Các tỉnh thành ủy vùng duyên hải miền Trung lãnh đạo nhân lực KH-CN

Tổng kết kinh nghiệm các tỉnh thành ủy duyên hải miền Trung trong lãnh đạo phát triển nhân lực khoa học công nghệ, đáp ứng yêu cầu hội nhập.

Tác giả

Luan An

Thể loại

Tài liệu nghiên cứu

Số trang

167

Thời gian đọc

26 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
Cấp thiết phát triển nhân lực KH-CN chất lượng cao
Số trang:
167 trang
Chuyên ngành:
Khoa học và Công nghệ
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I.Cấp thiết phát triển nhân lực KH CN chất lượng cao

Ngày nay, nguồn nhân lực (NNL) được coi là cơ bản. Nó quyết định sự phát triển của mọi quốc gia. Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại chỉ ra. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh, bền vững cần ba trụ cột. Đó là công nghệ tiên tiến, cơ sở hạ tầng hiện đại và NNL chất lượng cao. NNL là yếu tố hàng đầu. Nó là động lực quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế bền vững. NNL chất lượng cao đặc biệt cần thiết. Việt Nam đang là nước nông nghiệp. Nước ta đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH). Mục tiêu này gắn với phát triển kinh tế tri thức. Việc thực hiện Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư rất quan trọng. Việt Nam muốn sớm trở thành nước công nghiệp hiện đại. Điều này giúp rút ngắn khoảng cách tụt hậu. Tuy nhiên, NNL chất lượng thấp là một thách thức. Khoa học và công nghệ (KH&CN) chậm phát triển. Chúng chưa đáp ứng được yêu cầu trong nước. Chúng cũng chưa đáp ứng được hội nhập quốc tế. Vì thế, đẩy mạnh phát triển NNL là nhiệm vụ cấp bách. Đặc biệt, cần phát triển NNL chất lượng cao. Phát triển KH&CN cũng là ưu tiên hàng đầu.

1.1. Nguồn nhân lực Động lực tăng trưởng bền vững

Nguồn nhân lực (NNL) đóng vai trò cơ bản. Nó quyết định sự phát triển của mọi quốc gia. Lý thuyết tăng trưởng kinh tế mới nhấn mạnh điều này. Tăng trưởng nhanh, bền vững cần ba trụ cột. Đó là công nghệ tiên tiến, cơ sở hạ tầng hiện đại, và NNL chất lượng cao. NNL là yếu tố hàng đầu. Nó là động lực quan trọng nhất. NNL chất lượng cao đặc biệt cần thiết. Nó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.

1.2. Việt Nam Mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa

Việt Nam là nước nông nghiệp. Nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH). Mục tiêu này gắn với phát triển kinh tế tri thức. Việc thực hiện Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư rất quan trọng. Việt Nam muốn sớm thành nước công nghiệp hiện đại. Điều này giúp rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển. Tuy nhiên, NNL chất lượng thấp là thách thức. Khoa học và công nghệ (KH&CN) phát triển chậm. Chúng chưa đáp ứng yêu cầu trong nước và hội nhập quốc tế. Phát triển NNL, đặc biệt nhân lực chất lượng cao, là nhiệm vụ cấp bách. Phát triển KH&CN cũng vậy.

II.Thực trạng và thách thức nhân lực KH CN Việt Nam

Việt Nam đang đối mặt với nhiều khó khăn. Nguồn nhân lực (NNL) chất lượng thấp là một thách thức. Khoa học và công nghệ (KH&CN) phát triển chậm. Nó chưa đáp ứng được yêu cầu trong nước. Nó cũng chưa đáp ứng được hội nhập quốc tế. Phát triển NNL là nhiệm vụ cấp bách hiện nay. Đặc biệt, cần phát triển NNL chất lượng cao và KH&CN. Đại hội XI của Đảng đã xác định. Đây là nhiệm vụ đột phá để gỡ nút thắt cho phát triển. Đảng nhấn mạnh việc coi trọng phát triển đội ngũ cán bộ. Đó là cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi. Đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi cũng cần thiết. Lao động lành nghề và cán bộ khoa học, công nghệ đầu đàn được ưu tiên. Vùng Duyên hải miền Trung (DHMT) bao gồm chín tỉnh, thành phố. Vùng đã nỗ lực đẩy mạnh thu hút, khai thác các nguồn lực. Các tỉnh ủy, thành ủy quan tâm lãnh đạo phát triển NNL. Nhân lực KH-CN được chú trọng. Nhiều nghị quyết, chủ trương, chương trình đã được triển khai. Nỗ lực của các cấp ủy, chính quyền được ghi nhận. Các tổ chức KH&CN và chính nhân lực KH-CN đã đóng góp. Nhờ đó, nhân lực KH-CN của vùng tăng số lượng. Chất lượng nhân lực được nâng lên. Họ đã có những đóng góp quan trọng. Góp phần vào sự phát triển của KH&CN. Góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương. Tuy nhiên, nhiều tỉnh trong vùng DHMT còn nghèo. Quy mô nền kinh tế còn nhỏ. KH&CN chậm phát triển. Nó chưa thực sự trở thành nền tảng và động lực quan trọng nhất cho phát triển KT-XH.

