Luận án hoạt động của đại biểu Quốc hội Việt Nam hiện nay - Nghiên cứu khoa học
Luận án phân tích hoạt động đại biểu Quốc hội Việt Nam hiện nay, đánh giá hiệu quả và đề xuất cải cách nâng cao trách nhiệm.
Luan An
Luận án tiến sĩ
Số trang
166
Thời gian đọc
25 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- Vai trò cốt lõi và trách nhiệm ĐBQH trong hệ thống.
- Số trang:
- 166 trang
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I.
Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) là yếu tố then chốt trong hệ thống chính trị Việt Nam. Họ hiện thân cho quyền lực tối cao của Nhân dân. Hiến pháp năm 2013 khẳng định ĐBQH là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cử tri. Vai trò này bao gồm đại diện cho đơn vị bầu cử và Nhân dân cả nước. ĐBQH có trách nhiệm liên hệ chặt chẽ với cử tri. Họ chịu sự giám sát của cử tri. Đại biểu Quốc hội thu thập, phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng đến Quốc hội và các cơ quan hữu quan. Hoạt động của ĐBQH góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. ĐBQH đảm bảo mọi quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Nâng cao chất lượng ĐBQH là nhiệm vụ quan trọng. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng việc đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội và ĐBQH.
1.1. Vị trí đại diện quyền lực nhân dân.
Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) đóng vai trò trung tâm trong hệ thống chính trị Việt Nam. Họ là người đại diện trực tiếp cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân. ĐBQH không chỉ đại diện cho đơn vị bầu cử ra mình mà còn cho toàn thể Nhân dân cả nước. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, và ĐBQH chính là nhân tố quyết định hiệu quả hoạt động của cơ quan này. Hiến pháp năm 2013 khẳng định rõ vị thế này. Toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, được hiện thực hóa một cách sinh động thông qua hoạt động của ĐBQH, đảm bảo nguyên tắc "dân là chủ".
1.2. Trách nhiệm liên hệ phản ánh ý kiến cử tri.
ĐBQH có trách nhiệm liên hệ chặt chẽ, thường xuyên với cử tri. Họ phải chịu sự giám sát trực tiếp từ cử tri. Đại biểu Quốc hội thu thập, tổng hợp và phản ánh một cách trung thực ý kiến, kiến nghị, nguyện vọng của cử tri. Những ý kiến này sau đó được chuyển đến Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan, tổ chức hữu quan để xem xét, giải quyết. Trách nhiệm này không chỉ là nghĩa vụ mà còn là cơ chế quan trọng để đảm bảo tiếng nói của người dân được lắng nghe và tôn trọng, góp phần vào quá trình hoạch định chính sách quốc gia.
1.3. Đảm bảo dân chủ pháp quyền XHCN.
Hoạt động của ĐBQH là minh chứng sống động cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đại biểu Quốc hội hiện thực hóa quyền làm chủ của Nhân dân, đảm bảo mọi quyền lực nhà nước thực sự thuộc về Nhân dân. Vai trò của ĐBQH là then chốt trong việc phát huy dân chủ, từ cấp cơ sở đến cấp quốc gia. Việc đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của ĐBQH luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam coi trọng, coi đây là một nhiệm vụ hàng đầu trong việc xây dựng một Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
II.
Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) thực hiện các chức năng cốt lõi của Quốc hội. Đây là cơ quan lập hiến và lập pháp duy nhất của Việt Nam. ĐBQH tham gia sâu vào quá trình xây dựng, thảo luận và thông qua luật, pháp lệnh. Họ đưa ra các ý kiến quan trọng tại các phiên họp lập pháp. ĐBQH cũng thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Hoạt động giám sát này bao gồm Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Quốc hội và ĐBQH cũng quyết định các vấn đề trọng đại của quốc gia. Các quyết sách này tác động đến mọi mặt đời sống xã hội. Việc thực hiện tốt các chức năng này đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước.
2.1. ĐBQH tham gia quá trình lập pháp.
