Tổng quan về luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Đấu tranh chính trị ở Khánh Hòa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975)" của nghiên cứu sinh Nguyễn Trung Triều (chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Mã số: 62 22 03 13, Đại học Sư phạm - Đại học Huế, người hướng dẫn khoa học: PGS. Lê Cung và TS. Chu Đình Lộc) là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên sâu, giải quyết một khoảng trống học thuật quan trọng trong lịch sử chiến tranh cách mạng Việt Nam.

Trong tiến trình kháng chiến chống Mỹ (1954–1975), cùng với mặt trận quân sự, Đảng Lao động Việt Nam xác định đấu tranh chính trị (ĐTCT) là một hình thức đấu tranh cơ bản, giữ vai trò quyết định trong mọi giai đoạn cách mạng miền Nam. Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây thường tập trung khai thác các chiến dịch quân sự quy mô lớn hoặc các trung tâm đô thị lớn như Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng. Khánh Hòa – địa bàn chiến lược đặc biệt, nơi Mỹ và chính quyền Sài Gòn (CQSG) xây dựng cụm căn cứ quân sự liên hợp khổng lồ (khu liên hợp hải - lục - không quân Cam Ranh, Quân trường Đồng Đế, Trung tâm huấn luyện Biệt động quân Dục Mỹ, Bộ Chỉ huy Tiếp vận 5, Bộ Tư lệnh Vùng II Duyên hải) – chưa từng được khảo sát toàn diện và hệ thống dưới lăng kính của ĐTCT.

Luận án giải quyết cụ thể các câu hỏi nghiên cứu then chốt:

  1. Những yếu tố địa chiến lược, kinh tế - xã hội và chính sách thực dân mới của đối phương đã chi phối và thúc đẩy phong trào ĐTCT ở Khánh Hòa như thế nào?
  2. Sự chỉ đạo chiến lược của Trung ương Đảng, Liên Khu ủy V và Tỉnh ủy Khánh Hòa đã biến đổi linh hoạt ra sao trước các bước chuyển biến của cục diện chiến tranh?
  3. Diễn biến, quy mô, lực lượng và phương thức tiến hành của các cao trào ĐTCT tiêu biểu (đòi thi hành Hiệp định Genève, chống "tố Cộng", phá ấp chiến lược, phong trào Phật giáo 1963, đấu tranh đô thị 1965–1975) diễn ra như thế nào?
  4. ĐTCT ở Khánh Hòa mang những tính chất, đặc điểm quy luật gì và đóng góp những bài học lịch sử nào cho nghệ thuật chiến tranh nhân dân?

Công trình kiểm chứng 3 giả thuyết nghiên cứu cốt lõi:

  • Giả thuyết 1 (H1): Ngay tại một địa bàn hậu cứ quân sự trọng yếu với bộ máy kìm kẹp dày đặc của đối phương, ĐTCT không hề bị triệt tiêu mà trái lại, phát triển liên tục, bền bỉ nhờ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa mục tiêu dân tộc, dân chủ và dân sinh.
  • Giả thuyết 2 (H2): Chính sách dồn dân, lập ấp chiến lược và kỳ thị tôn giáo của CQSG đã tạo ra mâu thuẫn giai cấp và dân tộc gay gắt, biến các khu tập trung thành "ngòi nổ" chính trị ngay sát nách đối phương.
  • Giả thuyết 3 (H3): ĐTCT giữ vai trò độc lập tác chiến đồng thời kết hợp hữu cơ với đấu tranh vũ trang (ĐTVT), tạo thành thế trận "hai chân, ba mũi" vững chắc đưa đến thắng lợi toàn diện vào ngày 2-4-1975.

Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ tỉnh Khánh Hòa gồm 8 đơn vị hành chính (Nha Trang, Diên Khánh, Ninh Hòa, Vạn Ninh, Cam Lâm, Cam Ranh, Khánh Vĩnh, Khánh Sơn) từ ngày 21-7-1954 đến 2-4-1975, xử lý nguồn tư liệu đa dạng trên diện tích tự nhiên 5.197 km² với quy mô dân số biến động từ 203.000 người (năm 1955) đến hơn 400.000 người (năm 1975).


