Nghiên cứu năng lực lãnh đạo chính quyền cấp xã khu vực miền núi tỉnh Sơn La
Đề tài nghiên cứu năng lực lãnh đạo chính quyền xã miền núi tại Sơn La, phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý.
Luan An
Số trang
158
Thời gian đọc
24 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Vai trò năng lực lãnh đạo chính quyền xã tại Sơn La
- Số trang:
- 158 trang
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Vai trò năng lực lãnh đạo chính quyền xã tại Sơn La
Chính quyền cấp xã là cấp hành chính cơ sở thấp nhất trong bộ máy nhà nước. Đây là nơi tiếp xúc trực tiếp với đời sống nhân dân. Năng lực lãnh đạo của bộ máy cơ sở quyết định trực tiếp đến sự phát triển kinh tế và trật tự an ninh. Tại các địa bàn đặc thù, quản trị công cấp cơ sở đòi hỏi sự linh hoạt và nhạy bén cao. Cán bộ cơ sở đóng vai trò định hướng, giáo dục và tổ chức quần chúng. Mọi chủ trương lớn của Đảng đều được hiện thực hóa qua cấp chính quyền này. Năng lực lãnh đạo tốt sẽ tạo động lực bứt phá mạnh mẽ cho địa phương. Ngược lại, sự yếu kém trong chỉ đạo sẽ kìm hãm sự phát triển chung.
1.1. Vị trí hạt nhân của cấp cơ sở trong hệ thống
Chính quyền xã bao gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Các cơ quan này do cử tri địa phương trực tiếp bầu chọn. HĐND đại diện cho ý chí, quyền làm chủ của nhân dân. UBND xã chịu trách nhiệm quản lý hành chính và phát triển kinh tế xã hội. Lãnh đạo UBND gồm chủ tịch và các phó chủ tịch. Mọi xung đột và vấn đề an sinh đều nảy sinh từ địa bàn thôn, bản. Chính quyền xã là nơi cụ thể hóa mọi văn bản pháp luật vào thực tiễn. Nâng cao năng lực quản lý nhà nước cấp xã là điều kiện tiên quyết để giữ vững ổn định chính trị.
1.2. Chủ trương phát triển nhân lực vùng cao của Đảng
Đảng và Nhà nước xác định con người là trung tâm của chiến lược phát triển. Nhiều chính sách lớn đã được ban hành nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trọng tâm ưu tiên là xây dựng hệ thống đào tạo cán bộ miền núi. Nhà nước thực hiện chính sách luân chuyển cán bộ chủ chốt về 61 huyện nghèo. Dự án tuyển chọn 600 trí thức trẻ làm phó chủ tịch xã đã tạo luồng gió mới. Đổi mới công tác cán bộ vùng dân tộc thiểu số mang tính chiến lược lâu dài. Đội ngũ lãnh đạo xã có phẩm chất tốt là nền tảng để bảo đảm phát triển bền vững.
1.3. Cầu nối trực tiếp đưa chính sách vào đời sống
Cán bộ địa phương là mắt xích trực tiếp gắn kết người dân với bộ máy nhà nước. Họ lắng nghe tâm tư và giải quyết kịp thời nguyện vọng chính đáng của đồng bào. Việc thực thi chính sách phụ thuộc lớn vào sự am hiểu địa bàn của lãnh đạo xã. Cán bộ công chức xã miền núi cần có uy tín cao trong cộng đồng. Lãnh đạo cơ sở phải biết biến đường lối chung thành các mô hình kinh tế phù hợp. Khi cán bộ cơ sở gương mẫu, người dân sẽ tin tưởng và đồng thuận làm theo. Điều này củng cố niềm tin của đồng bào vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
II. Tiêu chuẩn năng lực lãnh đạo chính quyền xã miền núi
Lãnh đạo cơ sở vùng cao cần hội tụ đầy đủ các tiêu chuẩn về phẩm chất và kỹ năng. Lãnh đạo không chỉ dựa vào quyền hạn hành chính được giao. Lãnh đạo thành công bắt nguồn từ uy tín cá nhân và sự tín nhiệm của nhân dân. Kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp xã bao gồm cả tư duy lý luận và kỹ năng ứng xử thực tế. Người đứng đầu cơ sở phải biết kết hợp hài hòa giữa trí tuệ, sự thấu cảm và năng lực hành động. Các yêu cầu này giúp cán bộ đưa ra quyết định đúng đắn trước những bài toán phức tạp tại vùng cao.