Quốc hội là cơ quan duy nhất thực hiện quyền lập hiến và lập pháp tại Việt Nam. ĐBQH trực tiếp đóng góp vào quá trình này thông qua việc tham gia thảo luận, cho ý kiến và biểu quyết các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết. Các ý kiến phát biểu của ĐBQH tại các phiên họp toàn thể về lập pháp mang tính xây dựng, phản biện cao, giúp hoàn thiện các quy định pháp luật. Hoạt động lập pháp của ĐBQH đảm bảo rằng các quy phạm pháp luật được ban hành phản ánh đúng thực tiễn cuộc sống, phù hợp với lợi ích của Nhân dân và sự phát triển của đất nước.
2.2. Giám sát tối cao hoạt động của Nhà nước.
Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. ĐBQH là chủ thể quan trọng trong việc thực hiện quyền giám sát này. Họ giám sát việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Các phiên họp toàn thể của Quốc hội thường dành nhiều thời gian cho hoạt động giám sát, bao gồm cả các cuộc chất vấn. Hoạt động giám sát của ĐBQH giúp phát hiện, chấn chỉnh kịp thời những sai sót, tồn tại trong quản lý nhà nước, đảm bảo thực thi pháp luật một cách nghiêm minh, công bằng.
2.3. Quyết định vấn đề quan trọng quốc gia.
Ngoài lập pháp và giám sát, Quốc hội còn có chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. ĐBQH tham gia tích cực vào quá trình thảo luận và biểu quyết các quyết sách chiến lược này. Các vấn đề được quyết định bao gồm kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước, chính sách đối nội, đối ngoại, các dự án trọng điểm quốc gia. Sự tham gia của ĐBQH đảm bảo tính dân chủ, tính đại diện và tính khả thi của các quyết định, góp phần vào sự ổn định và phát triển bền vững của quốc gia.
III.
Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được trao nhiều quyền hạn và nhiệm vụ quan trọng. Họ có quyền chất vấn các thành viên Chính phủ và lãnh đạo ngành. Hoạt động chất vấn này là công cụ giám sát hiệu quả. ĐBQH cũng thực hiện nhiệm vụ tiếp xúc cử tri định kỳ. Họ báo cáo về hoạt động của Quốc hội và bản thân. Đồng thời, ĐBQH lắng nghe, ghi nhận các kiến nghị từ người dân. Một trách nhiệm lớn của ĐBQH là theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Họ hướng dẫn công dân thực hiện quyền này. Những hoạt động này củng cố mối liên hệ giữa ĐBQH và cử tri, đảm bảo tiếng nói người dân được phản ánh kịp thời.
3.1. Quyền chất vấn và đề xuất tại QH.
Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) có quyền chất vấn Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, thành viên Chính phủ khác, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Hoạt động chất vấn là một công cụ mạnh mẽ để ĐBQH thực hiện quyền giám sát, yêu cầu làm rõ trách nhiệm, giải quyết những vấn đề bức xúc trong xã hội. Bên cạnh đó, ĐBQH cũng có quyền kiến nghị, đề xuất các vấn đề quan trọng với Quốc hội và các cơ quan nhà nước. Việc thực hiện các quyền này thể hiện vai trò phản biện, xây dựng của ĐBQH, đóng góp vào quản trị quốc gia hiệu quả.
3.2. Nhiệm vụ tiếp xúc báo cáo cử tri.
ĐBQH có nhiệm vụ thực hiện chế độ tiếp xúc cử tri định kỳ và đột xuất. Trong các buổi tiếp xúc, ĐBQH báo cáo về hoạt động của bản thân và của Quốc hội. Đây là cơ hội để ĐBQH lắng nghe trực tiếp tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị của người dân. Nhiệm vụ này xây dựng cầu nối vững chắc giữa cử tri và cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đảm bảo thông tin hai chiều thông suốt. Việc duy trì tiếp xúc cử tri thường xuyên giúp ĐBQH nắm bắt thực tiễn, từ đó có những đóng góp sát sườn hơn tại Quốc hội.