Literature Review và Positioning

Khảo cứu tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài cho thấy các công trình học thuật trong và ngoài nước tập trung vào các dòng chính:

Dòng lý luận chiến tranh cách mạng và bạo lực chính trị: Tổng Bí thư Lê Duẩn (1976) trong Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng đã đặt nền tảng lý luận: "Khái quát chung lại, có thể nói bạo lực cách mạng phải dựa vào hai lực lượng: Lực lượng quân sự, lực lượng chính trị, và bao gồm hai hình thức đấu tranh: ĐTQS, ĐTCT và sự kết hợp giữa hai hình thức ấy" [28]. Đại tướng Võ Nguyên Giáp (2006) định nghĩa ĐTCT là các hình thức đấu tranh không dùng vũ khí quân dụng như bãi công, bãi thị, bãi khóa, biểu tình, dựa vào sức mạnh có tổ chức của quần chúng trên các thế hợp pháp, nửa hợp pháp và bất hợp pháp [48]. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1995, 2013) khẳng định ĐTCT là nghệ thuật độc đáo tạo nên sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân.

Dòng nghiên cứu phong trào đô thị và Phật giáo miền Nam: PGS. Lê Cung (2008, 2013, 2014, 2015) qua hàng loạt công trình chuyên khảo về phong trào Phật giáo 1963 và phong trào đô thị miền Nam đã luận giải sâu sắc tính chất "hội tụ dân tộc" của quần chúng đô thị. Tác giả Trần Hoài et al. (2015) nghiên cứu đô thị Huế; các luận án tiến sĩ của Trần Thị Lan (2014) về Tây Nguyên và Nguyễn Thị Thanh Huyền (2016) về phong trào công nhân đã làm sáng tỏ từng khía cạnh địa bàn và lực lượng.

Dòng nghiên cứu lịch sử địa phương Khánh Hòa: Các ấn phẩm Lịch sử Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa (2001), Lịch sử Đảng bộ Nha Trang (1996), Cam Ranh (1994), Ninh Hòa (1995), Khánh Vĩnh (2015), cùng lịch sử các đoàn thể Hội Nông dân (2002), Hội Phụ nữ (1992), Tỉnh đoàn (2017) đã phản ánh tiến trình kháng chiến nhưng mang tính đơn ngành, chủ yếu ghi nhận sự kiện dưới sự lãnh đạo của Đảng mà chưa đi sâu đối chiếu tư liệu của đối phương.

Dòng nghiên cứu và tài liệu quốc tế: Đỗ Mậu (1991) trong Tâm sự tướng lưu vong thừa nhận các biện pháp cưỡng chế chính trị tại Khánh Hòa nhằm xây dựng "thành trì chống Cộng". Ở tầm quốc tế, các học giả và chính khách Mỹ nhìn nhận ĐTCT như nguyên nhân cốt lõi dẫn đến thất bại của Mỹ: Gabriel Kolko (1991) trong Giải phẫu một cuộc chiến tranh nhận định: "Họ tiến hành một cuộc chiến bằng chính trị... Nhân dân là quân đội, tất cả đều là chiến sĩ" [46]; Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Robert S. McNamara (1995) cay đắng thừa nhận: "Chúng ta đã không nhận ra được những hạn chế của các thiết bị quân sự kỹ thuật cao và hiện đại, lực lượng quân sự và học thuyết quân sự trong khi đối đầu với những phong trào nhân dân được thúc đẩy cao và không bình thường" [137, tr. 322]; Douglas Ramit (2004) khẳng định Việt Nam chiến thắng nhờ sức mạnh chính trị [27].

Tranh luận học thuật và định vị nghiên cứu: Tồn tại hai quan điểm đối lập: CQSG và giới quân sự Mỹ xem các cuộc phản kháng tại Khánh Hòa chỉ là "sự xúi giục của cộng sản" hoặc các bất ổn cục bộ cần giải quyết bằng cảnh sát và quân sự. Ngược lại, quan điểm của sử học mác-xít khẳng định ĐTCT là sự bùng nổ tất yếu xuất phát từ mâu thuẫn nội tại giữa chủ nghĩa thực dân mới với quyền lợi dân tộc, dân sinh. Luận án định vị nghiên cứu ở điểm giao thoa: lần đầu tiên phục dựng bức tranh ĐTCT tại Khánh Hòa một cách toàn diện suốt 21 năm, kết hợp nguồn tư liệu lưu trữ của cả hai phía để chứng minh ĐTCT là một mặt trận tiến công chiến lược độc lập và hỗ trợ đắc lực cho quân sự tại một "siêu căn cứ" hậu cần chiến tranh.


Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án đóng góp quan trọng vào việc hoàn thiện lý thuyết Chiến tranh nhân dân và Bạo lực cách mạng trong bối cảnh đối đầu với chiến tranh thực dân mới:

  • Mở rộng học thuyết Bạo lực cách mạng: Khẳng định bạo lực cách mạng tại vùng địch kiểm soát gắt gao không đơn thuần là bạo lực vũ trang mà là sự phối hợp giữa lực lượng chính trị quần chúng với lực lượng vũ trang nhân dân.
  • Xác lập mô hình chuyển hóa thế trận: Minh chứng sinh động cho khả năng biến các hình thức đấu tranh bất hợp pháp thành hợp pháp và nửa hợp pháp, tận dụng triệt để các kẽ hở pháp lý và mâu thuẫn nội bộ của bộ máy thống trị để tổ chức quần chúng.
  • Mệnh đề khoa học (Theoretical Propositions):
    • Mệnh đề 1 (P1): Cường độ ĐTCT tỷ lệ thuận với mức độ áp bức chính trị và kỳ thị văn hóa - xã hội của chính quyền tay sai, biểu hiện qua sự bùng nổ của phong trào Phật giáo 1963 và làn sóng chống "tố Cộng".
    • Mệnh đề 2 (P2): ĐTCT đạt hiệu quả tối ưu khi tạo lập được sự liên kết không gian ba vùng chiến lược (đô thị - đồng bằng - miền núi) và sự cộng hưởng đa thành phần (nông dân, phụ nữ, học sinh - sinh viên, trí thức, tín đồ tôn giáo).

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án được xây dựng dựa trên sự tích hợp ba chiều kích lý thuyết:

  1. Lý thuyết Chiến tranh nhân dân: Phân tích phương châm "hai chân, ba mũi" (hai chân: quân sự - chính trị; ba mũi: quân sự, chính trị, binh vận).
  2. Lý thuyết Phong trào xã hội đô thị: Khảo sát cấu trúc cơ hội chính trị (Political Opportunity Structure), mạng lưới huy động nguồn lực qua các tổ chức tôn giáo (Phật học viện Hải Đức Nha Trang), nghiệp đoàn công nhân và các hội đồng hương (Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên).
  3. Lý thuyết Cấu trúc thực dân mới: Phân tích tác động kinh tế - chính trị của viện trợ Mỹ, chính sách cải cách điền địa (Dụ số 2, Dụ số 7), và quá trình quân sự hóa không gian sống tại các đô thị Nha Trang, Cam Ranh.

Boundary conditions (Điều kiện biên) của mô hình được xác định rõ: Khung phân tích áp dụng tối ưu cho các địa bàn duyên hải có cơ cấu kinh tế đa dạng (nông - ngư nghiệp và dịch vụ căn cứ quân sự), có sự hiện diện của các trung tâm tôn giáo lớn và chịu sự kiểm soát chặt chẽ của các căn cứ liên hợp hải - lục - không quân.


Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

  • Triết lý nghiên cứu (Epistemological Stance): Luận án vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp luận Hiện thực phê phán (Critical Realism) nhằm xem xét các sự kiện lịch sử trong mối quan hệ nhân quả khách quan, đặt trong bối cảnh cụ thể của không gian và thời gian.
  • Thiết kế nghiên cứu đa tầng (Multi-level Design):
    • Tầng vĩ mô: Chủ trương chiến lược của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Liên Khu ủy V.
    • Tầng trung mô: Sự lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể của Tỉnh ủy Khánh Hòa và các huyện/thị ủy.
    • Tầng vi mô: Các phong trào quần chúng cụ thể tại cơ sở (nhà máy, bến cảng Cam Ranh, các xã nông thôn Ninh Hòa, Diên Khánh và các ngôi chùa, trường học tại thị xã Nha Trang).

Quy trình nghiên cứu rigorous

Luận án áp dụng phương pháp Lịch sử kết hợp phương pháp Logic như hai trụ cột chính, đồng thời triển khai quy trình tam giác hóa tư liệu (Data Triangulation) nghiêm ngặt:

  • Nguồn tư liệu lưu trữ của CQSG: Khai thác hàng trăm hồ sơ mật tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP. Hồ Chí Minh), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV (Đà Lạt), Chi cục Văn thư Lưu trữ tỉnh Khánh Hòa (các công văn, báo cáo định kỳ của Tỉnh trưởng Khánh Hòa, Nha Cảnh sát và Công an Trung Nguyên Trung Phần, Tòa án Quân sự Nha Trang).
  • Nguồn tư liệu của Đảng và Cách mạng: Văn kiện Đảng toàn tập, tài liệu tổng kết của Tỉnh ủy Khánh Hòa, hồi ký của các đồng chí lãnh đạo tiền bối.
  • Nguồn tư liệu điền dã và nhân chứng lịch sử: Khảo sát thực địa tại các di tích lịch sử (Cải hối thất Nha Trang, Công trường Trình Minh Thế, căn cứ Hòn Hèo, Đá Bàn, Tô Hạp) và tiến hành phỏng vấn sâu các nhân chứng lịch sử từng trực tiếp tham gia chỉ đạo và xuống đường đấu tranh.
  • Độ tin cậy và kiểm chứng (Validity & Reliability): Mọi sự kiện, số liệu đều được đối chiếu chéo giữa báo cáo của CQSG và tư liệu kháng chiến nhằm loại trừ tính chủ quan, đảm bảo độ chính xác sử học cao nhất.

Data và phân tích

Nghiên cứu xử lý khối lượng dữ liệu định lượng và định tính cụ thể:

  • Dữ liệu chính trị - an ninh: Phân tích số liệu 1.475 cán bộ, nhân dân bị bắt giam tại Cải hối thất Nha Trang theo báo cáo ngày 12-9-1956; chuyến tàu đày 80 tù chính trị Khánh Hòa ra Côn Đảo ngày 30-4-1957; quy mô 281 ấp chiến lược (trên tổng số 326 ấp toàn tỉnh) do Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Lý phê duyệt năm 1962 với 17 "Đoàn xây dựng ACL".
  • Dữ liệu quân sự đối phó: Phân tích quy mô chiến dịch càn quét căn cứ miền núi "Thiềm đầu thủy" (1-6 đến 25-8-1963) huy động 2.600 quân, 23 máy bay trực thăng, 2 máy bay trinh sát, 5 máy bay khu trục và 1 đại đội pháo 105 ly dưới sự chỉ huy trực tiếp của Tôn Thất Đính.
  • Dữ liệu dân cư và xã hội: Khảo sát làn sóng di cư 1954 gồm 6.660 người (chiếm 10,5% toàn miền Trung) và cơ cấu 6 trại định cư cuối năm 1956 với 8.648 nhân khẩu (Ba Làng: 848 người, Văn Đăng: 380 người, Văn Tứ: 2.051 người, Xuân Ninh: 1.292 người, Văn Thủy: 2.577 người, Phước Hải: 1.648 người).