2.1. Nhân lực KH CN Yếu kém và chậm phát triển

Việt Nam đang đối mặt nhiều khó khăn. Nguồn nhân lực (NNL) chất lượng thấp. Khoa học và công nghệ (KH&CN) chậm phát triển. Nó chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh. Phát triển NNL là nhiệm vụ đột phá. Đây là nút thắt cần gỡ cho phát triển. Đảng đặc biệt coi trọng. Phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo giỏi. Đội ngũ quản lý giỏi cũng quan trọng. Chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi cần thiết. Lao động lành nghề và cán bộ KH-CN đầu đàn được ưu tiên.

2.2. Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ Tiềm năng và hạn chế

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ (DHMT) có chín tỉnh, thành phố. Vùng đã đẩy mạnh thu hút, khai thác nguồn lực. Các tỉnh ủy, thành ủy quan tâm lãnh đạo phát triển NNL. Trong đó có nhân lực KH-CN. Nhiều nghị quyết, chương trình được triển khai. Nỗ lực của cấp ủy, chính quyền được ghi nhận. Các tổ chức KH&CN cũng góp sức. Nhờ đó, nhân lực KH-CN của vùng tăng số lượng. Chất lượng nhân lực được nâng lên. Họ đã đóng góp quan trọng. Góp phần vào phát triển KH&CN và kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, nhiều tỉnh còn nghèo. Quy mô kinh tế còn nhỏ. KH&CN chưa thực sự là nền tảng, động lực.

III.Vai trò lãnh đạo phát triển nhân lực KH CN Duyên hải

Đảng nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng. Phát triển nguồn nhân lực (NNL) mang tính cấp bách. Đại hội XI của Đảng đã xác định. Đây là nhiệm vụ đột phá chiến lược. Nó giúp gỡ nút thắt cho sự phát triển. Đảng đặc biệt coi trọng phát triển đội ngũ. Đó là cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi. Đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi cũng cần thiết. Lao động lành nghề và cán bộ khoa học, công nghệ (KH-CN) đầu đàn được ưu tiên. Đây là định hướng cho cả nước. Các tỉnh, thành phố vùng Duyên hải miền Trung (DHMT) đang thể hiện quyết tâm. Họ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Mục tiêu là đi tắt, đón đầu. Đưa địa phương phát triển nhanh, bền vững. Bài toán về NNL, đặc biệt nhân lực KH-CN, rất cấp thiết. Các tỉnh, thành phố cần tập trung giải quyết. Nguồn lực này có ý nghĩa quyết định. Nó giúp hiện thực hóa các mục tiêu trên. Trách nhiệm đó thuộc về hệ thống chính trị (HTCT) các cấp. Các ngành, các thành phần kinh tế cũng vậy. Toàn dân cùng tham gia. Trong đó, các tỉnh, thành ủy giữ vai trò lãnh đạo. Với tư cách là cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ đại hội đảng bộ. Các tỉnh, thành ủy có nhiệm vụ lãnh đạo phát triển NNL. Trong đó có nhân lực KH-CN. Mục tiêu là đáp ứng yêu cầu về nhân lực. Nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH). Việc này nhằm thực hiện các mục tiêu nghị quyết đại hội đảng bộ tỉnh, thành phố.

