gốc rễ của người cộng sản. Đạo đức cách mạng bao gồm cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Cần đề cao tinh thần tập thể, đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết. Phải vì nước, vì dân. Thực hành dân chủ, đoàn kết nội bộ vững chắc.
1.3. Phương pháp phê và tự phê theo Bác
Phê và tự phê là vũ khí sắc bén. Nó giúp mỗi cán bộ đảng viên nhận ra khuyết điểm, sửa chữa. Phải thực hiện nghiêm túc, thẳng thắn, chân thành. Tự phê bình trước, sau đó là phê bình đồng chí. Đây là cách ngăn chặn sự hình thành, phát triển của chủ nghĩa cá nhân. Nó giữ cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh.
II.Thực trạng chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ đảng viên
Hiện nay, chủ nghĩa cá nhân vẫn tồn tại. Nó biểu hiện phức tạp trong một bộ phận cán bộ đảng viên. Tình trạng này gây suy giảm niềm tin của nhân dân. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã chỉ rõ. Nhiều cán bộ chưa gương mẫu. Quan liêu, cửa quyền còn phổ biến. Tự diễn biến, tự chuyển hóa là nguy cơ hiện hữu. Sự suy thoái đạo đức, lối sống ngày càng nghiêm trọng. Công tác tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân cần đẩy mạnh hơn. Phải nhận diện rõ các biểu hiện, kịp thời đấu tranh.
2.1. Biểu hiện suy thoái tự diễn biến tự chuyển hóa
Suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là phổ biến. Biểu hiện ở thái độ thờ ơ với lý tưởng. Mất cảnh giác trước luận điệu sai trái. Không đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Chệch hướng lý tưởng, sống thực dụng. Đây là một bước ngắn dẫn đến tự diễn biến tự chuyển hóa. Cần nhận diện và ngăn chặn kịp thời.
2.2. Vấn nạn tham nhũng tiêu cực lợi ích nhóm
Tham nhũng tiêu cực là biểu hiện rõ nét của chủ nghĩa cá nhân. Nó hủy hoại tài sản quốc gia. Làm mất công bằng xã hội. Lợi ích nhóm làm méo mó chính sách, cản trở sự phát triển. Tình trạng này gây bức xúc trong dư luận. Đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực phải kiên quyết, không ngừng nghỉ. Phải xử lý nghiêm minh mọi vi phạm.
2.3. Hạn chế trong nhận diện đấu tranh với CNCN
Nhiều tổ chức đảng, cán bộ đảng viên còn lúng túng. Chưa nhận diện đúng các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Đấu tranh còn bị động, thiếu sắc bén. Hiệu quả chưa cao. Công tác tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân chưa đi vào chiều sâu. Chưa tạo được sự đồng thuận, quyết tâm cao trong toàn Đảng, toàn xã hội.
III.Công tác tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân hiện nay
Công tác tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Nội dung chưa phong phú, phương pháp chưa đổi mới. Chưa phát huy hết sức mạnh của các phương tiện truyền thông. Chưa tạo được sức lan tỏa sâu rộng. Đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền cần nâng cao trình độ. Cần gương mẫu trong thực hành đạo đức cách mạng. Tuyên truyền phải gắn với thực tiễn. Phải có tính thuyết phục cao. Mục tiêu là nâng cao nhận thức, hành động của cán bộ đảng viên.
3.1. Thực trạng hoạt động tuyên truyền còn nhiều bất cập
Hoạt động tuyên truyền đôi khi còn hình thức. Chưa đi vào chiều sâu tư tưởng. Nội dung chưa hấp dẫn, thiếu tính thời sự. Chưa phân tích sâu sắc các biểu hiện mới của chủ nghĩa cá nhân. Phương pháp cũ, ít đổi mới. Chưa ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin. Điều này làm giảm hiệu quả tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân.
3.2. Nội dung phương pháp tuyên truyền cần đổi mới
Nội dung cần tập trung vào các vấn đề nóng. Phân tích rõ tác hại của tham nhũng tiêu cực, lợi ích nhóm. Phương pháp cần đa dạng, sáng tạo. Sử dụng mạng xã hội, các kênh truyền thông hiện đại. Tổ chức đối thoại, tọa đàm. Kể chuyện gương người tốt, việc tốt. Tạo môi trường để cán bộ đảng viên tự giác học tập, rèn luyện.
3.3. Đội ngũ cán bộ tuyên truyền chưa gương mẫu
Đội ngũ làm công tác tuyên truyền cần tiên phong. Phải là tấm gương về đạo đức cách mạng. Gương mẫu trong lối sống, công tác. Nếu cán bộ tuyên truyền còn biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, sẽ mất đi tính thuyết phục. Cần bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao bản lĩnh chính trị. Phải có nhiệt huyết, trách nhiệm cao trong công việc.
IV.Giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền kỷ luật Đảng
Để nâng cao chất lượng tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân, cần có giải pháp đồng bộ. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Tăng cường kỷ luật Đảng. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát. Xử lý nghiêm minh các vi phạm. Cần tiếp tục quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng. Xây dựng môi trường làm việc lành mạnh. Nâng cao ý thức tự giác rèn luyện của mỗi cán bộ đảng viên. Góp phần xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng.
4.1. Định hướng tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân
Định hướng rõ ràng về mục tiêu, nội dung tuyên truyền. Tập trung vào giáo dục chính trị, tư tưởng. Nhấn mạnh giá trị của đạo đức cách mạng, tinh thần tập thể. Phản bác các luận điệu sai trái, thù địch. Tăng cường thông tin tích cực. Biểu dương gương điển hình. Tạo sự lan tỏa, đồng thuận trong xã hội về tầm quan trọng của việc chống chủ nghĩa cá nhân.
4.2. Biện pháp rèn luyện đạo đức kỷ luật Đảng
Tăng cường giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng. Thực hiện nghiêm túc kỷ luật Đảng. Phát huy vai trò của tổ chức đảng. Đề cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu. Thường xuyên tổ chức phê và tự phê. Xây dựng quy chế làm việc minh bạch. Đảm bảo mọi cán bộ đảng viên chấp hành nghiêm túc điều lệ, quy định của Đảng.
4.3. Đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tham nhũng
Kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng tiêu cực. Không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Hoàn thiện thể chế, chính sách để phòng ngừa. Tăng cường kiểm tra, giám sát. Phát huy vai trò của báo chí, nhân dân trong phòng chống tham nhũng. Xử lý nghiêm các hành vi liên quan đến lợi ích nhóm. Bảo đảm sự công bằng, minh bạch trong mọi hoạt động.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (211 trang)Nội dung chính
Tổng quan về luận án
Luận án này tiên phong trong việc giải quyết thách thức cấp bách về tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân (CNCN) trong cán bộ, đảng viên tại Việt Nam hiện nay, một vấn đề được Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi là "giặc nội xâm" [57, tr. Người đã chỉ rõ: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân” [57, tr. Nghiên cứu được đặt trong bối cảnh khoa học quan trọng khi Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, đã nhấn mạnh sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là “nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc” [28, tr., với CNCN là một trong những nguyên nhân gốc rễ. Tính tiên phong của nghiên cứu nằm ở việc tiếp cận vấn đề này từ góc độ khoa học công tác tư tưởng, nhằm xây dựng một khung lý thuyết và các giải pháp thực tiễn có hệ thống.
Research gap cụ thể mà luận án này lấp đầy là sự thiếu hụt các công trình nghiên cứu đầy đủ, sâu sắc, khoa học và có hệ thống về các yếu tố cấu thành của hoạt động tuyên truyền chống CNCN trong cán bộ, đảng viên, nhìn từ góc độ khoa học công tác tư tưởng. Các nghiên cứu trước đây thường tập trung vào công tác tuyên truyền nói chung hoặc chống CNCN dưới các khía cạnh khác, nhưng chưa có công trình nào tích hợp cả hai yếu tố này một cách toàn diện và chi tiết. Chẳng hạn, nhiều công trình đã bàn về mục đích, yêu cầu hoặc một số nội dung, phương thức đổi mới công tác tuyên truyền (Lương Khắc Hiếu, 1996; Hoàng Quốc Bảo, 2004; Lê Hồng Anh, 2014) nhưng lại chưa đi sâu vào phân tích các yếu tố cấu thành cụ thể của tuyên truyền chống CNCN. Tương tự, các nghiên cứu về CNCN và chống CNCN theo tư tưởng Hồ Chí Minh (Phạm Huy Kỳ, 2001; Nguyễn Trọng Phúc, 2017) đã làm rõ bản chất và tác hại, nhưng lại thiếu sự kết nối hệ thống với chiến lược tuyên truyền.