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  1. Bản chất thực dân mới và sự phân hóa xã hội sâu sắc: Luận án chứng minh CQSG đã biến Khánh Hòa thành trung tâm quân sự hóa cực đoan. Sự hiện diện của quân đội Mỹ và tư bản thầu khoán gia đình họ Ngô (Ngô Đình Cẩn, Trần Lệ Xuân thao túng Công ty CATRACO, khách sạn, biệt thự cho Mỹ thuê giá 480.000 đồng/tháng tại Nha Trang) đã đẩy mâu thuẫn xã hội lên đỉnh điểm.
  2. Sự phá sản của chính sách dồn dân và "quốc sách" Ấp chiến lược: Bằng chứng lịch sử cho thấy việc CQSG dồn đồng bào Nùng vào trại Văn Thủy (Cam Lâm) hay dồn nông dân vào 281 ACL đã phản tác dụng. Tác giả Trần Bạch Đằng nhận định sâu sắc: việc tập trung dân cư đã tạo điều kiện cho nhân dân liên kết, "Mỹ và CQSG đã 'mời' cách mạng đến sát mình. Đây chính là điều kiện quan trọng để ĐTCT bùng nổ" [43].
  3. Vai trò hạt nhân của Phật giáo và phong trào đô thị 1963: Luận án khẳng định Phật học viện Hải Đức Nha Trang là nơi hội tụ các bậc cao tăng thạch trụ, giữ vai trò lãnh đạo tinh thần và cung cấp nhân lực xung kích cho cuộc đấu tranh đòi tự do tín ngưỡng, bình đẳng tôn giáo, làm lung lay tận gốc chế độ Ngô Đình Diệm.
  4. Sự sáng tạo của các hình thức tổ chức hợp pháp: Khám phá các phương thức hoạt động biến hóa như tổ chức "Sao Việt" (1971–1975), mạng lưới hội đồng hương, hội tương tế của đồng bào miền Trung giúp duy trì mạch máu cơ sở cách mạng ngay trong lòng thị xã Nha Trang.
  5. Quy luật phối hợp ĐTCT và ĐTVT: ĐTCT không chỉ đi trước mở đường trong phong trào đòi thi hành Hiệp định Genève (1954–1956), Đồng khởi miền núi (1959–1960), giải phóng nông thôn đồng bằng (1964–1965) mà còn trực tiếp phối hợp nổi dậy làm rối loạn hậu phương địch trong Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 và giải phóng hoàn toàn tỉnh Khánh Hòa vào mùa Xuân 1975.

Implications đa chiều

  • Về mặt học thuật: Làm sâu sắc thêm lịch sử kháng chiến Nam Trung Bộ, bác bỏ luận điệu cho rằng phong trào đấu tranh tại các căn cứ quân sự miền Nam chỉ mang tính thụ động hoặc bị chi phối thuần túy từ bên ngoài.
  • Về mặt phương pháp luận: Cung cấp hình mẫu về phương pháp khai thác, đối chiếu và thẩm định nguồn tài liệu lưu trữ của CQSG kết hợp với nguồn tư liệu lịch sử Đảng.
  • Về mặt thực tiễn và chính sách: Rút ra các bài học kinh nghiệm về công tác dân vận, xây dựng "thế trận lòng dân", quản lý an ninh tôn giáo và dân tộc, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc tại địa bàn chiến lược duyên hải Nam Trung Bộ hiện nay.

Limitations và Future Research

  • Hạn chế về nguồn tư liệu: Do điều kiện chiến tranh khốc liệt kéo dài, một số tài liệu lưu trữ gốc của các cấp ủy cơ sở ở vùng sâu, vùng xa bị thất lạc hoặc hư hỏng.
  • Hạn chế về nhân chứng lịch sử: Thời điểm thực hiện luận án (2018), nhiều nhân chứng lịch sử trực tiếp lãnh đạo phong trào trong giai đoạn 1954–1965 đã qua đời hoặc sức khỏe suy giảm, gây khó khăn cho việc phỏng vấn hồi ức chuyên sâu.
  • Hướng nghiên cứu tương lai:
    1. Mở rộng so sánh định lượng về phong trào ĐTCT giữa Khánh Hòa với các địa bàn căn cứ liên hợp tương đồng như Đà Nẵng, Cam Ranh, Quy Nhơn.
    2. Khai thác sâu hơn nguồn tài liệu giải mật từ Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hoa Kỳ (NARA) và cơ quan tình báo CIA về các cuộc bãi công của công nhân người Việt phục vụ tại căn cứ quân sự Cam Ranh.
    3. Ứng dụng công nghệ Hệ thông tin Địa lý (GIS) để số hóa bản đồ không gian mạng lưới cơ sở ĐTCT và các tuyến biểu tình tại đô thị Nha Trang qua các thời kỳ.

Tác động và ảnh hưởng

  • Giá trị học thuật: Luận án là công trình chuyên khảo toàn diện đầu tiên về ĐTCT tại Khánh Hòa (1954–1975), đóng góp nguồn trích dẫn quan trọng cho các công trình nghiên cứu lịch sử quân sự, lịch sử Đảng và phong trào đô thị Việt Nam.
  • Tác động giáo dục: Cung cấp nguồn sử liệu chuẩn xác phục vụ trực tiếp công tác giảng dạy lịch sử địa phương tại các trường đại học, cao đẳng và hệ thống trường chính trị tỉnh Khánh Hòa.
  • Tác động xã hội và chính sách: Giúp các cơ quan quản lý văn hóa - lịch sử địa phương lập hồ sơ xếp hạng di tích lịch sử cách mạng (như Cải hối thất Nha Trang, Tòa án Quân sự Nha Trang, các cơ sở in ấn hợp pháp); nâng cao niềm tự hào và giáo dục lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và Giảng viên Lịch sử: Tiếp cận phương pháp luận xử lý tài liệu lưu trữ đối chiếu hai phía và hệ thống hóa tư liệu lịch sử Nam Trung Bộ.
  • Các nhà nghiên cứu văn hóa - tôn giáo: Nắm bắt tư liệu phong phú về phong trào Phật giáo 1963 và chính sách tôn giáo thời kỳ 1954–1975.
  • Ban Tuyên giáo và Cơ quan Dân vận các cấp: Ứng dụng bài học lịch sử về tập hợp quần chúng, giải quyết mâu thuẫn xã hội và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Câu hỏi chuyên sâu

  1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Đó là việc mở rộng học thuyết Chiến tranh nhân dân và Bạo lực cách mạng của Lê Duẩn và Võ Nguyên Giáp, chứng minh quy luật phát triển của ĐTCT tại một địa bàn đặc thù: hậu cứ an toàn với các siêu căn cứ quân sự liên hợp của đối phương.

  2. Điểm mới mang tính đột phá về phương pháp nghiên cứu? Sự kết hợp tam giác hóa tư liệu giữa nguồn tài liệu của chính quyền cách mạng, lịch sử truyền khẩu và nguồn hồ sơ lưu trữ gốc của CQSG (Nha Cảnh sát Trung Nguyên Trung Phần, Tòa án Quân sự Nha Trang, Chi cục Văn thư Lưu trữ tỉnh Khánh Hòa).

  3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực chứng? Chính sách dồn dân di cư và gom dân lập trại kiểu mẫu (như trại Văn Thủy - Đồng Lác) nhằm cô lập cách mạng đã vô tình biến các khu tập trung thành nơi tích tụ mâu thuẫn kinh tế - xã hội gay gắt, tạo điều kiện thuận lợi để cách mạng gây dựng cơ sở và bùng nổ ĐTCT.

  4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập nghiên cứu (Replication Protocol) không? Có. Toàn bộ mã định danh hồ sơ lưu trữ, hệ thống biên mục công văn của CQSG tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, IV và danh mục nhân chứng phỏng vấn đều được hệ thống hóa chi tiết trong phần phụ lục và chú thích.

  5. Chương trình nghiên cứu dài hạn được gợi mở? Xây dựng cơ sở dữ liệu số về phong trào phản chiến đô thị Nam Trung Bộ và đối sánh mô hình ĐTCT vùng căn cứ quân sự tại Việt Nam với các phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á thế kỷ XX.


Kết luận

Luận án "Đấu tranh chính trị ở Khánh Hòa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975)" của tác giả Nguyễn Trung Triều là một công trình khoa học nghiêm túc, mẫu mực với những đóng góp nền tảng:

  1. Hệ thống hóa toàn diện quá trình hình thành, phát triển và thắng lợi của phong trào ĐTCT tại Khánh Hòa suốt 21 năm (1954–1975).
  2. Làm rõ bản chất phản động của chính sách thực dân mới, phân biệt tôn giáo, dồn dân lập ấp của Mỹ và CQSG tại địa bàn trọng điểm quân sự duyên hải.
  3. Chứng minh tính đúng đắn, sáng tạo trong đường lối lãnh đạo của Đảng và Tỉnh ủy Khánh Hòa qua phương châm kết hợp "hai chân, ba mũi".
  4. Khai thác và xử lý khối lượng lớn tư liệu lưu trữ hai phía, bổ sung nhiều cứ liệu lịch sử mới chưa từng công bố.
  5. Rút ra 3 bài học lịch sử sâu sắc về xây dựng lực lượng chính trị, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân và nghệ thuật tạo thời cơ cách mạng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hôm nay.