3.1. Đại hội Đảng Định hướng đột phá phát triển

Đảng nhận thức rõ tầm quan trọng. Phát triển nguồn nhân lực (NNL) là cấp bách. Đại hội XI của Đảng đã xác định. Đây là nhiệm vụ đột phá chiến lược. Nó giúp gỡ nút thắt cho phát triển quốc gia. Đặc biệt chú trọng phát triển đội ngũ cán bộ. Đó là cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi. Chuyên gia hàng đầu cũng được quan tâm. Quản trị doanh nghiệp giỏi là cần thiết. Lao động lành nghề và cán bộ khoa học, công nghệ (KH-CN) đầu đàn cũng vậy. Đây là kim chỉ nam cho các cấp.

3.2. Cấp ủy địa phương Trách nhiệm và hành động

Các tỉnh, thành ủy vùng Duyên hải miền Trung (DHMT) có trách nhiệm. Họ phải lãnh đạo phát triển NNL. Trong đó có nhân lực KH-CN. Mục tiêu là đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH). Việc này nhằm thực hiện các mục tiêu nghị quyết. Đó là nghị quyết đại hội đảng bộ tỉnh, thành phố. Đây là cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ đại hội. Họ định hướng chiến lược. Họ thúc đẩy triển khai các chính sách. Đảm bảo nguồn nhân lực cần thiết. Hệ thống chính trị các cấp cùng tham gia. Các ngành, thành phần kinh tế cũng vậy. Toàn dân cùng chung tay xây dựng.

IV.Hạn chế lãnh đạo phát triển nhân lực KH CN vùng

Sự lãnh đạo của các tỉnh, thành ủy ở vùng Duyên hải miền Trung (DHMT) còn nhiều hạn chế. Tư duy nhiệm kỳ còn phổ biến. Tầm nhìn còn hẹp. Điều này dẫn đến thiếu chủ trương, chính sách có tính chiến lược. Phát triển nhân lực khoa học công nghệ (KH-CN) và KH&CN bị ảnh hưởng. Việc lãnh đạo quán triệt nghị quyết còn chậm. Tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng và tỉnh, thành ủy chưa nghiêm túc. Chưa đạt yêu cầu đề ra. Việc thể chế hóa, cụ thể hóa nghị quyết gặp khó khăn. Nhiều vướng mắc và bất cập tồn tại. Một số nghị quyết chưa thực sự đi vào cuộc sống. Công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch bị hạn chế. Quy hoạch phát triển nhân lực KH-CN còn nhiều vấn đề. Một số cơ chế, chính sách chậm được đổi mới. Chúng chưa phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Chưa phù hợp với hội nhập quốc tế. Vị trí, vai trò của nhân lực KH-CN chưa được đánh giá đúng. Cách ứng xử chưa phù hợp. Nhân lực KH-CN chưa thực sự được trọng dụng. Do còn nhiều hạn chế trong lãnh đạo, quản lý. Sự phát triển nhân lực KH-CN chưa đáp ứng yêu cầu. Cả về số lượng, cơ cấu và chất lượng. Mặc dù số lượng nhân lực KH-CN có tăng. Nhưng tỷ lệ bình quân trên dân số vẫn còn thấp. Thiếu nhân lực KH-CN trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Thiếu cán bộ khoa học đầu ngành, chuyên gia giỏi. Thiếu nhân lực KH-CN ở các lĩnh vực công nghệ cao. Cơ cấu và phân bố nhân lực KH-CN chưa hợp lý.

4.1. Tầm nhìn và chính sách Thiếu tính chiến lược

Sự lãnh đạo của các tỉnh, thành ủy còn hạn chế. Tư duy nhiệm kỳ còn phổ biến. Tầm nhìn chiến lược bị thu hẹp. Điều này dẫn đến thiếu chủ trương, chính sách. Chính sách phát triển nhân lực khoa học công nghệ (KH-CN) còn yếu. Phát triển KH&CN cũng thiếu tầm nhìn dài hạn. Việc này gây ảnh hưởng nghiêm trọng.

4.2. Triển khai nghị quyết Chậm trễ chưa hiệu quả

Việc lãnh đạo quán triệt nghị quyết còn chậm. Tổ chức thực hiện nghị quyết chưa nghiêm túc. Nghị quyết của Đảng và tỉnh, thành ủy đều bị ảnh hưởng. Mục tiêu phát triển nhân lực KH-CN chưa đạt. Quá trình thể chế hóa còn nhiều vướng mắc. Việc cụ thể hóa nghị quyết gặp khó khăn. Nhiều nghị quyết chưa đi vào cuộc sống. Công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch bị hạn chế. Cơ chế, chính sách chưa được đổi mới kịp thời. Chúng chưa phù hợp kinh tế thị trường. Hội nhập quốc tế cũng là yếu tố cần xem xét.