2.1. Yêu cầu về tư duy chiến lược và trí tuệ lãnh đạo
Người đứng đầu cấp xã cần có tư duy độc lập và tầm nhìn thực tiễn. Trí tuệ lãnh đạo (IQ) thể hiện qua việc phân tích và đánh giá đúng tình hình địa phương. Cán bộ phải biết xác định nhiệm vụ trọng tâm và đưa ra các quyết định chuẩn xác. Khả năng lựa chọn và sắp xếp thứ tự ưu tiên trong công việc là yếu tố then chốt. Cán bộ không thể làm việc theo cảm tính hay rập khuôn máy móc. Nâng cao trí tuệ lãnh đạo giúp bộ máy cơ sở hoạt động thông suốt và nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước.
2.2. Kỹ năng thấu cảm và xây dựng quan hệ cộng đồng
Chỉ số cảm xúc (EQ) đóng vai trò then chốt trong công tác vận động quần chúng. Lãnh đạo xã miền núi cần lắng nghe và thấu hiểu phong tục tập quán của các dân tộc. Khả năng giao tiếp khéo léo giúp gắn kết chính quyền với đồng bào bản địa. Người cán bộ phải xây dựng được các mối quan hệ bền chặt dựa trên sự chân thành và tôn trọng. Kỹ năng đàm phán và thuyết phục giúp giải quyết êm đẹp các tranh chấp đất đai, mâu thuẫn nội bộ. Sự thấu cảm tạo ra sức ảnh hưởng tự nhiên và củng cố sự đồng thuận xã hội.
2.3. Năng lực thực thi và giải quyết vấn đề thực tiễn
Năng lực thực thi (XQ) là thước đo chính xác nhất cho hiệu quả công việc. Lãnh đạo phải chuyển hóa các nghị quyết thành hành động cụ thể tại cơ sở. Khả năng huấn luyện, phân công và kiểm tra công việc của cấp dưới rất quan trọng. Chủ tịch UBND xã vùng cao Sơn La cần phản ứng nhanh với thiên tai, dịch bệnh và biến động thị trường. Quyết đoán trong xử lý công việc giúp tận dụng tốt các cơ hội phát triển kinh tế hộ gia đình. Tinh thần dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm là phẩm chất không thể thiếu.
III. Thực trạng năng lực lãnh đạo chính quyền xã ở Sơn La
Sơn La là tỉnh miền núi phía Tây Bắc có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về an ninh quốc phòng. Toàn tỉnh gồm 1 thành phố và 11 huyện với 204 xã, phường, thị trấn. Địa bàn rộng lớn, địa hình hiểm trở và nhiều đồng bào dân tộc thiểu số cùng sinh sống. Đội ngũ cán bộ cơ sở tỉnh Sơn La đã có nhiều đóng góp vào sự phát triển chung của tỉnh. Tuy nhiên, mặt bằng trình độ của cán bộ xã vẫn chưa đồng đều giữa các khu vực. Yêu cầu phát triển mới đòi hỏi phải đánh giá khách quan thực trạng năng lực lãnh đạo hiện nay.
3.1. Đặc thù địa bàn và tổ chức bộ máy cơ sở Sơn La
Tỉnh Sơn La sở hữu đường biên giới quốc gia dài và nhiều cửa ngõ giao thương quốc tế. Hệ thống chính trị cấp cơ sở gánh vác trách nhiệm bảo vệ an ninh biên giới và trật tự bản làng. Đội ngũ cán bộ xã phần lớn là người dân tộc bản địa, am hiểu văn hóa địa phương. Tuy nhiên, điều kiện giao thông cách trở gây nhiều khó khăn cho công tác điều hành. Bộ máy hành chính một số nơi còn cồng kềnh và thiếu nguồn cán bộ trẻ có chuyên môn sâu. Việc kiện toàn bộ máy cơ sở luôn là nhiệm vụ cấp bách của tỉnh.
3.2. Đóng góp nổi bật trong phát triển kinh tế địa phương
Kinh tế Sơn La đã đạt được nhiều kết quả tích cực với tốc độ tăng trưởng GRDP ấn tượng. Năm 2016, GRDP của tỉnh tăng 7,32% cùng số thu ngân sách tăng trưởng vượt bậc. Thành tựu này có sự đóng góp then chốt của các cấp chính quyền xã. Lãnh đạo xã đã tích cực vận động nhân dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Nhiều mô hình kinh tế vườn đồi, cây ăn quả trên đất dốc phát huy hiệu quả cao. Sự chủ động của cán bộ cơ sở góp phần xóa đói giảm nghèo và thay đổi diện mạo nông thôn.
3.3. Những hạn chế và bất cập về trình độ chuyên môn
Năng lực của một bộ phận cán bộ xã tại Sơn La vẫn chưa đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Trình độ học vấn, kiến thức quản lý nhà nước và trình độ lý luận còn nhiều hạn chế. Khả năng tư duy chiến lược và xây dựng kế hoạch dài hạn còn lúng túng. Một số cán bộ còn phụ thuộc vào cấp trên, thụ động trong giải quyết các vấn đề nóng. Kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hành chính còn chậm chuyển biến. Những rào cản này làm giảm hiệu lực quản lý của bộ máy chính quyền cơ sở.
IV. Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo xã vùng Sơn La
Để đáp ứng nhiệm vụ phát triển trong thời kỳ mới, tỉnh Sơn La cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Mục tiêu trọng tâm là nâng cao năng lực cán bộ cơ sở toàn diện cả về phẩm chất và năng lực chuyên môn. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương. Công tác chuẩn hóa chức danh và đổi mới chính sách đãi ngộ là yêu cầu cấp thiết. Đột phá trong quản lý sẽ tạo động lực cho cán bộ an tâm công tác và cống hiến lâu dài cho bản làng vùng cao.
4.1. Đổi mới công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ
Công tác quy hoạch cán bộ nguồn cần tiến hành chủ động, công khai và minh bạch. Địa phương cần chú trọng phát hiện và đưa vào quy hoạch những nhân tố có triển vọng. Tăng cường luân chuyển cán bộ trẻ có năng lực từ tỉnh, huyện về giữ các vị trí chủ chốt tại xã. Việc luân chuyển giúp cán bộ rèn luyện bản lĩnh qua thử thách thực tế tại cơ sở. Đồng thời, cần tạo điều kiện để cán bộ xã luân chuyển ngang giữa các địa bàn để tích lũy kinh nghiệm. Đây là bước chuẩn bị nhân sự vững chắc cho tương lai.
4.2. Tăng cường đào tạo chuyên môn và kỹ năng thực tế
Tỉnh Sơn La cần đổi mới căn bản chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ miền núi. Nội dung đào tạo phải bám sát thực tiễn công việc và đặc thù vùng cao. Cần tập trung trang bị kỹ năng quản lý hành chính, kỹ năng giải quyết khiếu nại và kỹ năng điều hành cuộc họp. Đẩy mạnh bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng số cho cán bộ xã. Phương pháp giảng dạy cần chuyển từ lý thuyết sang xử lý các tình huống thực tế. Bồi dưỡng liên tục giúp đội ngũ cán bộ tự tin thích ứng với các nhiệm vụ phức tạp.
4.3. Hoàn thiện cơ chế thu hút nhân lực trí thức trẻ
Địa phương cần ban hành các chính sách ưu đãi vượt trội để thu hút sinh viên tốt nghiệp loại giỏi về công tác tại xã. Đẩy mạnh thực hiện các đề án trí thức trẻ làm cán bộ lãnh đạo cấp xã. Cần bố trí nhà công vụ, hỗ trợ sinh hoạt phí và tạo lộ trình thăng tiến rõ ràng cho người có tài năng. Đánh giá cán bộ cần dựa trên kết quả đầu ra và sự hài lòng của nhân dân. Môi trường làm việc thuận lợi sẽ phát huy tối đa sức sáng tạo của cán bộ trẻ trí thức.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (158 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộSự cần thiết của đề tài nghiên cứu Như chúng ta đã biết, bất cứ quốc gia hay địa phương nào đều cần có một bộ máy tổ chức lãnh đạo, quản lý, điều hành. “Nguồn gốc phát triển loài người là lao động của cá nhân và lao động chung; tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất. Lao động chung phải có sự thống nhất cao và được tổ chức thực sự chặt chẽ, do đó đã xuất hiện một bộ phận lao động làm nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý; Quản lý có thể bổ nhiệm, nhưng các nhà lãnh đạo cần được bầu (Surinder, S. Theo đó, nhà lãnh đạo phải có ý chí và tư duy độc lập, có khả năng trở nên thông minh hơn khi quyết định những điều quan trọng (IQ); đồng thời cần có khả năng nâng cao phẩm chất, tính cách cá nhân nhằm lấy được niềm tin, sự tôn trọng và đồng thuận, “xây dựng các mối quan hệ bền chặt (EQ) cộng với khả năng giao tiếp”, huấn luyện, gây ảnh hưởng, đàm phán, lựa chọn, bỏ chọn, ưu tiên, lãnh đạo thực hiện hiệu quả (XQ).
Ở Việt Nam, nhân dân luôn là người trực tiếp lao động, sản xuất, xây dựng đất nước; lợi ích của nhân dân là trên hết và là mục tiêu cần đạt được của mọi hoạt động lãnh đạo/ quản lý xã hội. Các nhà lãnh đạo có chức năng định hướng chiến lược, sách lược, giáo dục, thuyết phục, tổ chức lực lượng quần chúng nhân dân hướng vào giải quyết những vấn đề then chốt nhằm phát triển KT-XH, phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của nhân dân; đội ngũ cán bộ lãnh đạo có thể kìm hãm hoặc tạo nên sự phát triển mạnh mẽ của một địa phương hay của cả một quốc gia, dân tộc; Có thể nói, “năng lực của đội ngũ cán bộ luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Cán bộ là gốc của mọi công việc” (Hồ Chí Minh, 2000). Trên quan điểm như vậy, Đảng và nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản lãnh đạo “phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực khu vực miền núi nói riêng”, trong đó nhấn mạnh đến công việc “nghiên cứu, bồi dưỡng, đào tạo sử dụng đúng đắn nhân tố con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; coi trọng việc đầu tư xây dựng hệ thống đào tạo cán bộ cho các vùng dân tộc thiểu số từ trung ương đến địa phương” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2015); “khẳng định con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011); tập trung xây dựng Chiến lược phát triển nhân lực (Thủ tướng Chính phủ, 2011); chú trọng phát triển nguồn 2 nhân lực khu vực miền núi, thực hiện “chính sách luân chuyển, tăng cường cán bộ chủ chốt cho các xã thuộc 61 huyện nghèo” (Thủ tướng Chính phủ, 2009); triển khai “Dự án thí điểm tuyển chọn 600 trí thức trẻ ưu tú, có trình độ đại học tăng cường về làm Phó Chủ tịch UBND xã” (Thủ tướng Chính phủ, 2011).
Từ những luận cứ trên cho thấy, về quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và nhà nước đã khẳng định rõ vai trò quan trọng nhất, giữ vị trí then chốt đảm bảo sự tồn tại và phát triển của đất nước đó là nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực lãnh đạo/ quản lý, trong đó có đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính quyền cấp xã khu vực miền núi. Ở nước ta, chính quyền cấp xã gồm: “Ủy ban nhân dân (UBND) và Hội đồng nhân dân (HĐND) do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra có nhiệm vụ lãnh đạo phát triển KT-XH địa phương, góp phần xây dựng, phát triển đất nước trên cơ sở đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân cũng như lợi ích chung của cả quốc gia, dân tộc” (Quốc hội, 2015). Lãnh đạo UBND xã gồm Chủ tịch và các Phó Chủ tịch (Quốc hội, 2015). “HĐND cấp xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra”; Lãnh đạo Hội đồng nhân dân xã gồm: “Chủ tịch HĐND và Phó Chủ tịch HĐND thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo Luật Tổ chức HĐND và UBND” (Quốc hội, 2003); Chính quyền xã là chính quyền địa phương cấp thấp nhất; mọi vấn đề xã hội nảy sinh đều ở cấp xã, việc cụ thể hóa và đưa các chủ trương chính sách của Đảng, nhà nước vào cuộc sống người dân do chính quyền cấp xã thực hiện; vì thế năng lực của lãnh đạo chính quyền cấp xã giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Sơn La là một tỉnh miền núi phía Tây Bắc Việt Nam. Toàn tỉnh có 01 thành phố và 11 huyện gồm 204 xã, phường, thị trấn. Đây là địa bàn rộng lớn có cửa ngõ thông thương quốc tế với vị trí rất quan trọng về quốc phòng, an ninh. “Trong thời gian qua, Sơn La đã đạt được những kết quả đáng khích lệ về phát triển kinh tế.
Năm 2016, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) tăng 7,32%; thu ngân sách trên địa bàn đạt 4. Những thay đổi này là do sự nỗ lực của các cấp, các ngành, đặc biệt là chính quyền xã. Trong đó, nổi lên vai trò của đội ngũ lãnh đạo - lực lượng nòng cốt, gần dân nhất, trực tiếp kết nối thực hiện đường lối, chính sách pháp luật của nhà nước. Tuy vậy, song năng lực của lãnh đạo chính quyền cấp xã ở Sơn La vẫn chưa xứng tầm với yêu cầu, nhiệm vụ mới trong giai đoạn hiện nay, biểu hiện ở tất cả các mặt, từ khả năng tư duy, trình độ, kiến thức đến thái độ, phẩm chất, khả năng thấu hiểu, khả năng gây ảnh hưởng, thuyết phục, huy động sự ủng hộ.
Để hiện thực hóa được mục tiêu phát triển KT-XH nhanh và bền vững, các địa phương 3 thuộc miền núi nói chung, tỉnh Sơn La nói riêng rất cần có cơ sở lý luận khoa học và hệ thống những giải pháp khả thi nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ này. Qua phân tích ở trên đã cho thấy vai trò rất quan trọng của nguồn nhân lực nói chung và của đội ngũ cán bộ, công chức nói riêng đối với sự phát triển đất nước. Đồng thời cũng cho thấy vai trò to lớn của chính quyền cấp xã, trong đó năng lực của đội ngũ cán bộ lãnh đạo có ảnh hưởng mang tính quyết định đối với sự phát triển địa phương. Mặc dù như thế, nhưng cho đến nay vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này, đặc biệt là những nghiên cứu về năng lực của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính quyền cấp cơ sở và sự ảnh hưởng của nó đến kết quả lãnh đạo phát triển KT-XH ở khu vực miền núi.
Tuy nhiên, các nghiên cứu liên quan đến vấn đề năng lực của lãnh đạo chính quyền các cấp cũng đã chỉ ra những hạn chế nhất định về năng lực lãnh đạo như: khả năng tư duy (Trần Ngọc Hiên, 2012); khả năng thấu hiểu cảm xúc, nắm rõ tâm tư tình cảm của người dân (Trần Nhật Duật, 2014); khả năng huy động sự ủng hộ (Nguyễn Xuân Tệ, 2004). Những hạn chế về năng lực của đội ngũ cán bộ lãnh đạo do nhiều nguyên nhân gây ra, nhưng trong đó có một nguyên nhân do chúng ta chưa có những nghiên cứu chuyên sâu liên quan đến năng lực lãnh đạo của cán bộ nói chung, năng lực của lãnh đạo chính quyền cấp cơ sở ở các tỉnh miền núi nói riêng; chưa nghiên cứu các loại hình năng lực cấu thành năng lực lãnh đạo, chưa nghiên cứu cụ thể, chi tiết về sự ảnh hưởng của nó đến kết quả lãnh đạo, để từ đó có các chủ trương, chính sách và biện pháp nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ này. Mặt khác, có thể nói các nghiên cứu trước đây chưa xem xét hoặc chưa đề cập sâu đến vấn đề nêu trên ở khu vực miền núi; vì thế vấn đề nghiên cứu “Năng lực của lãnh đạo chính quyền cấp xã khu vực miền núi” còn đang bỏ ngỏ và đặc biệt cần thiết đối với nước ta khi mà sự chênh lệch giữa các vùng miền còn quá lớn. Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn: “Năng lực của lãnh đạo chính quyền cấp xã khu vực miền núi - Nghiên cứu từ tỉnh Sơn La” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình.
Mục tiêu nghiên cứu Một là, xác định các loại hình năng lực cơ bản cấu thành năng lực của lãnh đạo chính quyền cấp xã khu vực miền núi; Hai là, xác định mối quan hệ giữa các loại hình năng lực của lãnh đạo chính quyền cấp xã khu vực miền núi với kết quả lãnh đạo phát triển KT-XH địa phương; Ba là, đưa ra những khuyến nghị về đánh giá, lựa chọn và nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính quyền cấp xã khu vực miền núi. 4 Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của luận án, tác giả đặt ra các câu hỏi nghiên cứu cụ thể như sau: Câu hỏi 1: Năng lực của lãnh đạo chính quyền cấp xã khu vực miền núi bao gồm những loại hình năng lực cơ bản nào? Câu hỏi 2: Các loại hình năng lực cơ bản cấu thành năng lực của lãnh đạo chính quyền cấp xã khu vực miền núi có mối quan hệ như thế nào đối với kết quả lãnh đạo phát triển KT-XH địa phương? Câu hỏi 3: Các khuyến nghị có thể rút ra từ kết quả nghiên cứu? 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu • Đối tượng nghiên cứu: Năng lực của lãnh đạo chính quyền cấp xã khu vực miền núi tỉnh Sơn La. • Khách thể nghiên cứu: Lãnh đạo chính quyền cấp xã khu vực miền núi tỉnh Sơn La (Chủ tịch Uỷ ban nhân dân; Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân; Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân).
• Giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận án: Các xã miền núi thuộc tỉnh Sơn La; thời gian trong nhiệm kỳ 2011-2016 (5 năm). Những đóng góp mới của luận án 4. Về mặt lý luận Đóng góp thứ nhất: Kết quả từ nghiên cứu này có sự tương đồng với kết quả của các nghiên cứu trước khi chỉ ra 03 loại hình năng lực cơ bản: Năng lực tư duy-IQ; Năng lực cảm xúc-EQ; Năng lực huy động sự ủng hộ-XQ có ảnh hưởng thuận chiều đến kết quả lãnh đạo (Michael Edwards, 2015).
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Năng lực lãnh đạo chính quyền xã miền núi tại Sơn La (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/chinh-tri-hoc/chinh-sach-cong/nang-luc-lanh-dao-chinh-quyen-cap-xa-mien-nui-son-la
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Năng lực lãnh đạo chính quyền xã miền núi tại Sơn La" nghiên cứu về vấn đề gì?
Đề tài nghiên cứu năng lực lãnh đạo chính quyền xã miền núi tại Sơn La, phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý.
Luận án "Năng lực lãnh đạo chính quyền xã miền núi tại Sơn La" có bao nhiêu trang?
Luận án "Năng lực lãnh đạo chính quyền xã miền núi tại Sơn La" có 158 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Năng lực lãnh đạo chính quyền xã miền núi tại Sơn La" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.