3.3. Giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân.
Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Họ cũng có vai trò hướng dẫn, giúp đỡ cử tri thực hiện đúng quyền khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật. Đây là một trong những trách nhiệm quan trọng nhất của ĐBQH, thể hiện sự quan tâm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Thông qua hoạt động này, ĐBQH góp phần củng cố niềm tin của công dân vào pháp luật và sự công bằng xã hội.
IV.
Việc đánh giá và nâng cao hiệu quả hoạt động của Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) là một quá trình liên tục. Hiệu quả ĐBQH được đo lường bằng nhiều tiêu chí. Bao gồm mức độ tham gia vào lập pháp, giám sát và khả năng liên hệ với cử tri. Nâng cao chất lượng ĐBQH đòi hỏi các giải pháp đồng bộ. Cần hoàn thiện quy định về bầu cử, ứng cử và tiêu chuẩn đại biểu. Tăng cường ĐBQH hoạt động chuyên trách là một định hướng quan trọng. Đại biểu chuyên trách đóng góp sâu hơn vào công việc Quốc hội. Những nỗ lực này nhằm đảm bảo Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân.
4.1. Tiêu chí đánh giá hiệu quả ĐBQH.
Việc đánh giá hiệu quả hoạt động của Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) cần dựa trên nhiều tiêu chí cụ thể và toàn diện. Các tiêu chí này bao gồm mức độ tham gia vào các hoạt động lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Số lượng và chất lượng các ý kiến phát biểu, chất vấn, và đề xuất của ĐBQH tại các kỳ họp Quốc hội là một chỉ số quan trọng. Khả năng liên hệ, nắm bắt và phản ánh ý kiến, nguyện vọng của cử tri, cùng với việc đôn đốc giải quyết các kiến nghị, khiếu nại cũng là những tiêu chí then chốt. Đánh giá khách quan giúp nhận diện những điểm mạnh, điểm yếu để có giải pháp cải thiện.
4.2. Giải pháp nâng cao chất lượng đại biểu.
Nâng cao chất lượng ĐBQH là một yêu cầu cấp thiết, đã được Đảng và Nhà nước quan tâm đặc biệt. Các giải pháp bao gồm việc hoàn thiện các quy định về bầu cử, ứng cử để đảm bảo lựa chọn được những ứng cử viên có năng lực, tâm huyết. Tiêu chuẩn và cơ cấu đại biểu cần được xem xét khoa học, phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Phát huy tối đa dân chủ trong quá trình bầu cử là yếu tố then chốt. Ngoài ra, việc tăng cường đào tạo, bồi dưỡng về kỹ năng, kiến thức chuyên môn cho ĐBQH cũng là giải pháp quan trọng để họ thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.
4.3. Tăng cường ĐBQH hoạt động chuyên trách.
Một trong những giải pháp trọng tâm để nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội nói chung và ĐBQH nói riêng là tăng hợp lý số lượng ĐBQH hoạt động chuyên trách. Đại biểu chuyên trách dành toàn bộ thời gian, công sức cho công tác Quốc hội, có điều kiện nghiên cứu sâu các vấn đề, tham gia hoạt động một cách chủ động và hiệu quả hơn. Việc hoàn thiện quy chế về vị trí, vai trò, trách nhiệm của đại biểu chuyên trách là cần thiết. Sự gia tăng tỷ lệ ĐBQH chuyên trách giúp nâng cao tính chuyên nghiệp và hiệu suất làm việc của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.
V.
Hoạt động tiếp xúc cử tri và chất vấn là hai kênh quan trọng của Đại biểu Quốc hội (ĐBQH). Chúng thể hiện sự kết nối giữa ĐBQH và Nhân dân. ĐBQH tổ chức nhiều hình thức tiếp xúc cử tri. Mục đích là để thu thập nguyện vọng và phản ánh đến các cơ quan nhà nước. Hoạt động chất vấn tại Quốc hội giúp làm rõ trách nhiệm các thành viên Chính phủ. Nó giải quyết những vấn đề bức xúc của xã hội. ĐBQH không chỉ tiếp nhận thông tin, họ còn giám sát chặt chẽ việc giải quyết các kiến nghị. Điều này đảm bảo tính triệt để và minh bạch. Các hoạt động này củng cố vai trò giám sát của ĐBQH và tăng cường trách nhiệm giải trình của Nhà nước.