4.3. Đánh giá và trọng dụng Chưa đúng mức

Vị trí, vai trò của nhân lực KH-CN chưa được đánh giá đúng. Cách ứng xử với nhân lực KH-CN chưa phù hợp. Họ chưa thực sự được trọng dụng. Điều này gây khó khăn trong phát triển. Nhân lực KH-CN chưa đáp ứng yêu cầu. Số lượng, cơ cấu và chất lượng đều có vấn đề. Tỷ lệ nhân lực KH-CN trên dân số còn thấp. Thiếu chuyên gia kỹ thuật cao. Thiếu cán bộ khoa học đầu ngành. Nhân lực KH-CN trong lĩnh vực công nghệ cao còn ít. Cơ cấu và phân bố nhân lực chưa hợp lý.

V.Giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực KH CN vùng

Sau hơn 30 năm đổi mới, các tỉnh, thành phố vùng Duyên hải miền Trung (DHMT) đã có nhiều thay đổi. Trên một số lĩnh vực, sự phát triển đáng ghi nhận. Tuy nhiên, do điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan. Nhiều tỉnh ở vùng DHMT vẫn còn nghèo. Quy mô nền kinh tế còn nhỏ. Khoa học và công nghệ (KH&CN) chậm phát triển. Nó chưa thực sự trở thành nền tảng và động lực quan trọng nhất. KH&CN chưa thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH). Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện của Đảng. Các tỉnh, thành phố vùng DHMT đang thể hiện quyết tâm đổi mới. Họ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Mục tiêu là đi tắt, đón đầu. Đưa địa phương phát triển nhanh, bền vững. Tuy nhiên, bài toán về nguồn nhân lực (NNL) là vấn đề cấp thiết. Đặc biệt là nhân lực KH-CN. Các tỉnh, thành phố phải tập trung giải quyết. Bởi đây là nguồn lực có ý nghĩa quyết định. Nó giúp hiện thực hóa mục tiêu trên. Trách nhiệm đó thuộc về hệ thống chính trị (HTCT) các cấp. Các ngành, các thành phần kinh tế và toàn dân cùng tham gia. Các tỉnh, thành ủy giữ vai trò lãnh đạo chủ chốt. Cần khắc phục thiếu hụt về số lượng. Cải thiện cơ cấu nhân lực KH-CN. Nâng cao chất lượng nhân lực là trọng tâm. Đặc biệt cần nhân lực KH-CN có trình độ cao. Cán bộ khoa học đầu ngành và chuyên gia giỏi cần được đào tạo, thu hút. Phát triển nhân lực KH-CN trong các lĩnh vực công nghệ cao. Điều chỉnh cơ cấu và phân bố nhân lực KH-CN. Đảm bảo sự cân đối, hợp lý. KH&CN phải trở thành nền tảng. Nó cũng là động lực quan trọng nhất. KH&CN thúc đẩy phát triển KT-XH. Vùng DHMT cần đẩy mạnh CNH, HĐH. Hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu. Các địa phương cần đi tắt, đón đầu. Mục tiêu là phát triển nhanh, bền vững.

5.1. Khắc phục thiếu hụt Số lượng cơ cấu chất lượng

Các tỉnh, thành phố cần tập trung giải quyết. Vấn đề nhân lực, đặc biệt nhân lực khoa học công nghệ (KH-CN) rất cấp thiết. Cần khắc phục thiếu hụt về số lượng. Cải thiện cơ cấu nhân lực KH-CN. Nâng cao chất lượng nhân lực là trọng tâm. Đặc biệt cần nhân lực KH-CN có trình độ cao. Cán bộ khoa học đầu ngành và chuyên gia giỏi cần được đào tạo, thu hút. Phát triển nhân lực KH-CN trong các lĩnh vực công nghệ cao. Điều chỉnh cơ cấu và phân bố nhân lực KH-CN. Đảm bảo sự cân đối, hợp lý.