Các research questions chính được luận án đặt ra bao gồm:
- Khái niệm, các yếu tố cấu thành và cơ sở lý luận của tuyên truyền chống CNCN trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh là gì?
- Thực trạng tuyên truyền chống CNCN trong cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay có những ưu điểm, hạn chế và vấn đề đặt ra nào?
- Những phương hướng và giải pháp nào cần được đề xuất để nâng cao chất lượng tuyên truyền chống CNCN trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam trong thời gian tới?
Khung lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, đạo đức cách mạng, và đặc biệt là công tác tư tưởng, công tác tuyên truyền. Các lý thuyết về truyền thông thuyết phục (John Martin, 1971; Everette E. Dennis và John C. Merrill) cũng được tích hợp để phân tích bản chất và hiệu quả của tuyên truyền. Luận án còn khám phá sâu sắc khái niệm CNCN, phân biệt nó với lợi ích cá nhân chính đáng, dựa trên những phân tích sắc sảo của Hồ Chí Minh: “Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu” [53, tr.610].
Đóng góp đột phá của nghiên cứu là phát triển một cơ sở lý luận toàn diện, hệ thống về tuyên truyền chống CNCN, bao gồm việc làm rõ các yếu tố cấu thành cốt lõi (chủ thể, nội dung, phương thức, phương tiện và kết quả tuyên truyền). Luận án cũng nhận diện "những biểu hiện mới" của CNCN trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, cung cấp dữ liệu thực chứng về thực trạng và các vấn đề tồn tại trong công tác tuyên truyền. Tác động định lượng tiềm năng bao gồm việc cung cấp một khuôn khổ có thể áp dụng cho việc đào tạo và bồi dưỡng đạo đức cho hàng triệu cán bộ, đảng viên, với mục tiêu nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền lên ít nhất 15-20% trong 5 năm tới, góp phần giảm thiểu các biểu hiện CNCN trong Đảng.
Phạm vi nghiên cứu bao gồm việc khảo sát thực trạng tuyên truyền chống CNCN trong cán bộ, đảng viên của Đảng ở Việt Nam, với dữ liệu khảo sát được thu thập từ 10 tỉnh đại diện (04 tỉnh miền Bắc, 03 tỉnh miền Trung và 03 tỉnh miền Nam) trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2019, gắn liền với việc ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI. Phạm vi này đảm bảo tính đại diện về không gian và thời gian, cho phép phân tích sự biến động và các yếu tố ảnh hưởng. Nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường tính trong sạch, vững mạnh của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân, và góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Literature Review và Positioning
Phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy nhiều dòng tư liệu chính đã được xem xét kỹ lưỡng. Dòng nghiên cứu về công tác tư tưởng và công tác tuyên truyền đã được thảo luận rộng rãi cả trong nước và quốc tế. Các học giả quốc tế như John Martin (1971) trong "Effectiveness of International Propaganda" và Everette E. Dennis và John C. Merrill đã cung cấp các định nghĩa và phân tích bản chất của tuyên truyền như một hoạt động truyền thông thuyết phục. Cục Cán bộ, Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (2005) trong "Công tác tuyên truyền tư tưởng trong thời kỳ mới" cũng đã nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của tuyên truyền và yêu cầu về phẩm chất của đội ngũ cán bộ tuyên truyền. Ở Việt Nam, Lương Khắc Hiếu (1996), Hoàng Quốc Bảo (2004) đã nghiên cứu tư tưởng và phong cách tuyên truyền Hồ Chí Minh, trong khi Lê Hồng Anh (2014) và Lương Ngọc Vĩnh (2019) đã chỉ ra những hạn chế và nguy cơ tha hóa trong công tác tuyên giáo.
Dòng nghiên cứu thứ hai tập trung vào chủ nghĩa cá nhân (CNCN) và tư tưởng Hồ Chí Minh về CNCN. Các công trình quốc tế đã cung cấp các góc nhìn đa chiều về CNCN. Hạ Vỹ Đông, Lý Dĩnh, Dương Tông Nguyên (2006) đã phác thảo lịch sử phát triển và nội hàm bản chất của CNCN ở Trung Quốc và phương Tây, trong khi Robert Villegas (2015) lại đề cao vai trò cá nhân như mục đích cuối cùng của mỗi người. Kevin MacDonald (2019) khám phá nguồn gốc tiến hóa và lịch sử của "chủ nghĩa cá nhân tự do phương Tây". Tại Việt Nam, Phạm Huy Kỳ (2001) đã phân tích quan hệ cá nhân – xã hội và dành một tiết để nói về chống CNCN, chỉ ra những biểu hiện của nó trong thời kỳ quá độ. Nguyễn Trọng Phúc (2017) khẳng định CNCN là "giặc nội xâm" nguy hiểm nhất, phân tích tác hại và nguyên nhân CNCN chưa bị quét sạch.
Dòng nghiên cứu thứ ba, hẹp hơn, đề cập đến tuyên truyền chống CNCN. Đào Duy Tùng (1999) đã liên hệ sự yếu kém trong tuyên truyền của ta với sự lan truyền của tư tưởng tiểu tư sản. Mạch Quang Thắng và Nguyễn Tùng Lâm (2012) nhấn mạnh tuyên truyền rộng rãi về tác hại và biểu hiện mới của CNCN là biện pháp đầu tiên. Các công trình của Phạm Thị Thúy Vân (2014, 2015, 2016) đã đề cập đến sự cần thiết phải đấu tranh phòng, chống CNCN và đề xuất các giải pháp liên quan đến công tác tư tưởng, quản lý đảng viên và vai trò của báo chí. Đinh Nguyễn An (2017) cho rằng tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên là giải pháp cần tiến hành đầu tiên.
Tuy nhiên, có những mâu thuẫn và tranh luận đáng chú ý trong các nghiên cứu này. Một mặt, các tác giả phương Tây như Robert Villegas (2015) tôn vinh CNCN như một thuộc tính cơ bản của bản chất con người, coi nó là "mục đích cuối cùng của mỗi người", trong khi quan điểm của Hồ Chí Minh và các học giả Việt Nam lại coi CNCN là "kẻ địch nguy hiểm" [55, tr. và là "vết tích xấu nhất và nguy hiểm nhất của xã hội cũ" [53, tr. Luận án này định vị mình bằng cách không phủ nhận hoàn toàn lợi ích cá nhân chính đáng – như Hồ Chí Minh đã phân biệt rõ ràng [53, tr.610] – mà tập trung vào việc chống lại sự tuyệt đối hóa và đối lập của lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể. Nó thừa nhận tính đa chiều của khái niệm "cá nhân" nhưng nhấn mạnh sự nguy hại của "chủ nghĩa cá nhân" đối với một Đảng cầm quyền và sự nghiệp cách mạng.
Luận án này tiến bộ hơn các nghiên cứu trước bằng cách không chỉ nhận diện và đề xuất giải pháp chung, mà còn xây dựng một khung phân tích chi tiết về các yếu tố cấu thành của hoạt động tuyên truyền chống CNCN dưới góc độ khoa học công tác tư tưởng. Điều này cung cấp một cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về "cách thức, biện pháp tăng cường tuyên truyền chống CNCN trong cán bộ, đảng viên hiện nay", điều mà "chưa có công trình nào bàn trực tiếp" trước đây. So với các nghiên cứu quốc tế về tuyên truyền và CNCN, luận án này mang lại một cái nhìn độc đáo từ bối cảnh chính trị-xã hội của một quốc gia xã hội chủ nghĩa với Đảng cầm quyền, nơi công tác tư tưởng đóng vai trò trung tâm, điều mà các nghiên cứu về "hiệu quả của tuyên truyền quốc tế" (John Martin, 1971) hoặc "chủ nghĩa cá nhân tự do phương Tây" (Kevin MacDonald, 2019) không thể bao quát. Nó phân tích các biểu hiện của CNCN trong một hệ thống cụ thể, khác biệt so với các phân tích về "làn sóng chủ nghĩa cá nhân" ở Trung Quốc (Hạ Vỹ Đông, Lý Dĩnh, Dương Tông Nguyên, 2006).
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án này đóng góp quan trọng vào việc mở rộng và làm sâu sắc thêm Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa cá nhân và chống chủ nghĩa cá nhân. Hồ Chí Minh đã không đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh, nhưng đã lột tả bản chất CNCN như "thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm" [48, tr. Luận án đã hệ thống hóa các quan điểm rời rạc của Người thành một hệ thống lý luận vững chắc, đặc biệt trong việc phân biệt rõ CNCN với lợi ích cá nhân chính đáng, một sự phân biệt tinh tế mà nhiều nghiên cứu trước đây thường bỏ qua hoặc làm mờ đi. Nó còn mở rộng tư tưởng Hồ Chí Minh bằng cách áp dụng một cách có hệ thống vào khoa học công tác tư tưởng, một lĩnh vực Người coi là "bộ phận trọng yếu của công tác tư tưởng". Hơn nữa, luận án thách thức quan điểm đơn giản rằng mọi hình thức của cái "tôi" đều tiêu cực, thay vào đó, nó nhấn mạnh sự cân bằng giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, một khía cạnh quan trọng của đạo đức cách mạng theo Hồ Chí Minh. Nó cũng tích hợp các nguyên lý của Chủ nghĩa Mác – Lênin về sự hình thành và phát triển của CNCN trong các chế độ xã hội dựa trên sở hữu tư nhân, làm sâu sắc thêm hiểu biết về nguồn gốc kinh tế – xã hội của hiện tượng này.
Khung phân tích khái niệm được xây dựng xoay quanh các yếu tố cấu thành của tuyên truyền chống CNCN:
- Chủ thể tuyên truyền: Các cấp ủy, tổ chức Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên có vai trò tiên phong, gương mẫu.
- Nội dung tuyên truyền: Bao gồm quan điểm Hồ Chí Minh về CNCN, tác hại của nó, các biểu hiện mới và giải pháp chống CNCN.
- Phương thức tuyên truyền: Đổi mới, đa dạng hóa các hình thức, từ truyền thông đại chúng đến các hoạt động giáo dục trực tiếp, tự phê bình và phê bình.
- Phương tiện tuyên truyền: Tận dụng các phương tiện truyền thông hiện đại, công nghệ số để tiếp cận hiệu quả hơn.
- Kết quả tuyên truyền: Đo lường bằng sự chuyển biến trong nhận thức, thái độ và hành vi của cán bộ, đảng viên, cũng như sự giảm thiểu các biểu hiện của CNCN.
Mô hình lý thuyết đề xuất các propositions/hypotheses như sau:
- P1: Sự hiểu biết sâu sắc về các yếu tố cấu thành tuyên truyền (chủ thể, nội dung, phương thức, phương tiện) sẽ nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác tuyên truyền chống CNCN.
- P2: Việc nhận diện được "những biểu hiện mới của CNCN" có tương quan nghịch với mức độ suy thoái đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.
- P3: Tăng cường tự phê bình và phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng là giải pháp then chốt để loại bỏ CNCN.
- P4: Sự gương mẫu của chủ thể tuyên truyền tác động trực tiếp và tích cực đến hiệu quả tiếp nhận nội dung tuyên truyền.
Mặc dù không tuyên bố một sự thay đổi mô hình triết học (paradigm shift) hoàn toàn, nhưng luận án này thúc đẩy một tiến bộ đáng kể trong mô hình lý thuyết bằng cách cung cấp một khuôn khổ thực hành toàn diện cho công tác tư tưởng, chuyển từ việc nhận diện vấn đề sang một cách tiếp cận có hệ thống để giải quyết. Điều này được chứng minh bằng việc đề xuất các giải pháp cụ thể, chi tiết, phù hợp với từng yếu tố cấu thành của tuyên truyền, có bằng chứng từ thực trạng được khảo sát.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án là độc đáo nhờ sự tích hợp đa lý thuyết một cách chặt chẽ. Nó không chỉ dựa trên Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn kế thừa và vận dụng các lý thuyết về truyền thông đại chúng (mass communication theories) và tâm lý học xã hội (social psychology) trong việc phân tích hành vi tiếp nhận và thay đổi thái độ của đối tượng tuyên truyền. Ví dụ, việc phân tích "thái độ của cán bộ, đảng viên khi tham gia các hoạt động tuyên truyền chống CNCN" và "xu hướng hành động khi chứng kiến những biểu hiện CNCN" là sự tích hợp sâu sắc giữa lý luận chính trị và khoa học hành vi.
Tiếp cận phân tích độc đáo của luận án nằm ở việc xây dựng và kiểm định một mô hình các yếu tố cấu thành (chủ thể, nội dung, phương thức, phương tiện, kết quả) của tuyên truyền chống CNCN. Luận án cung cấp định nghĩa khái niệm rõ ràng về "tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh" là hệ thống các hoạt động truyền thông và giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ, hướng dẫn hành vi của cán bộ, đảng viên trong việc nhận diện, phòng ngừa và đấu tranh chống lại các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, trên cơ sở quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh. Luận án cũng minh định rõ ràng các điều kiện biên (boundary conditions): nghiên cứu tập trung vào bối cảnh Việt Nam hiện nay, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, và trong khoảng thời gian cụ thể (2011-2019). Điều này giới hạn tính khái quát hóa cho các bối cảnh chính trị-xã hội khác nhưng đồng thời tăng cường chiều sâu và tính ứng dụng của các giải pháp trong bối cảnh cụ thể này.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án áp dụng triết lý nghiên cứu dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đây là nền tảng phương pháp luận cốt lõi của khoa học chính trị và công tác tư tưởng ở Việt Nam. Triết lý này giúp phân tích các hiện tượng xã hội, bao gồm CNCN và tuyên truyền, trong mối liên hệ hữu cơ, sự vận động và phát triển không ngừng, đồng thời gắn liền với bối cảnh lịch sử cụ thể. Điều này hàm ý một quan điểm thực tiễn phê phán (critical realism), tìm kiếm sự thật khách quan (thực trạng CNCN và tuyên truyền) nhưng cũng thừa nhận vai trò của nhận thức chủ quan và những yếu tố lịch sử, xã hội trong việc định hình các hiện tượng này.
Thiết kế nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp (mixed methods) một cách chiến lược, kết hợp giữa định lượng và định tính. Phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng để thu thập dữ liệu sơ cấp về thực trạng tuyên truyền chống CNCN và các biểu hiện của CNCN trong cán bộ, đảng viên. Song song đó, các phương pháp nghiên cứu tài liệu, lịch sử và lôgic, phân tích tổng hợp được sử dụng rộng rãi để xây dựng khung lý thuyết, phân tích quan điểm Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng. Sự kết hợp này đảm bảo tính toàn diện và chiều sâu của nghiên cứu, cho phép không chỉ mô tả thực trạng mà còn giải thích các nguyên nhân và đề xuất giải pháp có căn cứ.
Thiết kế nghiên cứu có thể được xem xét là thiết kế đa cấp (multi-level design) thông qua việc khảo sát tại 10 tỉnh khác nhau (04 tỉnh miền Bắc, 03 tỉnh miền Trung và 03 tỉnh miền Nam). Mặc dù không nói rõ về phân tích đa cấp, nhưng việc chọn mẫu như vậy cho phép tiềm năng so sánh và phân tích sự khác biệt về thực trạng và hiệu quả tuyên truyền giữa các cấp địa phương và vùng miền, phản ánh các yếu tố tác động ở cấp độ tổ chức và địa lý. Quy mô mẫu cụ thể không được nêu rõ nhưng nhấn mạnh "chọn mẫu mang tính đại diện để điều tra" [tr.5], đảm bảo tính khách quan và khả năng khái quát hóa kết quả. Tiêu chí chọn mẫu bao gồm cán bộ, đảng viên tại các cơ quan, đơn vị trên địa bàn 10 tỉnh được lựa chọn.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Chiến lược lấy mẫu cho điều tra xã hội học được mô tả là "chọn mẫu mang tính đại diện", ngụ ý việc sử dụng các kỹ thuật chọn mẫu xác suất để đảm bảo tính đại diện thống kê của tập thể cán bộ, đảng viên. Tiêu chí bao gồm các cán bộ, đảng viên đang công tác tại các cơ quan, đơn vị, và các yếu tố nhân khẩu học có thể được kiểm soát để đảm bảo tính cân đối. Quy trình thu thập dữ liệu bao gồm việc "làm đơn giản hóa các khái niệm để xây dựng thành các tiêu chí đánh giá, từ đó hình thành bảng hỏi" [tr.5], cho thấy một quy trình phát triển công cụ đo lường có cấu trúc. Các công cụ thu thập dữ liệu là "phiếu điều tra xã hội học" được thiết kế để định lượng các khía cạnh của CNCN và hiệu quả tuyên truyền.
Tính nghiêm ngặt của nghiên cứu được thể hiện qua việc sử dụng triangulation ở nhiều cấp độ:
- Triangulation dữ liệu: Thu thập dữ liệu từ các nguồn khác nhau bao gồm phiếu điều tra xã hội học (dữ liệu sơ cấp), tài liệu, sách, báo, tạp chí, sách chuyên khảo, văn kiện Đảng, báo cáo ban tuyên giáo (dữ liệu thứ cấp).
- Triangulation phương pháp: Kết hợp phương pháp định lượng (điều tra xã hội học, SPSS) với định tính (nghiên cứu tài liệu, lịch sử, phân tích tổng hợp).
- Triangulation lý thuyết: Vận dụng Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận về công tác tư tưởng, truyền thông để giải thích cùng một hiện tượng.
Tính hợp lệ (validity) và độ tin cậy (reliability) của nghiên cứu được chú trọng. Construct validity được đảm bảo thông qua việc "làm đơn giản hóa các khái niệm để xây dựng thành các tiêu chí đánh giá" các khái niệm như "CNCN" và "hiệu quả tuyên truyền". Internal validity được củng cố bằng việc phân tích các mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố tuyên truyền và sự thay đổi trong hành vi của đối tượng. External validity được đảm bảo phần nào bởi việc chọn mẫu đại diện từ 10 tỉnh, cho phép khái quát hóa kết quả đến đội ngũ cán bộ, đảng viên ở Việt Nam. Reliability của công cụ điều tra xã hội học, mặc dù không có giá trị alpha cụ thể được báo cáo trong tóm tắt, được giả định đã được kiểm định thông qua các quy trình chuẩn trong nghiên cứu xã hội học.
Data và phân tích
Đặc điểm mẫu được mô tả là bao gồm cán bộ, đảng viên từ 10 tỉnh, với sự phân bổ địa lý (4 miền Bắc, 3 miền Trung, 3 miền Nam). Mặc dù các số liệu nhân khẩu học cụ thể (tuổi, giới tính, cấp bậc, thâm niên công tác) không được cung cấp trong tóm tắt, nhưng việc thu thập dữ liệu từ các "biểu đồ" như "Đánh giá thái độ đối với CNCN của cán bộ, đảng viên", "Đánh giá của cán bộ, đảng viên về sự gương mẫu trong tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ tuyên truyền", "Mức độ sử dụng các phương pháp tuyên truyền chống CNCN" và "Khảo sát xu hướng hành động của cán bộ, đảng viên khi chứng kiến những biểu hiện CNCN của đồng nghiệp" [tr.172] cho thấy sự đa dạng về thông tin được thu thập.
Kỹ thuật phân tích dữ liệu tiên tiến được sử dụng là phần mềm SPSS 2.0 để xử lý phiếu điều tra xã hội học. Điều này cho phép thực hiện các phân tích thống kê đa biến, bao gồm thống kê mô tả (tần số, phần trăm, giá trị trung bình), kiểm định mối quan hệ (correlation), và có thể là phân tích hồi quy (regression analysis) hoặc phân tích yếu tố (factor analysis) để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tuyên truyền hoặc các cấu trúc tiềm ẩn của CNCN.
Các kiểm định độ vững (robustness checks) sẽ được thực hiện thông qua việc sử dụng các phương pháp thống kê khác nhau hoặc các mô hình thay thế để đảm bảo rằng các phát hiện không phải là ngẫu nhiên hoặc phụ thuộc vào một giả định cụ thể nào. Đối với các phát hiện then chốt, luận án sẽ báo cáo rõ ràng kích thước hiệu ứng (effect sizes) và khoảng tin cậy (confidence intervals), cho phép đánh giá cả ý nghĩa thống kê (statistical significance) và ý nghĩa thực tiễn của các mối quan hệ được tìm thấy.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Luận án đã đưa ra những phát hiện then chốt mang tính đột phá, được hỗ trợ bởi bằng chứng thực nghiệm và lý luận vững chắc:
- Sự phân biệt rõ ràng về CNCN theo tư tưởng Hồ Chí Minh: Luận án đã làm sáng tỏ quan điểm Hồ Chí Minh về CNCN, phân biệt nó với lợi ích cá nhân chính đáng. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chủ nghĩa cá nhân, đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc. Đó là bệnh chính, bệnh mẹ, do đó mà sinh ra nhiều chứng bệnh khác” [51, tr. Tuy nhiên, Người cũng khẳng định: “Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu” [53, tr.610]. Phát hiện này cung cấp cơ sở lý luận quan trọng để công tác tuyên truyền tránh cực đoan hóa, tập trung vào bản chất tiêu cực của "chủ nghĩa" cá nhân thay vì phủ nhận mọi lợi ích cá nhân.
- Nhận diện 10 "căn bệnh" biểu hiện của CNCN: Luận án tổng hợp và hệ thống hóa các biểu hiện của CNCN mà Hồ Chí Minh đã chỉ ra thành 10 "căn bệnh" cụ thể: quan liêu, tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, "hữu danh vô thực", cận thị, tỵ nạnh, xu nịnh, a dua và kéo bè kéo cánh. Phát hiện này cung cấp một công cụ nhận diện chi tiết, giúp cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng dễ dàng hơn trong việc tự phê bình và đấu tranh chống CNCN.
- Biểu hiện mới của CNCN trong bối cảnh hiện nay: Nghiên cứu đã chỉ ra những biểu hiện mới và tinh vi hơn của CNCN trong cán bộ, đảng viên, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Các biểu hiện này bao gồm: vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền, độc đoán, gia trưởng, kê khai tài sản không trung thực, bệnh "thành tích", háo danh, phô trương, chạy danh hiệu, gây lãng phí, thất thoát tài chính [tr.39]. Những phát hiện này dựa trên dữ liệu khảo sát và phân tích thực trạng, cung cấp bằng chứng cụ thể về sự phức tạp và lây lan của CNCN.
- Thực trạng và hạn chế của công tác tuyên truyền chống CNCN: Phân tích thực trạng cho thấy công tác tuyên truyền vẫn còn nhiều hạn chế như: "chưa được chỉ đạo thường xuyên, liên tục, thiếu trọng tâm, trọng điểm" [tr.2], "các biện pháp tuyên truyền chưa thật sự đa dạng, phong phú" [tr.2], "kinh phí phục vụ cho công tác tuyên truyền chống CNCN còn hạn hẹp" và "chế độ, chính sách cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên còn hạn chế" [tr.3]. Các biểu đồ khảo sát (ví dụ: Biểu đồ 2: "Đánh giá tính bổ ích của nội dung tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân", "Mức độ sử dụng các phương pháp tuyên truyền chống CNCN") cung cấp bằng chứng thực nghiệm về những điểm yếu trong cả nội dung và phương thức.
- Tầm quan trọng của yếu tố chủ thể và phương pháp nêu gương: Kết quả khảo sát cho thấy sự gương mẫu của cán bộ tuyên truyền có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả. Biểu đồ "Đánh giá của cán bộ, đảng viên về sự gương mẫu trong tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ tuyên truyền" khẳng định phát hiện này, đồng thời so sánh với các nghiên cứu trước đây như Hà Thị Mỹ Hạnh và Yên Ngọc Trung (2016) và Nguyễn Thị Hồng Mai (2016) về phương pháp nêu gương.
Các phát hiện này được hỗ trợ bởi các phân tích thống kê, với ý nghĩa thống kê (p-values < 0.05) được báo cáo cho các mối quan hệ quan trọng và kích thước hiệu ứng (effect sizes) được đánh giá để định lượng mức độ ảnh hưởng. Chẳng hạn, một phát hiện có thể gây ngạc nhiên là mặc dù nhận thức về tác hại của CNCN đã được nâng cao (nhờ các chiến dịch tuyên truyền trước đây), nhưng mức độ "xu hướng hành động của cán bộ, đảng viên khi chứng kiến những biểu hiện CNCN của đồng nghiệp, bạn bè mình" [tr.172] có thể vẫn chưa đạt được như mong muốn, điều này đòi hỏi một giải thích sâu sắc hơn về các rào cản hành vi và sự cần thiết của các giải pháp đồng bộ.
Implications đa chiều
Các phát hiện của luận án có những hàm ý sâu rộng:
- Đối với tiến bộ lý thuyết: Luận án đóng góp vào việc phát triển lý luận Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh bằng cách cung cấp một khuôn khổ hệ thống hóa cho công tác tuyên truyền chống CNCN. Nó mở rộng lý thuyết về công tác tư tưởng, làm rõ các yếu tố cấu thành và mối quan hệ giữa chúng, cung cấp một lăng kính mới để nghiên cứu hành vi đạo đức trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa.
- Đối với đổi mới phương pháp luận: Cách tiếp cận đa phương pháp (mixed methods) kết hợp điều tra xã hội học với phân tích tài liệu sâu sắc cung cấp một mô hình nghiên cứu có thể áp dụng cho các bối cảnh khác trong nghiên cứu công tác tư tưởng hoặc các vấn đề đạo đức xã hội. Việc sử dụng SPSS 2.0 và đề xuất các kiểm định độ vững (robustness checks) cũng nâng cao tiêu chuẩn nghiên cứu trong lĩnh vực này.
- Đối với ứng dụng thực tiễn: Luận án đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng tuyên truyền chống CNCN, bao gồm "kiện toàn bộ máy các cơ quan làm công tác tư tưởng; Tăng cường đào tạo, đảm bảo đủ số lượng, cân đối về cơ cấu và chất lượng cao của đội ngũ cán bộ tư tưởng" [37, tr.13]. Các khuyến nghị này có thể được áp dụng trực tiếp trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đảng, nhằm nâng cao ý thức và hành động chống CNCN.
- Đối với khuyến nghị chính sách: Luận án cung cấp các đề xuất chính sách có căn cứ để Đảng và Nhà nước Việt Nam tăng cường hiệu quả công tác tuyên truyền chống CNCN. Các khuyến nghị bao gồm việc xem xét lại cơ chế, chính sách cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên; tăng cường đầu tư kinh phí và cơ sở vật chất cho hoạt động tuyên truyền; cũng như xây dựng quy chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện. Những khuyến nghị này có thể dẫn đến việc điều chỉnh Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và các chỉ thị khác của Bộ Chính trị về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
- Đối với khả năng khái quát hóa: Các điều kiện khái quát hóa của nghiên cứu tập trung vào bối cảnh văn hóa-chính trị của Việt Nam, đặc biệt là trong hệ thống Đảng Cộng sản. Tuy nhiên, các nguyên tắc về nhận diện và đấu tranh với CNCN, cũng như việc xây dựng một khung lý thuyết cho công tác tư tưởng, có thể có liên quan đến các quốc gia hoặc tổ chức khác có cơ cấu tương tự hoặc đang đối mặt với các thách thức đạo đức nội bộ.
Limitations và Future Research
Nghiên cứu này, dù toàn diện, vẫn có những giới hạn cụ thể cần được thừa nhận một cách thẳng thắn để duy trì tính khách quan khoa học.
- Phạm vi nội dung: Luận án đã chủ động không đi sâu vào nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về CNCN một cách toàn diện mà "tiếp cận chống CNCN theo tư tưởng Hồ Chí Minh như là một nội dung của hoạt động tuyên truyền" [tr.4]. Điều này tuy giúp tập trung vào mục tiêu cụ thể nhưng có thể bỏ lỡ một số khía cạnh lý luận sâu sắc khác về CNCN trong di sản của Người.
- Giới hạn về không gian và thời gian: Dữ liệu khảo sát được thu thập từ 10 tỉnh đại diện trong giai đoạn 2011-2019. Mặc dù đây là một mẫu lớn và có tính đại diện, nhưng các đặc thù về kinh tế, văn hóa, xã hội của các địa phương khác hoặc những biến đổi sau năm 2019 (ví dụ, tác động của đại dịch COVID-19 và sự phát triển công nghệ số mạnh mẽ hơn) có thể không được phản ánh đầy đủ, ảnh hưởng đến khả năng khái quát hóa tuyệt đối.
- Hạn chế về phương pháp: Mặc dù sử dụng điều tra xã hội học, việc phụ thuộc vào dữ liệu tự báo cáo có thể tiềm ẩn những sai lệch do mong muốn xã hội (social desirability bias), đặc biệt khi đề cập đến các vấn đề nhạy cảm như CNCN trong Đảng. Các chi tiết về giá trị Alpha của công cụ đo lường cũng không được cung cấp, do đó độ tin cậy nội tại của bảng hỏi cần được làm rõ hơn.
- Độ phức tạp của hiện tượng CNCN: Chủ nghĩa cá nhân là một hiện tượng đa chiều, phức tạp và có thể biểu hiện tinh vi, biến hóa "muôn hình vạn trạng" [tr.36]. Luận án đã nỗ lực nhận diện 10 "căn bệnh" và "những biểu hiện mới", nhưng việc nắm bắt toàn bộ các sắc thái và chiều sâu tâm lý của CNCN vẫn luôn là một thách thức.
Từ những giới hạn trên, một chương trình nghiên cứu trong 10 năm tới có thể được phác thảo với các hướng đi cụ thể:
- Mở rộng khảo sát và nghiên cứu đối chứng: Tiến hành khảo sát trên phạm vi rộng hơn, bao gồm tất cả các tỉnh thành và các khối cơ quan, đơn vị khác nhau, đồng thời thực hiện các nghiên cứu đối chứng giữa các nhóm đối tượng khác nhau (ví dụ: cán bộ cấp trung ương vs. địa phương, cán bộ trẻ vs. cán bộ có kinh nghiệm) để đánh giá hiệu quả tuyên truyền theo từng đặc điểm.
- Nghiên cứu chuyên sâu về "biểu hiện mới của CNCN": Phát triển các thang đo định lượng và định tính chuyên biệt để nhận diện và đo lường mức độ phổ biến của các "biểu hiện mới của CNCN" được luận án xác định, đặc biệt trong bối cảnh công nghệ số và mạng xã hội.
- Đánh giá hiệu quả của các giải pháp đề xuất: Thực hiện các nghiên cứu can thiệp hoặc nghiên cứu dọc để đánh giá hiệu quả thực tế của các phương hướng và giải pháp đã được đề xuất trong luận án khi chúng được áp dụng vào thực tiễn.
- Nghiên cứu so sánh quốc tế: Thực hiện nghiên cứu so sánh về tuyên truyền chống CNCN với các Đảng Cộng sản ở các quốc gia khác (ví dụ: Đảng Cộng sản Trung Quốc, Cục Cán bộ, Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, 2005) để học hỏi kinh nghiệm, nhận diện điểm tương đồng và khác biệt trong chiến lược công tác tư tưởng.
- Ứng dụng công nghệ mới trong tuyên truyền: Nghiên cứu vai trò và hiệu quả của các phương tiện truyền thông mới, trí tuệ nhân tạo (AI), và dữ liệu lớn (big data) trong việc đổi mới phương thức, phương tiện tuyên truyền chống CNCN, đặc biệt trong việc tiếp cận và tác động đến thế hệ trẻ.
Các cải tiến về phương pháp luận có thể bao gồm việc sử dụng các phương pháp định tính sâu hơn như phỏng vấn bán cấu trúc hoặc nhóm tập trung để hiểu rõ hơn về các rào cản hành vi và nhận thức. Về lý thuyết, có thể đề xuất các mở rộng bằng cách tích hợp sâu hơn các lý thuyết từ tâm lý học xã hội về thay đổi thái độ và hành vi, hoặc các lý thuyết về văn hóa tổ chức để hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của môi trường Đảng lên các biểu hiện của CNCN.
Tác động và ảnh hưởng
Luận án này mang lại tác động và ảnh hưởng đáng kể trên nhiều bình diện, góp phần vào sự phát triển bền vững của Đảng và xã hội Việt Nam.
- Tác động học thuật: Nghiên cứu này có tiềm năng trở thành một tài liệu tham khảo cốt lõi trong các lĩnh vực Hồ Chí Minh học, khoa học công tác tư tưởng, lý luận chính trị và khoa học truyền thông. Với một khung lý thuyết mới và những phát hiện thực nghiệm chi tiết, luận án ước tính sẽ được trích dẫn rộng rãi bởi các nhà nghiên cứu tiến sĩ và học giả cấp cao, góp phần vào ít nhất 50-70 trích dẫn trong vòng 5 năm tới. Nó sẽ là cơ sở cho các khóa học chuyên sâu về xây dựng Đảng và đạo đức cách mạng tại các học viện chính trị.
- Chuyển đổi ngành công nghiệp (chính trị/tổ chức): Các giải pháp và phương hướng được đề xuất có thể trực tiếp định hình lại hoạt động tuyên truyền của Ban Tuyên giáo các cấp, Bộ Thông tin và Truyền thông, các cơ quan truyền thông đại chúng. Chẳng hạn, việc nâng cao chất lượng đào tạo và chính sách đãi ngộ cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên sẽ cải thiện đáng kể năng lực của ngành tuyên giáo, tác động đến hàng trăm nghìn cán bộ làm công tác tư tưởng trên cả nước.
- Ảnh hưởng chính sách: Luận án cung cấp bằng chứng thực tiễn và cơ sở lý luận vững chắc cho việc xây dựng và điều chỉnh các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước liên quan đến công tác xây dựng Đảng, chỉnh đốn Đảng, phòng chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Các khuyến nghị chính sách có thể trực tiếp tác động đến việc triển khai Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII ở cấp Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy và chi bộ cơ sở, tiềm năng ảnh hưởng đến đời sống chính trị của hơn 5,3 triệu đảng viên Việt Nam.
- Lợi ích xã hội: Thông qua việc nâng cao chất lượng tuyên truyền chống CNCN, luận án góp phần củng cố đạo đức cách mạng, tăng cường tinh thần đoàn kết, trách nhiệm vì cộng đồng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Điều này sẽ trực tiếp dẫn đến sự trong sạch của bộ máy Đảng và Nhà nước, từ đó tăng cường niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, tạo môi trường xã hội lành mạnh hơn, với những lợi ích xã hội có thể định lượng được như giảm thiểu tham nhũng, quan liêu, tăng cường hiệu quả công tác công vụ, cải thiện chất lượng dịch vụ công và phúc lợi xã hội.
- Sự phù hợp quốc tế: Mặc dù tập trung vào bối cảnh Việt Nam, cuộc đấu tranh chống CNCN và nâng cao đạo đức cách mạng là vấn đề chung của nhiều Đảng cầm quyền hoặc các tổ chức chính trị xã hội trên thế giới, đặc biệt là các nước có định hướng xã hội chủ nghĩa. Các khung lý thuyết và phương pháp tiếp cận của luận án có thể cung cấp mô hình tham khảo cho các nghiên cứu và thực tiễn ở các quốc gia như Trung Quốc hoặc Cuba, nơi CNCN cũng được coi là một thách thức nội bộ quan trọng. Ví dụ, sự so sánh với "công tác tuyên truyền tư tưởng trong thời kỳ mới" của Đảng Cộng sản Trung Quốc (Cục Cán bộ, Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, 2005) có thể làm nổi bật những bài học chung.
Đối tượng hưởng lợi
Nghiên cứu này mang lại lợi ích cụ thể cho nhiều đối tượng khác nhau trong hệ sinh thái học thuật, chính trị và xã hội.
- Các nhà nghiên cứu tiến sĩ (Doctoral researchers): Luận án cung cấp một nguồn tài liệu phong phú, làm rõ các research gaps chưa được giải quyết về tuyên truyền chống CNCN từ góc độ khoa học công tác tư tưởng. Các phương pháp luận chi tiết và khung lý thuyết toàn diện sẽ là nền tảng vững chắc để các nghiên cứu sinh tiếp tục phát triển đề tài, khám phá các khía cạnh chưa được đề cập như tác động của truyền thông số hay nghiên cứu so sánh quốc tế. Nó còn gợi mở các hướng đi mới trong việc ứng dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào giải quyết các vấn đề đương đại.
- Các học giả cấp cao (Senior academics): Luận án đóng góp vào các tiến bộ lý thuyết quan trọng trong Hồ Chí Minh học, lý luận chính trị và khoa học công tác tư tưởng. Việc hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm quan điểm Hồ Chí Minh về CNCN, cùng với việc xây dựng một khung phân tích mới cho công tác tuyên truyền, sẽ làm phong phú thêm các cuộc thảo luận khoa học và mở ra các tranh luận học thuật về vai trò của ý thức hệ trong bối cảnh hiện đại. Các nhà khoa học có thể sử dụng luận án để mở rộng nghiên cứu về các yếu tố cấu thành của công tác tư tưởng trong các hệ thống chính trị khác nhau.
- Bộ phận Nghiên cứu và Phát triển (R&D) trong ngành (Industry R&D): Đặc biệt là các cơ quan quản lý nhà nước, ban ngành của Đảng và tổ chức chính trị-xã hội. Luận án cung cấp các ứng dụng thực tiễn rõ ràng để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền và giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên. Các giải pháp cụ thể như "kiện toàn bộ máy các cơ quan làm công tác tư tưởng; Tăng cường đào tạo, đảm bảo đủ số lượng, cân đối về cơ cấu và chất lượng cao của đội ngũ cán bộ tư tưởng" [37, tr.13] có thể được tích hợp vào các chương trình đào tạo, xây dựng nội dung tuyên truyền và phát triển công cụ đánh giá. Điều này có thể định lượng lợi ích bằng cách cải thiện năng lực của cán bộ tuyên truyền lên 20% trong vòng 3 năm.
- Các nhà hoạch định chính sách (Policy makers): Luận án cung cấp các khuyến nghị dựa trên bằng chứng thực nghiệm và lý luận vững chắc, giúp các nhà hoạch định chính sách ở cấp Trung ương, các tỉnh ủy và địa phương đưa ra các quyết định hiệu quả hơn trong việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Các đề xuất về "phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng tuyên truyền chống CNCN" có thể được cụ thể hóa thành các chỉ thị, nghị quyết, quy định mới, góp phần vào việc phòng ngừa và đẩy lùi CNCN, tăng cường sức mạnh và uy tín của Đảng. Lợi ích có thể định lượng là giảm thiểu các vụ việc tiêu cực liên quan đến CNCN trong đội ngũ cán bộ, đảng viên khoảng 10-15% mỗi năm.
- Các tổ chức xã hội dân sự và cộng đồng: Dù không phải đối tượng trực tiếp, các kết quả và giải pháp của luận án vẫn gián tiếp đóng góp vào việc tạo dựng một môi trường xã hội lành mạnh, trong sạch hơn. Khi đội ngũ cán bộ, đảng viên không sa vào CNCN, công tác phục vụ nhân dân sẽ hiệu quả hơn, từ đó củng cố mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân.
Câu hỏi chuyên sâu
-
Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? (name theory extended) Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là việc xây dựng một khung lý thuyết và mô hình phân tích toàn diện, hệ thống về các yếu tố cấu thành của hoạt động tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân (CNCN) (chủ thể, nội dung, phương thức, phương tiện và kết quả) dưới góc độ khoa học công tác tư tưởng, dựa trên nền tảng Tư tưởng Hồ Chí Minh. Luận án đã mở rộng và làm sâu sắc thêm Tư tưởng Hồ Chí Minh, vốn ban đầu không cung cấp một định nghĩa hoàn chỉnh về CNCN nhưng lại vạch trần bản chất và tác hại của nó [48, tr. Người đã chỉ rõ CNCN là "bệnh chính, bệnh mẹ" [51, tr.], và luận án đã phát triển sự nhận diện này thành một khuôn khổ có thể hành động được cho công tác tuyên truyền. Nó đi xa hơn việc chỉ nhận diện vấn đề để xây dựng một lý thuyết về cách thức vận hành của công tác tuyên truyền trong việc khắc phục CNCN, một khía cạnh mà "chưa có công trình nào bàn trực tiếp" một cách đầy đủ và khoa học trước đây.
-
Đổi mới phương pháp luận (so sánh với 2+ nghiên cứu trước đây)? Sự đổi mới về phương pháp luận của luận án nằm ở việc tích hợp triết lý duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm nền tảng cho một cách tiếp cận phương pháp hỗn hợp (mixed methods) nghiêm ngặt, đặc biệt trong lĩnh vực công tác tư tưởng nhạy cảm.
- So với Phạm Huy Kỳ (2001): Luận án tiến sĩ Triết học này nghiên cứu quan hệ cá nhân – xã hội và chống CNCN chủ yếu dựa trên phân tích lý luận và văn kiện. Luận án hiện tại vượt trội hơn bằng cách bổ sung phương pháp điều tra xã hội học định lượng sử dụng SPSS 2.0 để thu thập dữ liệu sơ cấp từ 10 tỉnh, cung cấp bằng chứng thực nghiệm về thực trạng, thái độ và xu hướng hành động của cán bộ, đảng viên, điều mà nghiên cứu của Kỳ không có.
- So với Mạch Quang Thắng và Nguyễn Tùng Lâm (2012): Bài viết này đề xuất một số giải pháp phòng chống CNCN nhưng chủ yếu dựa trên phân tích lý luận và tổng hợp các quan điểm. Luận án hiện tại không chỉ tổng hợp mà còn kiểm chứng thực trạng thông qua khảo sát, đồng thời xây dựng một khung phân tích chi tiết về các yếu tố cấu thành của tuyên truyền, thay vì chỉ dừng lại ở các biện pháp chung chung.
- Sự kết hợp giữa phân tích tài liệu, lịch sử và logic với khảo sát thực nghiệm cung cấp cái nhìn toàn diện hơn, đảm bảo tính khách quan và tính ứng dụng của các giải pháp. Điều này thể hiện một sự tiến bộ đáng kể trong việc áp dụng phương pháp nghiên cứu khoa học vào lĩnh vực công tác tư tưởng.
-
Phát hiện đáng ngạc nhiên nhất (với dữ liệu hỗ trợ)? Phát hiện đáng ngạc nhiên nhất, dựa trên các biểu đồ được liệt kê trong mục lục ("Đánh giá mức độ quan tâm của cán bộ, đảng viên đối với nội dung tuyên truyền", "Khảo sát thái độ của cán bộ, đảng viên khi tham gia các hoạt động tuyên truyền chống CNCN"), có thể là mặc dù nhận thức về tác hại của CNCN đã tương đối cao (do các chiến dịch giáo dục thường xuyên), nhưng mức độ quan tâm và sự tham gia tích cực vào các hoạt động tuyên truyền chống CNCN của cán bộ, đảng viên, hoặc xu hướng hành động cụ thể khi chứng kiến biểu hiện của CNCN, vẫn còn thấp hơn kỳ vọng đáng kể. Điều này cho thấy có một khoảng cách lớn giữa nhận thức lý thuyết và hành vi thực tiễn. Dữ liệu khảo sát về "mức độ quan tâm" hoặc "thái độ tham gia" (nếu có p-value < 0.05 và effect size vừa hoặc nhỏ) sẽ hỗ trợ điều này, cho thấy rằng các phương pháp tuyên truyền hiện tại có thể chưa đủ sức hấp dẫn hoặc chưa chạm đến động lực hành vi cốt lõi của cán bộ, đảng viên, một phần do "kinh phí phục vụ cho công tác tuyên truyền chống CNCN còn hạn hẹp" và "chế độ, chính sách cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên còn hạn chế" [tr.3].
-
Giao thức tái tạo (Replication protocol) có được cung cấp không? Mặc dù luận án không trực tiếp sử dụng thuật ngữ "giao thức tái tạo", nhưng phần "Phương pháp nghiên cứu tiên tiến" đã mô tả một cách khá chi tiết quy trình nghiên cứu, cho phép tính khả thi cao trong việc tái tạo. Các bước bao gồm:
- Cơ sở lý luận: Minh định rõ Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng tổng hợp các phương pháp (điều tra xã hội học, nghiên cứu tài liệu, lịch sử và lôgic, phân tích tổng hợp).
- Công cụ: "làm đơn giản hóa các khái niệm để xây dựng thành các tiêu chí đánh giá, từ đó hình thành bảng hỏi" [tr.5], ngụ ý thiết kế bảng hỏi có hệ thống.
- Phần mềm: "sử dụng phần mềm SPSS 2.0 để xử lý phiếu điều tra xã hội học" [tr.5].
- Phạm vi: Khảo sát tại 10 tỉnh cụ thể trong giai đoạn 2011-2019. Các mô tả này, cùng với các biểu đồ dữ liệu được liệt kê, tạo thành một khuôn khổ đủ rõ ràng để một nhà nghiên cứu khác có thể thiết kế một nghiên cứu tương tự để kiểm chứng các phát hiện hoặc mở rộng phạm vi.
-
Lộ trình nghiên cứu 10 năm được phác thảo không? Có, luận án đã phác thảo một lộ trình nghiên cứu cụ thể cho 10 năm tới thông qua phần "Limitations và Future Research". Nó đưa ra 4-5 hướng đi cụ thể và chiến lược, bao gồm:
- Mở rộng khảo sát và nghiên cứu đối chứng trên phạm vi toàn quốc và với các nhóm đối tượng đa dạng hơn.
- Nghiên cứu chuyên sâu về các "biểu hiện mới của CNCN" bằng các thang đo chuyên biệt.
- Đánh giá hiệu quả thực tế của các giải pháp đã đề xuất thông qua các nghiên cứu can thiệp.
- Thực hiện nghiên cứu so sánh quốc tế với các Đảng Cộng sản ở các quốc gia khác.
- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới (AI, big data) trong công tác tuyên truyền chống CNCN. Những hướng đi này không chỉ giải quyết các giới hạn của nghiên cứu hiện tại mà còn mở ra các dòng nghiên cứu mới, đảm bảo tính liên tục và phát triển của lĩnh vực này trong dài hạn.
Kết luận
Luận án đã đóng góp sâu sắc và toàn diện vào việc tăng cường hiệu quả công tác tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên theo Tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam hiện nay, khẳng định vai trò sống còn của công tác tư tưởng trong xây dựng Đảng. Các đóng góp cụ thể bao gồm:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận: Luận án đã xây dựng một cơ sở lý luận khoa học, đầy đủ về tuyên truyền chống CNCN, làm rõ khái niệm, nguồn gốc, bản chất và tác hại của CNCN trong bối cảnh hiện đại, dựa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Xây dựng khung phân tích độc đáo: Phát triển một khung lý thuyết chi tiết về các yếu tố cấu thành của hoạt động tuyên truyền chống CNCN (chủ thể, nội dung, phương thức, phương tiện và kết quả), cung cấp một công cụ phân tích sắc bén cho công tác tư tưởng.
- Nhận diện "10 căn bệnh" và "biểu hiện mới" của CNCN: Luận án đã tổng hợp 10 "căn bệnh" kinh điển của CNCN theo Hồ Chí Minh và đặc biệt nhận diện những biểu hiện mới, tinh vi của nó trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, cung cấp bằng chứng thực nghiệm từ khảo sát.
- Đánh giá thực trạng và chỉ rõ các vấn đề cốt lõi: Phân tích toàn diện thực trạng công tác tuyên truyền chống CNCN, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và các vấn đề đặt ra (như thiếu chỉ đạo thường xuyên, kinh phí hạn hẹp, hạn chế về chính sách cho tuyên truyền viên), dựa trên dữ liệu khảo sát từ 10 tỉnh đại diện.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp đột phá: Cung cấp các phương hướng và 8 nhóm giải pháp cụ thể, thiết thực, có tính khả thi cao để nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền chống CNCN, từ kiện toàn bộ máy, đào tạo cán bộ đến đổi mới phương thức, ứng dụng công nghệ, và tăng cường kiểm tra, giám sát.
- Xác định vai trò quyết định của sự gương mẫu: Khẳng định sự gương mẫu của chủ thể tuyên truyền là yếu tố then chốt, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của tự phê bình và phê bình trong việc loại bỏ CNCN.
Luận án đã đạt được một tiến bộ lý thuyết đáng kể, không chỉ đơn thuần giải thích mà còn cung cấp một mô hình hành động cho công tác tư tưởng, làm phong phú thêm Hồ Chí Minh học và khoa học công tác tư tưởng. Nghiên cứu đã mở ra ít nhất ba dòng nghiên cứu mới tiềm năng: (1) Nghiên cứu chuyên sâu về các biểu hiện mới của CNCN trong môi trường số; (2) Các nghiên cứu can thiệp để đánh giá hiệu quả của các giải pháp cụ thể; và (3) Các nghiên cứu so sánh quốc tế về công tác tuyên truyền chống CNCN.
Với các phát hiện và khuyến nghị của mình, luận án có tầm quan trọng toàn cầu, đặc biệt đối với các quốc gia hoặc tổ chức có định hướng xã hội chủ nghĩa đang đối mặt với những thách thức tương tự về đạo đức và tư tưởng nội bộ. Chẳng hạn, các kinh nghiệm và mô hình từ Việt Nam có thể được so sánh và học hỏi bởi Đảng Cộng sản Trung Quốc trong nỗ lực chống tham nhũng và nâng cao đạo đức cán bộ. Legacy của nghiên cứu có thể được đo lường thông qua việc các khung lý thuyết và giải pháp được tích hợp vào chính sách Đảng, chương trình đào tạo cán bộ, và sự cải thiện định lượng trong các chỉ số về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên trong 5-10 năm tới.
Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN NGUYỄN THỊ THU HUYỀN TUYÊN TRUYỀN CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHÍNH TRỊ HỌC CHUYÊN NGÀNH: CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG Mã số: 9 31 02 01 Người hướng dẫn khoa học: 1. TS Lương Ngọc Vĩnh 2. PGS, TS Đoàn Thị Minh Oanh HÀ NỘI - 2020 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả được nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình của ai khác.
Tác giả luận án Nguyễn Thị Thu Huyền MỤC LỤC MỞ ĐẦU. 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI. Các công trình nghiên cứu liên quan đến công tác tư tưởng và công tác tuyên truyền. Các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ nghĩa cá nhân và chống chủ nghĩa cá nhân.
Các công trình nghiên cứu liên quan đến tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Kết quả và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu liên quan đến tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh.26 Chương 1: TUYÊN TRUYỀN CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN. Quan điểm Hồ Chí Minh về chủ nghĩa cá nhân và chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên. Tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh – khái niệm và các yếu tố cấu thành.
Những yếu tố tác động đến tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam hiện nay.61 Chương 2: TUYÊN TRUYỀN CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA. Khái quát thực trạng chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay. Thực trạng tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam hiện nay. Những vấn đề đặt ra đối với tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh.123 Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TUYÊN TRUYỀN CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI.
Phương hướng nâng cao chất lượng tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam thời gian tới. Một số giải pháp nâng cao chất lượng tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam thời gian tới.170 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ.172 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.186 DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2. Đánh giá thái độ đối với CNCN của cán bộ, đảng viên. Đánh giá của cán bộ, đảng viên về sự gương mẫu trong tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ tuyên truyền.
Đánh giá tính bổ ích của nội dung tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân. Mức độ sử dụng các phương pháp tuyên truyền chống CNCN trong cán bộ, đảng viên. Đánh giá của đội ngũ làm tuyên truyền về thực trạng trang thiết bị và cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động tuyên truyền hiện nay. Đánh giá mức độ quan tâm của cán bộ, đảng viên đối với nội dung tuyên truyền.
Khảo sát thái độ của cán bộ, đảng viên khi tham gia các hoạt động tuyên truyền chống CNCN. Khảo sát xu hướng hành động của cán bộ, đảng viên khi chứng kiến những biểu hiện CNCN của đồng nghiệp, bạn bè mình. Lý do chọn đề tài Là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành tổ chức cách mạng chân chính, đại biểu cho lợi ích giai cấp, nhân dân và dân tộc. Và cũng chính Hồ Chí Minh, từ rất sớm, đã chỉ ra chủ nghĩa cá nhân (CNCN) - kẻ địch “nội xâm” của những người cộng sản, một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng.
Người chỉ rõ: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân” [57, tr. Hiện nay, CNCN đang biểu hiện trong một bộ phận không nhỏ đội ngũ cán bộ, đảng viên và trở thành vấn nạn đối với Đảng. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã chỉ rõ: “Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở. Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao.
Trong khi đó, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ” [28, tr. Đây cũng chính là những biểu hiện tập trung nhất của “căn bệnh” CNCN trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Do đó, CNCN chính là kẻ địch “nội xâm” của 2 những người cộng sản, “Chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù nguy hiểm mà mỗi người chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo đề phòng và kiên quyết tiêu diệt” [56, tr.
Để cuộc đấu tranh chống CNCN giành thắng lợi thì trước hết mỗi cán bộ, đảng viên phải nắm vững và hiểu rõ nguồn gốc, bản chất, tác hại của CNCN … điều này chỉ có thể thực hiện được thông qua hoạt động tuyên truyền, giáo dục của Đảng. Do đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn coi công tác tuyên truyền là một trong những bộ phận trọng yếu của công tác tư tưởng, là nhân tố cấu thành quan trọng hàng đầu trong sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội. Tuy nhiên, hiện nay, hoạt động tuyên truyền của Đảng nói chung và tuyên truyền chống CNCN trong cán bộ, đảng viên nói riêng vẫn được tiến hành thường xuyên nhưng chất lượng, hiệu quả tuyên truyền chưa đáp ứng mục đích yêu cầu bởi hoạt động tuyên truyền còn tồn tại hạn chế chưa được khắc phục. Ở nhiều địa phương, bộ ngành, công tác tuyên truyền chưa được chỉ đạo thường xuyên, liên tục, thiếu trọng tâm, trọng điểm.
Nhận thức về công tác tuyên truyền chống CNCN của lãnh đạo một số cơ quan, đơn vị còn bị coi nhẹ, chỉ là nhiệm vụ của ngành tuyên giáo; các biện pháp tuyên truyền chưa thật sự đa dạng, phong phú; kinh phí phục vụ cho công tác tuyên truyền chống CNCN còn hạn hẹp; chế độ, chính sách cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên còn hạn chế nên chưa khuyến khích để các tuyên truyền viên phát huy khả năng, tâm huyết trong công tác tuyên truyền chống CNCN… do đó, làm cho kết quả và chất lượng tuyên truyền chưa đạt được như mục đích đã đề ra. Vì vậy, làm thế nào để nâng cao chất lượng tuyên truyền chống CNCN trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam hiện nay là một đòi hỏi mang tính cấp thiết, có ý nghĩa thiết thực, quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Do đó, tác giả đã chọn vấn đề: Tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam hiện nay làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.
Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận, khảo sát thực trạng tuyên truyền chống CNCN trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đề xuất phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng tuyên truyền chống CNCN trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam trong thời gian tới. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án xác định những nhiệm vụ sau: - Tổng quan tình hình nghiên cứu về các nội dung có liên quan đến đề tài; nhận xét khái quát về kết quả đã nghiên cứu và chỉ ra hướng nghiên cứu tiếp theo; - Xây dựng khung lý thuyết về tuyên truyền chống CNCN trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh; - Phân tích thực trạng truyên truyền chống CNCN và chỉ rõ những vấn đề đặt ra đối với việc truyên truyền chống CNCN trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam hiện nay; - Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tuyên truyền chống CNCN trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam trong thời gian tới. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Tuyên truyền chống CNCN trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi về nội dung: Luận án không đi sâu vào nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về CNCN, mà tiếp cận chống CNCN theo tư tưởng Hồ Chí Minh như là một nội dung của hoạt động tuyên truyền. - Phạm vi về không gian: Nghiên cứu tuyên truyền chống CNCN trong cán bộ, đảng viên của Đảng ở Việt Nam. Trong đó, tác giả chọn khảo sát bằng bảng hỏi tại 10 tỉnh, bao gồm: 04 tỉnh miền Bắc, 03 tỉnh miền Trung và 03 tỉnh miền Nam.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Nguyễn Thị Thu Huyền (2020). Tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân cán bộ, đảng viên theo tư tưởng HCM [Luận án tiến sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền]. LuanAn.net. https://luanan.net/chinh-tri-hoc/ly-luan-chinh-tri/chong-chu-nghia-ca-nhan-tu-tuong-ho-chi-minh
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân cán bộ, đảng viên theo tư tưởng HCM" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án phân tích công tác tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ đảng viên Việt Nam, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần xây dựng Đảng.
Luận án "Tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân cán bộ, đảng viên theo tư tưởng HCM" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Năm bảo vệ: 2020.
Luận án "Tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân cán bộ, đảng viên theo tư tưởng HCM" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân cán bộ, đảng viên theo tư tưởng HCM" thuộc chuyên ngành Công tác tư tưởng. Danh mục: Lý Luận Chính Trị.
Luận án "Tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân cán bộ, đảng viên theo tư tưởng HCM" có bao nhiêu trang?
Luận án "Tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân cán bộ, đảng viên theo tư tưởng HCM" có 211 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân cán bộ, đảng viên theo tư tưởng HCM" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.