5.1. Quy trình tiếp xúc thu thập nguyện vọng.
Hoạt động tiếp xúc cử tri của Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được tổ chức định kỳ và đa dạng về hình thức. Các buổi tiếp xúc cử tri tại đơn vị bầu cử, hội nghị chuyên đề hoặc gặp gỡ trực tuyến là những phương thức phổ biến. Đại biểu lắng nghe trực tiếp, ghi nhận các kiến nghị, thắc mắc, và nguyện vọng của người dân. Toàn bộ thông tin thu thập được sẽ được tổng hợp một cách cẩn trọng. Sau đó, những thông tin này được phân loại và phản ánh kịp thời đến Quốc hội, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xem xét, giải quyết. Quy trình này đảm bảo tính minh bạch và sự tham gia rộng rãi của người dân.
5.2. Hiệu quả hoạt động chất vấn.
Hoạt động chất vấn tại các kỳ họp Quốc hội là một trong những công cụ giám sát quan trọng nhất của ĐBQH. Thông qua chất vấn, ĐBQH yêu cầu các thành viên Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC giải trình về những vấn đề nóng, bức xúc trong xã hội, hoặc những tồn tại trong quản lý, điều hành. Hiệu quả của hoạt động chất vấn không chỉ thể hiện ở việc làm rõ trách nhiệm cá nhân, mà còn ở những chuyển biến tích cực trong công tác quản lý sau đó. Chất vấn góp phần tăng cường tính công khai, minh bạch, nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước.
5.3. Vai trò ĐBQH trong giám sát giải quyết.
Vai trò của ĐBQH không dừng lại ở việc tiếp nhận kiến nghị hay chất vấn. ĐBQH còn có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc và giám sát chặt chẽ quá trình giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của cử tri. Họ đảm bảo rằng các vấn đề được phản ánh đã được cơ quan có thẩm quyền xem xét một cách thỏa đáng và có kết quả cụ thể. Việc đôn đốc, theo dõi đến cùng khẳng định trách nhiệm cao của ĐBQH đối với cử tri. Điều này giúp củng cố lòng tin của người dân vào hoạt động của Nhà nước và sự công bằng của hệ thống pháp luật.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (166 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộDANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT CHLB: Cộng hòa Liên bang CHND: Cộng hòa nhân dân CHXHCN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa CP: Chính phủ ĐBQH: Đại biểu Quốc hội HĐDT: Hội đồng dân tộc HĐND: Hội đồng nhân dân MTTQ: Mặt trận tổ quốc NCS: Nghiên cứu sinh QH: Quốc hội QPPL: Quy phạm pháp luật TAND: Tòa án nhân dân TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao TCQH: Tổ chức Quốc hội UBTVQH: Ủy ban thường vụ Quốc hội VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân VNCLP: Viện Nghiên cứu lập pháp VPQH: Văn phòng Quốc hội XHCN: Xã hội chủ nghĩa DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ Số hiệu Tên bảng, biểu đồ Trang Bảng 2.1 Cơ cấu ĐBQH hoạt động chuyên trách từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa X đến nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV 37 Bảng 3.1 Số lượng các ý kiến phát biểu của ĐBQH tại các phiên họp toàn thể về lập pháp của Quốc hội trong năm 2012 91 Bảng 3.2 Số lượng các ý kiến phát biểu của ĐBQH tại các phiên họp toàn thể về lập pháp của Quốc hội năm 2013 92 Bảng 3.3 Số lượng các phiên họp toàn thể dành cho hoạt động giám sát tại kỳ họp Quốc hội 94 Bảng 3.4 Số lượng các phiên họp toàn thể dành cho hoạt động giám sát tại kỳ họp Quốc hội 94 Bảng 3.5 Số lượng các phiên họp toàn thể dành cho hoạt động giám sát tại kỳ họp Quốc hội 95 Bảng 3.6 Số lượng các phiên họp toàn thể dành cho hoạt động giám sát tại kỳ họp Quốc hội 95 Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ phần trăm (%) các phiên họp toàn thể dành cho hoạt động giám sát trên tổng số các phiên họp từ kỳ 1 đến kỳ 6 Quốc hội khóa XIII 95 Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ phần trăm (%) các phiên họp toàn thể dành cho hoạt động giám sát trên tổng số các phiên họp từ kỳ 3 đến kỳ 6 Quốc hội khóa XIV 95 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ở Nhà nước CHXHCN Việt Nam nhân dân là người làm chủ, là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Ở Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, các cơ quan được thiết lập để hiện thực hóa quyền lực của nhân dân trên ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp. Theo đó, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 ghi nhận: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Để QH thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình thì yêu cầu tất yếu đặt ra là các cơ quan của QH và nhất là ĐBQH phải hoạt động tốt, phát huy được đầy đủ vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình. Việc đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của QH và bảo đảm cho hoạt động của ĐBQH nói riêng luôn được Đảng ta coi trọng. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX yêu cầu “nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, hoàn thiện những quy định về bầu cử, ứng cử, về tiêu chuẩn và cơ cấu các đại biểu Quốc hội trên cơ sở thật sự phát huy dân chủ.
Tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách” đồng thời phải “hoàn thiện quy chế về vai trò, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội chuyên trách”. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu: “tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội… hoàn thiện cơ chế bầu cử nhằm nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội; tăng hợp lý số lượng đại biểu chuyên trách, phát huy tốt hơn vai trò của đại biểu và đại biểu Quốc hội”. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nêu: “đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm cho Quốc hội thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nhân dân. Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, tăng hợp lý số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách; có cơ chế để đại biểu Quốc hội gắn bó chặt chẽ và có trách nhiệm với cử tri” là một nhiệm vụ hàng đầu của việc phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục chỉ rõ: “tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất”; “Hoàn thiện thể chế để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan dân cử, nhất là hoạt động lập pháp của 1 Quốc hội, đại biểu Quốc hội…”. Những quan điểm nêu trên là những tư tưởng chỉ đạo quan trọng có tính chất định hướng trong quá trình đổi mới, nâng cao chất lượng, năng lực hoạt động của ĐBQH và QH nói chung. Vị trí, chức năng của QH chỉ được thể hiện rõ khi QH thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ, quyền hạn được quy định. Điều này đòi hỏi ĐBQH phải thực sự đóng vai trò là nhân tố quyết định trong hoạt động của QH.
Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định ĐBQH là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của Nhân dân cả nước. ĐBQH liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng của cử tri với QH, các cơ quan, tổ chức hữu quan; thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của đại biểu và của QH; trả lời yêu cầu và kiến nghị của cử tri; theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và hướng dẫn, giúp đỡ việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo. ĐBQH phổ biến và vận động Nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật. Quá trình đổi mới đất nước đến nay, hoạt động của QH ngày càng thể hiện tập trung trí tuệ, dân chủ; tiêu chuẩn, trình độ, năng lực của đại biểu đều nâng lên rõ rệt, kết quả đạt được trong hoạt động của ĐBQH qua các khóa QH ngày càng tích cực, đóng góp quan trọng vào thành tựu đạt được trong toàn bộ hoạt động của QH nói chung.
Về pháp lý, tại Điều 3 Luật TCQH năm 2014 khẳng định: “Hiệu quả hoạt động của Quốc hội được bảo đảm bằng hiệu quả của các kỳ họp của Quốc hội, hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội…”. ĐBQH phải là một trong những thành tố then chốt, phát huy năng lực đại diện cho cử tri và nhân dân cả nước, tạo nên nền tảng quyền lực vững chắc của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Trong khi đó, thực tiễn hoạt động hiện nay của ĐBQH cho thấy, bên cạnh những kết quả cơ bản đã đạt được, vẫn còn những tồn tại, bất cập trong hoạt động của ĐBQH ở các lĩnh vực lập pháp, giám sát và các lĩnh vực hoạt động khác. Xung quanh các vấn đề về hoạt động của ĐBQH còn có những vấn đề đặt ra như: cơ cấu thành phần ĐBQH tác động đến hoạt động của ĐBQH như thế nào, mối quan hệ giữa ĐBQH với cử tri, tính đại diện của ĐBQH và bài toán giải quyết hài hòa giữa lợi ích địa phương và lợi ích quốc gia trong vai trò đại diện của ĐBQH, phát huy quyền lực nhân dân trong hoạt động của QH… Trong tiến trình đổi mới, hoạt động của ĐBQH so với yêu cầu thực tiễn vẫn còn có khoảng cách nhất định.
2 Từ những lý do trên, NCS chọn chủ đề “Hoạt động của đại biểu Quốc hội ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài Luận án Tiến sĩ luật học. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận, pháp lý, kinh nghiệm của các nước và thực tiễn hoạt động của ĐBQH Việt Nam, luận án có mục đích làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung, yêu cầu hoạt động của ĐBQH; đánh giá những bất cập, hạn chế trong hoạt động của ĐBQH, từ đó đề xuất quan điểm và giải pháp khoa học, khả thi nhằm bảo đảm hơn nữa hoạt động của ĐBQH Việt Nam. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu, Luận án xác định rõ các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau: - Thống kê, phân tích tình hình nghiên cứu về hoạt động của ĐBQH của các tác giả trong và nước ngoài chỉ ra các vấn đề xoay quanh ĐBQH để xác định các nội dung đã thống nhất về hoạt động của ĐBQH.
- Xây dựng hệ thống kiến thức lý luận về ĐBQH và hoạt động của ĐBQH Việt Nam như: khái niệm, đặc điểm, vai trò, yêu cầu, nội dung hoạt động của ĐBQH, những điều kiện bảo đảm cho hoạt động của ĐBQH, nghiên cứu kinh nghiệm của các nước về hoạt động của ĐBQH từ đó rút ra các giá trị cho Việt Nam. - Nghiên cứu đánh giá khách quan, khoa học thực trạng quy định pháp luật và thực trạng hoạt động của ĐBQH: ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân nhằm tạo cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất quan điểm và đưa ra các giải pháp bảo đảm hoạt động của ĐBQH trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. - Đề xuất quan điểm và giải pháp khoa học, khả thi bảo đảm hoạt động của ĐBQH. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.
Về đối tượng nghiên cứu Luận án nghiên cứu đối tượng chính là ĐBQH Việt Nam (quan điểm khoa học về hoạt động của ĐBQH và pháp luật về ĐBQH, thực trạng hoạt động của ĐBQH (khóa XIII, ĐBQH khóa XIV); QH Việt Nam, VPQH, HĐDT và các Ủy ban của QH có liên quan đến hoạt động của ĐBQH) 3. Về phạm vi nghiên cứu - Phạm vi không gian: Luận án có phạm vi nghiên cứu về không gian là hoạt động của ĐBQH ở Việt Nam và hoạt động của ĐBQH một số nước trên thế giới. - Phạm vi thời gian: Luận án chủ yếu nghiên cứu hoạt động của ĐBQH từ 3 năm 2013 đến nay (lấy mốc thời gian nghiên cứu từ sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành). Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 4.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Hoạt động của đại biểu Quốc hội Việt Nam: Vai trò và hiệu quả (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/chinh-tri-hoc/chinh-sach-cong/hoat-dong-cua-dai-bieu-quoc-hoi-viet-nam-hien-nay
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Hoạt động của đại biểu Quốc hội Việt Nam: Vai trò và hiệu quả" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án phân tích hoạt động đại biểu Quốc hội Việt Nam hiện nay, đánh giá hiệu quả và đề xuất cải cách nâng cao trách nhiệm.
Luận án "Hoạt động của đại biểu Quốc hội Việt Nam: Vai trò và hiệu quả" có bao nhiêu trang?
Luận án "Hoạt động của đại biểu Quốc hội Việt Nam: Vai trò và hiệu quả" có 166 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Hoạt động của đại biểu Quốc hội Việt Nam: Vai trò và hiệu quả" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.