5.2. Đẩy mạnh phát triển KH CN Nền tảng bền vững

Khoa học và công nghệ (KH&CN) phải trở thành nền tảng. Nó cũng là động lực quan trọng nhất. KH&CN thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH). Vùng Duyên hải miền Trung (DHMT) cần đẩy mạnh CNH, HĐH. Hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu. Các địa phương cần đi tắt, đón đầu. Mục tiêu là phát triển nhanh, bền vững. Nguồn lực KH-CN là yếu tố quyết định. Hệ thống chính trị các cấp chịu trách nhiệm. Các ngành, thành phần kinh tế cũng vậy. Các tỉnh, thành ủy giữ vai trò lãnh đạo. Đổi mới toàn diện là cần thiết.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Các tỉnh thành ủy ở vùng duyên hải miền trung lãnh đạo phát triển nhân lực khoa học công nghệ

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (167 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay, vị trí, vai trò của các nguồn lực đối với sự phát triển được nhìn nhận, đánh giá đúng với sự đóng góp của nó, trong đó nguồn nhân lực (NNL) được coi là nguồn lực cơ bản quyết định sự phát triển của mọi quốc gia. Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và bền vững phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản đó là áp dụng công nghệ tiên tiến, phát triển cơ sở hạ tầng hiện đại và NNL chất lượng cao. Trong đó yếu tố hàng đầu và cũng là động lực quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế bền vững chính là NNL, đặc biệt là NNL chất lượng cao. Việt Nam là một nước nông nghiệp đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) gắn với phát triển kinh tế tri thức và để thực hiện có kết quả cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, sớm trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, từ đó rút ngắn khoảng cách tụt hậu với các nước phát triển.

Tuy nhiên trong quá trình thực hiện mục tiêu trên, Việt Nam đang đối mặt với khó khăn, thách thức về NNL chất lượng thấp, khoa học và công nghệ (KH&CN) chậm phát triển, chưa đáp ứng được yêu cầu trong nước và hội nhập quốc tế. Vì thế, đẩy mạnh phát triển NNL, nhất là NNL chất lượng cao và phát triển KH&CN là nhiệm vụ cấp bách hiện nay. Nhận thức rõ vai trò tầm quan trọng và tính cấp bách của phát triển NNL, Đại hội XI của Đảng đã xác định đây là nhiệm vụ đột phá để gỡ nút thắt cho phát triển, trong đó nhấn mạnh “Đặc biệt coi trọng phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ khoa học, công nghệ đầu đàn” [24, tr. Vùng duyên hải miền Trung (DHMT) bao gồm chín tỉnh, thành phố từ Quảng Bình vào đến Khánh Hòa.

Trước yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) những năm qua cùng với đẩy mạnh thu hút, khai thác các nguồn lực khác, các tỉnh, thành ủy đã quan tâm lãnh đạo phát triển NNL (trong đó có nhân lực KH-CN). Nhiều nghị quyết, chủ trương, chương trình, đề án phát triển NNL đã và đang được triển khai thực hiện. Với những nỗ lực của các cấp ủy, chính quyền, của các tổ chức KH&CN và chính nhân lực KH-CN, nhờ đó nhân lực KH-CN của các tỉnh, thành phố trong vùng từng bước tăng về số lượng, chất lượng được nâng lên và đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của KH&CN và phát triển KT-XH của các địa phương. 2 Tuy nhiên, sự lãnh đạo của các tỉnh, thành ủy ở vùng DHMT đối với phát triển nhân lực KH-CN vẫn còn nhiều hạn chế, bấp cập.

Thể hiện ở tầm nhìn còn hạn hẹp, tư duy nhiệm kỳ nên thiếu những chủ trương, chính sách có tính chiến lược trong phát triển nhân lực KH-CN và KH&CN. Việc lãnh đạo quán triệt, tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng và của tỉnh, thành ủy về phát triển NNL, nhân lực KH-CN và phát triển KH&CN còn chậm, chưa nghiêm túc và chưa đạt yêu cầu đề ra. Việc thể chế hóa, cụ thể hóa nghị quyết còn chậm, có nhiều khó khăn, vướng mắc, bất cập nên có những nghị quyết chưa thực sự đi vào cuộc sống. Công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển nhân lực KH-CN còn nhiều hạn chế; một số cơ chế, chính sách cho phát triển nhân lực KH-CN và phát triển KH&CN chậm được đổi mới để phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) và hội nhập quốc tế.

