Nguyễn Xuân Chiến: Phối âm trong các tác phẩm hợp xướng Việt Nam - Luận án Tiến sĩ Âm nhạc học
"Phân tích phối âm trong hợp xướng Việt Nam, khám phá đặc điểm và kỹ thuật âm nhạc dân tộc trong tác phẩm."
Nhạc viện TP. Hồ Chí Minh
Luan An
Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản
Số trang
201
Thời gian đọc
31 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Cơ sở lịch sử và lý luận phối âm hợp xướng Việt Nam
- Số trang:
- 201 trang
- Trường:
- Nhạc viện TP. Hồ Chí Minh
- Chuyên ngành:
- Âm nhạc học
- Tác giả:
- Nguyễn Xuân Chiến
- Năm:
- 2023
Tóm tắt nội dung luận án
I. Cơ sở lịch sử và lý luận phối âm hợp xướng Việt Nam
Nền âm nhạc kinh viện Việt Nam tiếp nhận thể loại hợp xướng từ phương Tây vào giữa thế kỷ XX. Quá trình phát triển gắn liền với các giai đoạn lịch sử dân tộc. Hợp xướng trở thành phương tiện biểu đạt tinh thần tập thể mạnh mẽ. Các nhạc sĩ Việt Nam tiếp thu bài bản hệ thống lý thuyết hòa thanh và phức điệu châu Âu. Đồng thời, các tác giả kết hợp chặt chẽ với chất liệu âm nhạc truyền thống bản địa. Nghệ thuật phối âm hợp xướng đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về giọng hát và cấu trúc tác phẩm. Phối âm không đơn thuần là sắp xếp các nốt nhạc. Đây là sự hòa quyện âm thanh giữa các giọng người để tạo nên bức tranh cảm xúc hoàn chỉnh. Các công trình nghiên cứu lý luận đặt nền móng vững chắc cho việc thực hành sáng tác chuyên nghiệp. Nghiên cứu phối âm giúp hệ thống hóa các phương pháp biên soạn và dàn dựng. Thể loại này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao thẩm mỹ âm nhạc của công chúng.
1.1. Khái niệm và bản chất của phối âm hợp xướng
Phối âm cho hợp xướng là nghệ thuật tổ chức các giọng hát thành một thể thống nhất. Khác với khí nhạc, hợp xướng sử dụng trực tiếp giọng người và ngôn ngữ văn học. Mỗi giọng hát mang âm sắc, âm vực và đặc tính biểu cảm riêng biệt. Người biên soạn phải nắm vững tính năng của từng loại giọng. Kỹ thuật hòa âm giúp tạo nên sự cân bằng âm lượng giữa các bè. Nghệ thuật phối âm hợp xướng tạo ra không gian âm thanh đa chiều và giàu màu sắc. Việc liên kết các bè giọng đòi hỏi sự chuẩn xác về cao độ và trường độ. Phối âm tốt giúp làm nổi bật giai điệu chính và ý đồ nghệ thuật của tác giả. Kỹ năng này còn giúp khai thác tối đa tiềm năng biểu cảm của tập thể hợp xướng.
1.2. Tiến trình hình thành hợp xướng giao hưởng Việt Nam
Hợp xướng Việt Nam bắt đầu nhen nhóm từ phong trào ca khúc cách mạng trong kháng chiến. Đến thập niên 1960, các tác phẩm quy mô lớn bắt đầu xuất hiện. Nhạc sĩ Việt Nam được đào tạo bài bản tại các nhạc viện danh tiếng trong nước và quốc tế. Thể loại hợp xướng giao hưởng Việt Nam từng bước khẳng định vị thế trong đời sống văn hóa. Nhiều bản hợp xướng đồ sộ ra đời ca ngợi quê hương, đất nước và con người lao động. Sự kết hợp giữa dàn hợp xướng và dàn nhạc giao hưởng tạo nên sức mạnh biểu cảm hùng tráng. Các tác phẩm kinh điển của Đỗ Nhuận, Hoàng Vân hay Doãn Nho là những mốc son tiêu biểu. Giai đoạn hiện nay ghi nhận sự tìm tòi ngôn ngữ âm nhạc mới mẻ và hiện đại. Thể loại này tiếp tục phát triển và phản ánh hơi thở của thời đại mới.
II. Các thủ pháp kỹ thuật phối âm hợp xướng Việt Nam
Kỹ thuật phối âm trong hợp xướng Việt Nam thể hiện sự đa dạng và sáng tạo không ngừng. Nhạc sĩ vận dụng linh hoạt các nguyên lý hòa thanh kinh điển phương Tây vào cấu trúc tác phẩm. Bố cục các bè được tính toán kỹ lưỡng nhằm tạo hiệu quả biểu cảm tối ưu. Các thủ pháp phức điệu và chủ điệu đan xen nhịp nhàng trong từng phân đoạn. Sự chuyển đổi linh hoạt giữa các hình thức trình diễn mang lại sự phong phú về âm sắc. Kỹ thuật đa âm trong hợp xướng giúp mở rộng không gian và chiều sâu cho tác phẩm. Nhạc sĩ chú trọng khai thác âm khu thuận lợi của từng loại giọng để đạt độ vang đẹp. Việc sử dụng các quãng thuận và quãng nghịch có chủ đích tạo nên những điểm nhấn cảm xúc kịch tính. Thủ pháp phối âm đóng vai trò quyết định đến thành công của việc dàn dựng tác phẩm.
2.1. Ứng dụng phối âm phức điệu tương phản và mô phỏng
Phức điệu là một trong những phương tiện biểu hiện quan trọng của hợp xướng bác học. Thủ pháp phối âm phức điệu tương phản giúp các bè đối thoại độc lập với nhau. Mỗi bè giai điệu mang một đường nét, tiết tấu và cá tính riêng biệt. Sự va đập giữa các luồng giai điệu tạo nên kịch tính âm nhạc sâu sắc. Bên cạnh đó, thủ pháp mô phỏng và canon được áp dụng rộng rãi. Giai điệu từ bè này được nhắc lại ở các bè khác tại các cao độ khác nhau. Kỹ thuật đa âm trong hợp xướng mang lại cảm giác không gian âm thanh cuộn trào, lớp lang. Nhạc sĩ Việt Nam kết hợp thủ pháp này với tiết tấu dân gian để tạo nét độc đáo. Cách viết này đòi hỏi người phối âm phải có tư duy logic và trình độ kỹ thuật cao.
2.2. Xây dựng hòa thanh hợp xướng Việt Nam đa sắc
Hệ thống hòa thanh hợp xướng Việt Nam có sự giao thoa độc đáo giữa Đông và Tây. Nhạc sĩ sử dụng hệ thống hợp âm ba, hợp âm bảy kinh điển làm khung sườn cấu trúc. Đồng thời, các chùm âm không định hướng và hợp âm chồng quãng tư, quãng năm được bổ sung. Cách phối hợp này tạo nên màu sắc huyền ảo, gần gũi với âm hưởng truyền thống dân tộc. Hòa thanh không chỉ đóng vai trò nâng đỡ giai điệu mà còn tự thân kể chuyện. Việc giải quyết các nghịch âm được xử lý tinh tế theo quy luật dẫn dắt giọng nói tiếng Việt. Sự tương phản giữa các mảng hòa thanh đặc và loãng tạo nên độ căng cảm xúc rõ nét. Nghệ thuật hòa âm nâng tầm tác phẩm lên chuẩn mực hàn lâm quốc tế.
2.3. Tổ chức phân bè hợp xướng SATB và A cappella
Mô hình chuẩn phân bè hợp xướng SATB gồm Soprano, Alto, Tenor và Bass luôn là nền tảng cốt lõi. Người viết phối hợp bốn bè để tạo ra sự đầy đặn và cân đối về dải tần âm thanh. Soprano đảm nhận các nét giai điệu thanh thoát, vút cao. Alto mang lại chất giọng ấm áp, gắn kết trung âm. Tenor tạo độ vang sáng, truyền cảm. Bass giữ vai trò trụ cột, tạo nền móng hòa âm vững chắc cho toàn bộ dàn hợp xướng. Khi biểu diễn hợp xướng không nhạc đệm A cappella, yêu cầu phối âm càng trở nên khắt khe. Các giọng hát phải tự đảm nhiệm cả chức năng giai điệu lẫn phần đệm tiết tấu và hòa âm. Nghệ thuật hát A cappella phô diễn vẻ đẹp tinh khiết tuyệt đối của giọng người.
III. Xử lý ca từ trong phối âm hợp xướng Việt Nam đặc thù
Đặc thù ngôn ngữ tiếng Việt là tiếng đơn lập có thanh điệu rõ ràng. Sáu thanh điệu gồm ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng ảnh hưởng trực tiếp đến đường nét giai điệu. Người phối âm hợp xướng phải xử lý khéo léo mối quan hệ giữa ca từ và cao độ. Nếu phối âm bất cẩn, thanh điệu bị bẻ cong sẽ làm sai lệch hoàn toàn ý nghĩa lời ca. Bên cạnh ngôn ngữ, hệ thống điệu thức truyền thống là cội nguồn của bản sắc âm nhạc dân tộc. Thang âm điệu thức ngũ cung được vận dụng linh hoạt trong các cấu trúc đa bè phức tạp. Sự kết hợp giữa điệu thức phương Đông và hòa âm phương Tây tạo ra những sáng tạo độc đáo. Nghệ thuật xử lý ca từ và điệu thức đòi hỏi tài năng và sự am tường sâu sắc về văn hóa dân tộc.
3.1. Nghệ thuật xử lý thanh điệu tiếng Việt trong hợp xướng
Xử lý thanh điệu tiếng Việt trong hợp xướng là thử thách lớn đối với người sáng tác. Mỗi từ ngữ khi vang lên ở các bè khác nhau cần giữ nguyên ngữ nghĩa chuẩn xác. Khi nhiều bè cùng hát một lời ca với cao độ khác nhau, nguy cơ đổi nghĩa từ rất dễ xảy ra. Nhạc sĩ áp dụng kỹ thuật hát đồng âm hoặc phân bè hòa âm theo hướng tương đồng với thanh điệu. Đối với các đoạn phức điệu, ca từ ở từng bè được bố trí so le về thời điểm phát âm. Kỹ thuật xướng âm Bel Canto được điều chỉnh mềm mại để phù hợp với khẩu hình phát âm tiếng Việt. Lời ca vừa tròn vành rõ chữ, vừa giữ được sự mượt mà và vang sáng của giọng hát hợp xướng.
3.2. Vận dụng thang âm điệu thức ngũ cung truyền thống
Âm nhạc dân gian Việt Nam xây dựng chủ yếu trên thang âm điệu thức ngũ cung. Các điệu thức Bắc, Nam, Oán, Xuân mang những màu sắc cảm xúc riêng biệt. Nhạc sĩ phối âm đã khéo léo đưa hệ thống năm âm này vào cấu trúc hợp âm nhiều bè. Các hợp âm không chứa quãng nửa cung tạo nên không gian âm nhạc mở và trong trẻo. Việc chuyển hệ và dịch giọng ngũ cung được thực hiện mượt mà giữa các phân đoạn. Điệu thức truyền thống giúp tác phẩm mang đậm hơi thở tâm hồn người Việt. Sự giao thoa giữa tư duy phức điệu Tây phương và chất liệu ngũ cung tạo nên những tác phẩm hợp xướng đỉnh cao. Đây là hướng đi khẳng định dấu ấn độc lập của nền khí nhạc và thanh nhạc Việt Nam.
IV. Nghệ thuật đệm đàn và phối âm hợp xướng Việt Nam mới
Phần đệm nhạc cụ đóng vai trò tương tác bình đẳng và đối thoại cùng dàn hợp xướng. Phần đệm có thể là đàn piano đơn lẻ hoặc toàn bộ dàn nhạc giao hưởng thính phòng. Người phối âm xây dựng phần đệm như một bè độc lập, bổ trợ hòa thanh và tiết tấu. Phần đệm tạo không gian kịch tính và làm phong phú thêm màu sắc cho giọng hát. Bên cạnh các tác phẩm viết mới, công tác chuyển soạn dân ca giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Nhiều làn điệu dân ca Quan họ, Trống quân, dân ca Nam Bộ được khoác áo mới qua hình thức hợp xướng. Việc chuyển soạn giúp bảo tồn và lan tỏa di sản văn hóa dân tộc trong môi trường nghệ thuật hàn lâm.
4.1. Vai trò của phần đệm piano và dàn nhạc giao hưởng
Phần đệm piano giữ vai trò thiết yếu trong việc định hình tiết tấu và giữ nhịp cho dàn hợp xướng. Cây đàn piano có khả năng mô phỏng hòa thanh rộng lớn và tạo nền âm thanh chắc chắn. Khi nâng cấp lên dàn nhạc giao hưởng, màu sắc phối khí trở nên rực rỡ và đa tầng hơn. Sự hòa quyện giữa các bộ dây, bộ gỗ, bộ đồng, bộ gõ và giọng người tạo nên sức mạnh âm vang lớn. Người phối âm phải cân đối âm lượng để dàn nhạc không lấn át tiếng hát của dàn hợp xướng. Phần đệm mở ra những đoạn dạo đầu dẫn dắt cảm xúc và đoạn giang tấu đẩy cao kịch tính. Mối liên kết hữu cơ này tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật hoàn mỹ.
4.2. Phương pháp chuyển soạn hợp xướng từ dân ca
Hoạt động chuyển soạn hợp xướng từ dân ca đòi hỏi sự tôn trọng tuyệt đối cốt cách nguyên bản của làn điệu. Nhạc sĩ giữ lại nét giai điệu dân gian làm chủ đề trung tâm. Các bè phụ trợ được phát triển bằng kỹ thuật hòa âm và đa âm hiện đại. Người chuyển soạn bổ sung các câu lĩnh xướng, bè lặp mô phỏng tiếng nhạc cụ dân tộc như đàn bầu, đàn tranh. Kỹ thuật nhả chữ, luyến láy dân gian được kết hợp hài hòa với phương pháp thanh nhạc thính phòng. Các bài dân ca quen thuộc như Bèo dạt mây trôi, Trống cơm, Lý ngựa ô trở nên sống động và quy mô hơn. Phương pháp này đưa âm nhạc dân gian Việt Nam bước vào các nhà hát hàn lâm quốc tế.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (201 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH NHẠC VIỆN TP. HỒ CHÍ MINH NGUYỄN XUÂN CHIẾN PHỐI ÂM TRONG CÁC TÁC PHẨM HỢP XƯỚNG VIỆT NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ ÂM NHẠC HỌC Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2023 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH NHẠC VIỆN TP. HỒ CHÍ MINH NGUYỄN XUÂN CHIẾN PHỐI ÂM TRONG CÁC TÁC PHẨM HỢP XƯỚNG VIỆT NAM Ngành: Âm nhạc học Mã số ngành: 62 21 02 01 Phản biện độc lập 1: Phản biện độc lập 2: Phản biện 1: Phản biện 2: Phản biện 3: NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS. NSUT: Nguyễn Minh Cầm Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2023 i LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, tài liệu và số liệu phân tích được sử dụng trong công trình này do tôi thu thập Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng để bảo vệ ở bất cứ học vị nào, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 03 năm 2023 Tác giả luận án Nguyễn Xuân Chiến ii NHỮNG THUẬT NGỮ SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN Alto : Nữ trầm (A) Accord : Hợp âm Acappella : Hợp xướng không nhạc đệm Arrangement : Chuyển soạn Bass : Nam trầm (B) Baryton : Nam trung (Bar) Bel Canto : Cách hát đẹp theo phong cách ý thế kỷ XVII và phát triển vào thế kỷ XVIII Choral : Hợp xướng Compilation : Biên soạn Countertenors : giọng nam cao giả thanh Dynamics : Cường độ Echo : Tiếng vọng Ensemble : Đồng diễn Falsetto : Giọng giả thanh Figuration : hình tượng Glissando : Kỹ thuật hát lướt một chùm nốt với tốc độ nhanh Intonation : Âm chuẩn Mezzosoprano : nữ trung (Mz) Nuance : Sắc thái, màu sắc âm thanh Pianissimo : Kỹ thuật hát nhỏ Polyphony : Nhạc phức điệu, đa âm, nhiều bè Polyrhythmic : Đa tiết tấu, phức tiết tấu Polytonal : Đa điệu tính Soprano : Nữ cao (S) Scale : Thang âm, Điệu thức Solo : Lĩnh xướng Transposition : Dịch giọng Tenor : Nam cao (T) Timbre : Âm sắc Tutti : Toàn thể Thành phố Hồ Chí Minh : TP.HCM Overtone : Âm bội Vibrato : Hát rung giọng iii MỤC LỤC Lời cam đoan. i Những thuật ngữ sử dụng trong luận án. ii Mục lục. iii CHƯƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN. Các khái niệm về hợp xướng và phối âm. Khái quát về sự hình thành và phát triển hợp xướng châu Âu. Một số thủ pháp phối âm cho hợp xướng ở châu Âu.
Khái quát về hình thành và phát triển hợp xướng ở Việt Nam. 46 Tiểu kết chương 1. MỘT SỐ THỦ PHÁP PHỐI ÂM TRONG TÁC PHẨM HỢP XƯỚNG VIỆT NAM. Giai điệu với các thủ pháp phối bè hợp xướng.
Các bè đệm trong hợp xướng. Âm sắc và âm khu trong phối hợp xướng. Một số kỹ thuật hát trong hợp xướng. 99 Tiểu kết chương 2.
PHẦN ĐỆM VÀ CA TỪ TRONG HỢP XƯỚNG VIỆT NAM. Nghệ thuật kết hợp các bè trong hợp xướng với phần đệm piano. Nghệ thuật vận dụng ca từ trong các bè hợp xướng. 127 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.
147 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 151 DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ. Lý do chọn đề tài Âm nhạc cổ điển nói chung, giao hưởng- thính phòng nói riêng được tôn vinh là đỉnh cao của nghệ thuật âm nhạc bởi khả năng thể hiện tâm tư tình cảm, khát vọng, chạm vào nơi sâu thẳm, tinh tế nhất của hàng triệu trái tim, tâm hồn con người. Âm nhạc thính phòng – giao hưởng Việt Nam có tiền đề từ những năm thứ 40 của thế kỷ XX, thực sự hình thành và phát triển từ những năm 1960 và không ngừng phát triển trong mối liên quan tương hỗ với các loại hình âm nhạc khác của âm nhạc truyền thống Việt Nam, xây dựng nên nền Âm nhạc Việt Nam.
Một trong những thành phần quan trọng tạo nên diện mạo của nền Âm nhạc mới Việt Nam, nền âm nhạc Việt Nam hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc như ngày hôm nay chính là hợp xướng, nghệ thuật Hợp xướng. Mặc dù ra đời rất muộn so với hợp xướng châu Âu. Tuy nhiên, các tác phẩm hợp xướng Việt Nam đã gặt hái được những kết quả, những thành tựu đáng tự hào và khích lệ. Sở dĩ các tác phẩm hợp xướng Việt Nam có được những thành tựu này bởi vì mặc dù hợp xướng là một thể loại âm nhạc bác học, tuy nhiên nó lại rất phổ cập đến với quần chúng một cách dễ dàng do sử dụng giọng hát và lời ca, từ ít giọng cho đến nhiều giọng, từ 2 bè, 3 bè đến 4 bè; từ hợp xướng đồng giọng đến hợp xướng hỗn hợp; có thể biểu diễn trong các nhà hát giao hưởng thính phòng, trong hội trường, hoặc ngoài trời để phục vụ đông đảo khán thính giả.
Sáng tác các tác phẩm hợp xướng, các nhạc sĩ Việt Nam đã học hỏi, kế thừa những kỹ thuật sáng tác, phối âm từ hợp xướng châu Âu, kết hợp với ngôn ngữ âm nhạc dân gian, truyền thống của dân tộc cũng như sự mạnh dạn 2 trong sáng tạo để viết các tác phẩm mang dấu ấn cá nhân mà vẫn giữ được những đặc trưng của âm nhạc nước nhà. Âm nhạc hợp xướng Việt Nam đã góp phần quan trọng trong việc giáo dục thẩm mỹ âm nhạc, "đánh thức" xúc cảm nghệ thuật trong mỗi cá nhân khi tham gia cũng như thưởng thức loại hình nghệ thuật này. Nếu phối khí1 được xem là sự phối hợp âm thanh của nhiều loại nhạc cụ trong một tác phẩm viết cho dàn nhạc giao hưởng nói chung thì phối âm2 được xem như cách thức để làm cho các giọng ca, các bè kết hợp, hòa quyện lại với nhau một cách nhuần nhuyễn, đạt được hiệu quả âm thanh cao nhất. Trong điều kiện thực tế âm nhạc giao hưởng, thính phòng và hợp xướng ở Việt Nam còn nhiều hạn chế, việc đón nhận nghệ thuật hợp xướng này có một số đặc điểm kể đến như về thể trạng của người Việt (nói chung người Việt nhỏ hơn so với thể trạng người châu Âu); về chất giọng (giọng ca người Việt ít có giọng trầm); về ngữ điệu trong ngôn ngữ của người Việt (đơn âm và đa thanh với dấu: ngang, huyền, ngã, hỏi, sắc, nặng) khác hẳn với ngôn ngữ của các nước châu Âu.
Người Việt chú trọng đến việc nghe rõ lời và thiên về đường nét giai điệu mà không nghe theo lối hòa âm như người châu Âu. Chính những đặc điểm trên đã ảnh hưởng tới xu hướng thẩm mỹ âm nhạc khi nghe hợp xướng của người Việt; tác động đến nghệ thuật sáng tác, phối âm cho hợp xướng của các nhạc sĩ Việt Nam. Các nhạc sĩ Việt Nam ngoài việc tiếp thu các thủ pháp phối âm từ các nhạc sĩ châu Âu, họ còn phải vận dụng một cách sáng tạo các thủ pháp ấy để tác phẩm hợp xướng của mình phù hợp với ngữ điệu, thang âm - điệu thức dân tộc Việt, phù hợp với 1 Instrumentation: Phối khí 2 Harmonization: Phối âm 3 thẩm mỹ của người Việt, gần gũi, dung dị, đậm tình, giàu tính vùng miền của con người Việt Nam. Trải qua hơn một nửa thế kỷ hình thành và phát triển nghệ thuật hợp xướng ở Việt Nam, các nhạc sĩ Việt Nam đã tiếp nhận những nét chung nhất của thể loại hợp xướng, vận dụng sáng tạo các thủ pháp trong các tác phẩm hợp xướng châu Âu nhưng cũng đồng thời tạo ra những dấu ấn cá nhân của mỗi tác giả.
Do đó, việc tìm hiểu đặc điểm nghệ thuật phối âm cho hợp xướng của các tác giả Việt Nam, nhằm phác họa được bức tranh về nghệ thuật hợp xướng Việt Nam với những cái chung của thể loại cùng những dấu ấn riêng của các tác giả cần được nghiên cứu, đúc kết, đánh giá một cách nghiêm túc và khoa học. Đây chính là lý do chúng tôi chọn đề tài “Phối âm trong các tác phẩm hợp xướng Việt Nam’’ để nghiên cứu cho luận án của mình. Lịch sử nghiên cứu của đề tài Nghệ thuật hợp xướng nói chung, nghệ thuật phối âm cho hợp xướng nói riêng đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, chúng tôi xin tạm phân chia chúng theo các nhóm sách bằng tiếng Việt, sách bằng tiếng nước ngoài, cụ thể như sau: 2.
Sách bằng tiếng Việt 2. Nhóm sách hợp xướng Iu. Tập II sách giáo khoa hòa âm là phần tiếp theo của tập I do Iu. Privano biên soạn.
Trong công trình này gồm có: biến âm điệu thức, âm hình giai điệu và hòa âm và tất cả các hình thức chuyển điệu. Dành sự chú ý đặc biệt cho chuyển điệu vào các điệu tính họ hàng cấp I [31]. Đây là nền tảng của việc phối hợp xướng như cách xếp bè, tiến hành bè, các thủ pháp hạn chế sử dụng như tránh quãng 5, quãng 8 song song. 4 Lê Đức Nga (1994), Lược sử âm nhạc thế giới, NXB Trẻ.
Đây là công trình giải thích các thể loại âm nhạc, nguồn gốc âm nhạc và giới thiệu một số nhạc sĩ như J. Listz, … trong đó có hợp xướng [47, tr 20 – tr 21]. Nguyễn Thụy Kha (1998), Nửa thế kỷ tân nhạc, NXB Đà Nẵng. Đây là công trình viết về các nhạc sĩ và nhóm nhạc trong đó có bàn về hợp xướng [32, tr 8 – tr 9].
Vũ Tự Lân – Lê Thế Hào (2000), Phương pháp hát và chỉ huy dàn dựng hát tập thể, NXB Giáo dục. Công trình bàn về phương pháp và kĩ thuật luyện thanh, dàn dựng và chỉ huy. Một số vấn đề lí thuyết cơ bản về ca hát, đã được xen lồng vào các bài. Công trình cung cấp cho sinh viên không chỉ những tri thức kỹ năng chuyên sâu mà còn thông qua đó, giúp cho sinh viên nhận ra nội dung mối quan hệ logic bên trong của chúng [39].
Đoàn Phi (2005), Chỉ huy dàn dựng hát tập thể, NXB Đại học Sư phạm. Công trình gồm 4 chương: Chương 1: Một số vấn đề về hợp xướng, Chương 2: Kỹ thuật cơ bản về chỉ huy. Chương 3: Một số công việc của người chỉ huy. Chương 4: Ứng dụng thể hiện tác phẩm [57].
Hồ Mộ La (2005), Lịch sử nghệ thuật thanh nhạc phương Tây, Sách dịch, NXB Từ điển Bách Khoa.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Nguyễn Xuân Chiến (2023). Phối âm trong các tác phẩm hợp xướng Việt Nam [Luận án tiến sĩ, Nhạc viện TP. Hồ Chí Minh]. LuanAn.net. https://luanan.net/am-nhac/am-nhac-hoc/nguyen-xuan-chien-phoi-am-trong-cac-tac-pham-hop-xuong-viet-nam
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Phối âm trong các tác phẩm hợp xướng Việt Nam" nghiên cứu về vấn đề gì?
"Phân tích phối âm trong hợp xướng Việt Nam, khám phá đặc điểm và kỹ thuật âm nhạc dân tộc trong tác phẩm."
Luận án "Phối âm trong các tác phẩm hợp xướng Việt Nam" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Nhạc viện TP. Hồ Chí Minh. Năm bảo vệ: 2023.
Luận án "Phối âm trong các tác phẩm hợp xướng Việt Nam" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Phối âm trong các tác phẩm hợp xướng Việt Nam" thuộc chuyên ngành Âm nhạc học. Danh mục: Âm Nhạc Học.
Luận án "Phối âm trong các tác phẩm hợp xướng Việt Nam" có bao nhiêu trang?
Luận án "Phối âm trong các tác phẩm hợp xướng Việt Nam" có 201 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Phối âm trong các tác phẩm hợp xướng Việt Nam" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.