Chưa đánh giá đúng vị trí, vai trò của nhân lực KH-CN nên ứng xử chưa đúng và thực sự trọng dụng nhân lực KH-CN. Do còn nhiều hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý nên sự phát triển nhân lực KH-CN chưa đáp ứng được yêu cầu cả về số lượng, cơ cấu, chất lượng. Mặc dù số lượng nhân lực KH-CN có tăng nhưng tỉ lệ bình quân trên dân số vẫn còn thấp. Thiếu nhân lực KH-CN có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, cán bộ khoa học đầu ngành, chuyên gia giỏi, nhân lực KH-CN ở các lĩnh vực công nghệ cao, cơ cấu và phân bố nhân lực KH-CN chưa hợp lý.

Sau hơn 30 năm đổi mới, các tỉnh, thành phố vùng DHMT đã có nhiều đổi thay, trên một số lĩnh vực có sự phát triển đáng ghi nhận. Tuy nhiên, do điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, đến nay nhiều tỉnh ở vùng DHMT vẫn còn nghèo, quy mô nền kinh tế còn nhỏ, KH&CN chậm phát triển chưa thực sự trở thành nền tảng và động lực quan trọng nhất để phát triển KT-XH. Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện của Đảng, các tỉnh, thành phố vùng DHMT đang thể hiện quyết tâm đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế để đi tắt, đón đầu đưa địa phương phát triển nhanh, bền vững. Tuy nhiên, bài toàn về NNL, nhất là nhân lực KH-CN là vấn đề cấp thiết đang đặt ra đòi hỏi các tỉnh, thành phố phải tập trung giải quyết.

Bởi đó là nguồn lực có ý nghĩa quyết định để hiện thực hóa được mục tiêu trên. Trách nhiệm đó thuộc về hệ thống chính trị (HTCT) các cấp, các ngành, các thành phần kinh tế và toàn dân, trong đó các tỉnh, thành ủy giữ vai trò lãnh đạo. Với tư cách là cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ đại hội đảng bộ tỉnh, thành phố, các tỉnh, thành ủy có nhiệm vụ lãnh 3 đạo phát triển NNL (trong đó có nhân lực KH-CN) đáp ứng yều cầu về nhân lực cho phát triển KT-XH nhằm thực hiện các mục tiêu nghị quyết đại hội đảng bộ tỉnh, thành phố đề ra. Tiếp tục phát huy những kết quả, kinh nghiệm và khắc phục những hạn chế trong thời gian qua, lãnh đạo đẩy mạnh phát triển nhân lực KH-CN là nhiệm vụ trọng tâm của các tỉnh, thành ủy trong giai đoạn hiện nay.

Kết quả thực hiện nhiệm vụ đột phá này là một tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thành trách nhiệm chính trị trước Đảng, trước đảng bộ và nhân dân các địa phương, cũng là thước đo cơ bản phản ánh trình độ, năng lực và sự trưởng thành của đội ngũ ban chấp hành (BCH) các đảng bộ tỉnh, thành phố trong vùng. Từ những vấn đề đặt ra đó, việc nghiên cứu tìm giải pháp khả thi tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh, thành ủy ở vùng DHMT đối với phát triển nhân lực KH- CN hiện nay thực sự là vấn đề rất cấp thiết. Để góp phần thực hiện vấn đề cấp thiết nêu trên, nghiên cứu sinh chọn và thực hiện đề tài luận án tiến sĩ: “Các tỉnh, thành ủy ở vùng duyên hải miền Trung lãnh đạo phát triển nhân lực khoa học - công nghệ giai đoạn hiện nay”. Mục đích, nhiệm vụ của luận án 2.

Mục đích của luận án Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về các tỉnh, thành ủy ở vùng DHMT lãnh đạo phát triển nhân lực KH-CN giai đoạn hiện nay, luận án đề xuất những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh, thành ủy ở vùng DHMT đối với phát triển nhân lực KH-CN đến năm 2025. Nhiệm vụ của luận án - Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài. - Luận giải làm rõ một số vấn đề cơ bản lý luận và thực tiễn về các tỉnh, thành ủy ở vùng DHMT lãnh đạo phát triển nhân lực KH-CN giai đoạn hiện nay. - Khảo sát, đánh giá thực trạng phát triển nhân lực KH-CN và thực trạng lãnh đạo phát triển nhân lực KH-CN của các tỉnh, thành ủy vùng DHMT từ năm 2001 đến nay, chỉ ra ưu, khuyết điểm, nguyên nhân và những kinh nghiệm.

- Đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh, thành ủy ở vùng DHMT đối với phát triển nhân lực KH-CN đến năm 2025. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là các tỉnh, thành ủy ở vùng DHMT lãnh đạo phát triển nhân lực KH-CN giai đoạn hiện nay. Phạm vi nghiên cứu Luận án nghiên cứu sự lãnh đạo phát triển nhân lực KH-CN của các tỉnh, thành ủy ở các tỉnh, thành phố vùng DHMT gồm: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa.

Thời gian nghiên cứu, khảo sát thực tế từ năm 2001 đến nay. Phương hướng và giải pháp được đề xuất có giá trị đến năm 2025. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu 4. Cơ sở lý luận và thực tiễn Cơ sở lý luận của luận án là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng ta về KH&CN, NNL, nhân lực KH-CN, công tác cán bộ.

Cơ sở thực tiễn của luận án là thực trạng phát triển nhân lực KH-CN và thực trạng lãnh đạo phát triển nhân lực KH-CN của các tỉnh, thành ủy ở vùng DHMT từ năm 2001 đến nay. Phương pháp nghiên cứu Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênnin và các phương pháp: phương pháp logic kết hợp lịch sử, phân tích kết hợp tổng hợp, tổng kết thực tiễn, phương pháp thống kê, so sánh và phương pháp chuyên gia. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án - Khái niệm: tỉnh, thành ủy ở vùng DHMT lãnh đạo phát triển nhân lực KH- CN là toàn bộ các hoạt động đề ra nghị quyết, chủ trương về phát triển nhân lực KH-CN; tổ chức thực hiện nghị quyết, chủ trương đã đề ra và kiểm tra, giám sát bảo đảm cho nghị quyết, chủ trương được thực hiện thắng lợi nhằm xây dựng đội ngũ nhân lực KH- CN có số lượng và cơ cấu hợp lý, có chất lượng cao theo yêu cầu của chiến lược phát triển KH&CN, đẩy mạnh CNH, HĐH, phát triển KT - XH và hội nhập quốc tế. - Kinh nghiệm lãnh đạo phát triển nhân lực KH-CN của các tỉnh, thành ủy ở vùng DHMT từ 2001 đến nay: Một là, xây dựng, nâng cao chất lượng tổ chức đảng trong các tổ chức KH&CN thực sự là hạt nhân chính trị lãnh đạo cơ quan, đơn vị 5 thực 6 hiện chủ trương, nghị quyết về phát triển nhân lực KH-CN.

Hai là, trọng dụng nhân tài, đầu tư có trọng điểm cho đào tạo nhân lực KH-CN chất lượng cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Lãnh đạo phát triển nhân lực KH-CN Duyên hải Nam Trung Bộ (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/chinh-tri-hoc/chinh-sach-cong/lanh-dao-phat-trien-nhan-luc-khoa-hoc-cong-nghe-duyen-hai-mien-trung

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Lãnh đạo phát triển nhân lực KH-CN Duyên hải Nam Trung Bộ" nghiên cứu về vấn đề gì?

Tổng kết kinh nghiệm các tỉnh thành ủy duyên hải miền Trung trong lãnh đạo phát triển nhân lực khoa học công nghệ, đáp ứng yêu cầu hội nhập.

Luận án "Lãnh đạo phát triển nhân lực KH-CN Duyên hải Nam Trung Bộ" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Lãnh đạo phát triển nhân lực KH-CN Duyên hải Nam Trung Bộ" thuộc chuyên ngành Khoa học và Công nghệ. Danh mục: Chính Sách Công.

Luận án "Lãnh đạo phát triển nhân lực KH-CN Duyên hải Nam Trung Bộ" có bao nhiêu trang?

Luận án "Lãnh đạo phát triển nhân lực KH-CN Duyên hải Nam Trung Bộ" có 167 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Lãnh đạo phát triển nhân lực KH-CN Duyên hải Nam Trung Bộ" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter