Luận án Hát Xoan Phú Thọ trong bối cảnh di sản hóa Việt Nam - Nghiên cứu thực trạng và giải pháp

Luận án nghiên cứu hát xoan Phú Thọ trong tiến trình di sản hóa ở Việt Nam, đánh giá vai trò văn hóa đương đại.

Tác giả

Luan An

Thể loại

luận án

Số trang

288

Thời gian đọc

44 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
Hát Xoan Phú Thọ: Thực trạng bảo tồn và phát huy di sản
Số trang:
288 trang
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I.Hát Xoan Phú Thọ Thực trạng bảo tồn và phát huy di sản

Luận án tập trung vào Hát Xoan Phú Thọ, một Di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh. Hát Xoan đối mặt thực tế phức tạp. Nghệ nhân biểu diễn 31 bài bản truyền thống. Họ tuân thủ trang phục, quy định nghiêm ngặt. Tuy nhiên, nghệ nhân có mong muốn tự do sáng tạo lời mới. Họ đặt lời về bầu cử, Covid-19, nhưng không dám công khai. Các ban ngành văn hóa kiểm soát chặt chẽ hoạt động này. Việc biểu diễn thường yêu cầu đi chân đất. Quan điểm phổ biến là Hát Xoan phải mộc mạc, gắn liền nông dân. Điều này tạo ra căng thẳng giữa bảo tồn truyền thống và sự đổi mới tự nhiên. Luận án đặt câu hỏi về quyền năng của người thực hành di sản. Hát Xoan có thuộc về ai? Ai quyết định cách thức thực hành? Mục đích bảo vệ, phát huy giá trị di sản có được thực hiện đúng tinh thần?

1.1. Thực hành Hát Xoan Hạn chế và sự sáng tạo ngầm

Nghệ nhân Hát Xoan mong muốn tự đặt lời. Những lời hát mới phản ánh đời sống hiện đại. Tuy nhiên, họ gặp phải giới hạn nghiêm ngặt. Quy định rõ ràng về bài bản, trang phục, địa điểm. Các ban ngành văn hóa quản lý chặt chẽ. Điều này kìm hãm sự sáng tạo tự phát. Nghệ nhân chỉ có thể thực hành "ngầm" những bài mới. Hát Xoan, một nghệ thuật trình diễn truyền thống, cần không gian phát triển. Sự giám sát cứng nhắc có thể làm mất đi sức sống nội tại.

1.2. Quy định bảo tồn Ảnh hưởng tới nghệ nhân Hát Xoan

Các quy định bảo tồn Hát Xoan rất cụ thể. Chúng liên quan đến bài bản, trang phục, phong cách biểu diễn. Những quy định này đôi khi không phù hợp. Ví dụ, việc phải đi chân đất khi trời rét. Nghệ nhân cảm thấy bộ trang phục mới không đẹp bằng bộ cũ. Các yêu cầu biểu diễn "đúng chuẩn UNESCO" tạo áp lực. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến trải nghiệm của nghệ nhân. Sự bất đồng giữa nghệ nhân và cơ quan quản lý hiện rõ.

1.3. Bản chất nghệ thuật Hát Xoan trong đời sống hiện đại

Hát Xoan là âm nhạc dân gian đặc sắc của Phú Thọ. Nghệ thuật này từng gắn liền với đời sống nông thôn. Ngày nay, Hát Xoan xuất hiện rộng rãi hơn. Nó có mặt trong công sở, trường học. Hát Xoan tham gia nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Sự hiện diện rộng khắp này cho thấy sức sống của di sản. Tuy nhiên, việc "di sản hóa" đã thay đổi bản chất Hát Xoan. Từ một thực hành tự nhiên, Hát Xoan trở thành đối tượng bảo tồn. Quá trình này đặt ra nhiều câu hỏi về sự thích nghi của nghệ thuật truyền thống.

II.Di sản hóa Hát Xoan Thách thức và quyền năng thực hành

Quá trình di sản hóa Hát Xoan mang lại nhiều thách thức. Nó đặt ra câu hỏi về quyền sở hữu di sản. Ai là người có quyền định đoạt Hát Xoan? Ai có thẩm quyền quyết định cách thức thực hành? Nghệ nhân, "người mang di sản", lại không thể tự do thể hiện. Họ không thể hát theo ý muốn. Điều này mâu thuẫn với tinh thần bảo vệ, phát huy di sản. Cả UNESCO và các cơ quan địa phương đều cam kết điều này. Luận án nghiên cứu sâu hơn tính chính trị của di sản. Nó xem xét các quyết định liên quan Hát Xoan.

2.1. Di sản hóa Ai sở hữu và định đoạt Hát Xoan

"Di sản hóa" biến Hát Xoan thành đối tượng quản lý. Nó định danh, phân loại và giới hạn thực hành. Các cơ quan quản lý văn hóa giữ vai trò chính. Họ đặt ra quy định chi tiết. Quyền quyết định về Hát Xoan tập trung vào một số ban ngành. Nghệ nhân, cộng đồng, có ít tiếng nói hơn. Hát Xoan, vốn là âm nhạc dân gian của cộng đồng, giờ được kiểm soát từ bên ngoài. Vấn đề sở hữu trí tuệ, quyền thực hành trở nên phức tạp.

2.2. Tính chính trị di sản Phân tích sâu hơn Hát Xoan

Di sản không chỉ là giá trị văn hóa thuần túy. Nó mang trong mình tính chính trị. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra điều này. Salemink, Lê Hồng Lý, Meeker đều đề cập. Hát Xoan cũng không ngoại lệ. Việc ghi danh UNESCO, các quy định bảo tồn, phục dựng đều là hành động chính trị. Chúng định hình cách di sản được hiểu, thực hành. Chúng cũng ảnh hưởng đến quyền lợi, vai trò của các bên liên quan.

2.3. Hát Xoan phổ biến Vai trò cộng đồng và quản lý

Hát Xoan xuất hiện rộng rãi tại Phú Thọ. Nó có mặt tại công sở, trường học, sự kiện. Hát Xoan đã trở thành một phần đời sống văn hóa, xã hội. Điều này cho thấy sự lan tỏa của di sản. Tuy nhiên, việc phổ biến này diễn ra dưới sự giám sát. Các hoạt động biểu diễn đều cần sự cho phép. Câu hỏi đặt ra là vai trò của cộng đồng. Liệu cộng đồng có thực sự phát huy giá trị di sản theo cách của mình? Hay Hát Xoan chỉ là công cụ quảng bá văn hóa?

III.Vai trò UNESCO và di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam

UNESCO đóng vai trò quan trọng trong bảo tồn di sản văn hóa. Tổ chức này đã ghi danh nhiều di sản của Việt Nam. Đến năm 2017, Việt Nam có 8 Di sản văn hóa và Thiên nhiên thế giới. 14 Di sản văn hóa phi vật thể cũng được công nhận. Hát Xoan Phú Thọ là một trong số đó. Các danh hiệu này là niềm tự hào lớn. Chúng nâng cao vị thế văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, chúng cũng đặt ra nhiều thách thức. Thách thức lớn nhất là công tác bảo vệ, phát huy di sản. Việc ghi danh không phải là kết thúc. Nó là khởi đầu cho quá trình bảo tồn bền vững. Luận án phân tích ảnh hưởng của UNESCO.

3.1. Danh mục di sản UNESCO Niềm tự hào thách thức lớn

Việt Nam tự hào với số lượng di sản UNESCO. Các di sản như Hát Xoan, Tín ngưỡng Thờ cúng Hùng Vương đều quan trọng. Danh hiệu giúp thu hút sự chú ý. Nó tăng cường nhận thức cộng đồng. Tuy nhiên, trách nhiệm đi kèm là rất lớn. Các thách thức bao gồm tài chính, nguồn nhân lực. Làm sao để bảo tồn nguyên vẹn giá trị gốc? Làm sao để tránh thương mại hóa di sản? Những câu hỏi này cần được trả lời.

3.2. Công ước UNESCO Định hình nhận thức di sản

Các Công ước của UNESCO thay đổi nhận thức về di sản. Công ước 1972 về Di sản Thế giới tập trung vật thể. Công ước 2003 về Bảo vệ Di sản Văn hóa Phi vật thể rất quan trọng. Nó nhấn mạnh vai trò của cộng đồng. Nó đề cao sự đa dạng văn hóa. Các công ước này cung cấp khung pháp lý. Chúng hướng dẫn các quốc gia thành viên. Việt Nam đã áp dụng các nguyên tắc này. Tuy nhiên, việc thực thi đôi khi còn cứng nhắc.

3.3. Bảo tồn DSVHPVT Chính sách và thực tiễn tại Việt Nam

Việt Nam có gần 10.000 di tích cấp tỉnh, 3.463 cấp quốc gia. 249 Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia cũng được công nhận. Chính sách bảo tồn rất đa dạng. Các cơ quan văn hóa nỗ lực bảo vệ. Tuy nhiên, thực tiễn còn nhiều vấn đề. Sự phối hợp giữa trung ương và địa phương. Việc phát huy giá trị di sản còn hạn chế. Đặc biệt là quyền tự chủ của cộng đồng. Cần có cách tiếp cận linh hoạt hơn.

IV.Nghiên cứu học thuật Giải mã chính trị di sản Hát Xoan

Luận án này là một nghiên cứu học thuật quan trọng. Nó đi sâu phân tích quá trình di sản hóa Hát Xoan. Mục tiêu là giải mã các khía cạnh chính trị. Luận án đặt ra nhiều câu hỏi then chốt. Ai là người có quyền định đoạt Hát Xoan? Những quy định hiện hành có phù hợp? Những bài bản được coi là cổ, xuất hiện khi nào? Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính. Nó dựa trên tư liệu điền dã, phỏng vấn nghệ nhân. Nó cũng tham khảo các công trình nghiên cứu trước đó. Những nghiên cứu này đã chỉ ra tính chính trị của di sản.

4.1. Mục tiêu luận án Khám phá ẩn khuất di sản hóa

Mục tiêu chính là làm rõ các ẩn khuất. Luận án khám phá quá trình di sản hóa Hát Xoan. Nó xem xét các yếu tố ảnh hưởng. Bao gồm vai trò của nhà nước, cộng đồng. Đặc biệt, luận án tập trung vào trải nghiệm của nghệ nhân. Mục tiêu là hiểu rõ hơn các mâu thuẫn. Nó mong muốn đóng góp vào lý luận bảo tồn. Đồng thời đề xuất giải pháp phát huy giá trị di sản bền vững.

4.2. Chính trị di sản Từ các nghiên cứu quốc tế Việt Nam

Khái niệm "tính chính trị của di sản" không mới. Các học giả như Salemink (2001, 2012, 2014) đã tiên phong. Lê Hồng Lý và cộng sự (2014) cũng nghiên cứu ở Việt Nam. Meeker (2019) tiếp tục đóng góp. Những công trình này chỉ ra rằng di sản không trung lập. Quá trình chọn lựa, ghi danh, bảo tồn di sản luôn có động cơ. Nó liên quan đến quyền lực, lợi ích và bản sắc. Luận án này tiếp nối truyền thống nghiên cứu đó.

4.3. Nguồn gốc bài bản Lịch sử sưu tầm Hát Xoan

Các bài bản Hát Xoan được coi là "cổ". Nhưng chúng thực sự được sưu tầm vào những năm đầu thế kỷ XX. Quá trình này phục vụ việc ghi danh UNESCO. Các tư liệu điền dã quan trọng từ 1954. Tiếp theo là các đợt 1971-1973, 1978, 1998-2006. Nguyễn Khắc Xương sưu tầm nhiều quả cách. Giai đoạn 1998-2006 là phục hồi các phường Xoan. Lịch sử sưu tầm cho thấy sự "kiến tạo" của di sản. Nó không hoàn toàn là "nguyên gốc" như nhiều người nghĩ.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án hát xoan phú thọ trong bối cảnh di sản hóa ở việt nam

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (288 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ CLB Câu lạc bộ DSVHPVT DSVHPVT GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo VHTT&DL Văn hóa, Thể thao và Du lịch UBND Ủy ban nhân dân UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong lần đến gặp các nghệ nhân Hát Xoan tại một phường Xoan cổ, tôi rất ngạc nhiên khi thấy sau lúc tập luyện, các nghệ nhân ngồi bên nhau và hát những bài do họ tự đặt lời, hân hoan tán thưởng những lời hát mới. Thấy sự hào hứng của tôi, nghệ nhân Thái1 ngẫu hứng hát thêm vài lời mới trên điệu Xoan cổ, không quên nói thêm rằng, bà và mọi người ở đây đang "hát trộm ông Sở", vì ông ấy biết thì sẽ không cho hát như thế. Các nghệ nhân còn cho biết thêm rằng, có những quy định rất cụ thể trong việc nghệ nhân phải trình diễn các bài bản Hát Xoan nào, mặc loại trang phục ra sao, nghệ nhân tham gia biểu diễn cần được sự đồng ý cho phép của các ban ngành văn hóa,… Mấy người ngồi đó chia sẻ thêm, bộ quần áo theo thiết kế mới họ "thấy không đẹp như bộ cũ", và họ rất thích nghe và tự đặt lời mới cho Xoan, chẳng hạn để nói về chuyện bầu cử, chuyện Covid-19,… nhưng không dám hát ở đâu cả, lúc truyền dạy ở trường học, công sở hay khi biểu diễn đều phải theo đúng 31 bài bản đã được "ông" UNESCO ghi danh.

"Có lúc trời rét cũng phải bỏ giầy múa ra đi chân đất" để theo đúng yêu cầu biểu diễn, vì "Hát Xoan là của người nông dân, nên nó phải mộc mạc thế mới là Xoan". Những gì chứng kiến đã khiến tôi đặt ra nhiều câu hỏi. Hát Xoan được UNESCO ghi danh di sản, nhưng di sản này là của ai? Ai là người có thẩm quyển quyết định Hát Xoan nên được thực hành bởi ai, ở đâu, như thế nào, theo cách thức nào? Việc để những người thực hành Hát Xoan, cũng là "người mang di sản"2, phải bày tỏ nguyện vọng của họ về một cách thức Hát Xoan theo ý muốn như vậy liệu có đúng với tinh thần bảo vệ và phát huy di sản vẫn được cả UNESCO và các cơ quan, tổ chức tại địa phương đã cam kết? Những bài bản hát Xoan vốn luôn được xem là cổ, và luôn được thực hành trong sự giám sát nghiêm ngặt của các cơ quan hành chính thực sự xuất hiện khi nào, khi quá trình 1 Tên của các thông tín viên đều được tác giả luận án thay đổi để đảm bảo nguyên tắc ẩn danh. 2 Cụm từ do UNESCO sử dụng trong Công ước 2003.

1 làm hồ sơ, sưu tầm các bài bản để phục vụ công tác ghi danh di sản mới chỉ được thực hiện vào những năm đầu thế kỉ XX, dựa trên nhiều tư liệu điền dã trước đó của các nhà nghiên cứu trong các đợt 19541, 1971-19732, 1978, 1998 - 20063? Những thực hành Hát Xoan đã và đang diễn ra trên diện rộng tại Phú Thọ, xuất hiện tại công sở, trường học, trong hầu khắp các hoạt động văn hóa, nghệ thuật của tỉnh, tham gia vào nhiều khía cạnh đời sống cả về văn hóa lẫn kinh tế, xã hội khơi gợi gì đến vấn đề về tính chính trị của di sản, điều đã được nói tới trong nhiều nghiên cứu đi trước của Salemink (2001, 2012, 2014), Lê Hồng Lý và các cộng sự (2014), Meeker (2019),… Bảo vệ và phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc là một trong những vấn đề đang được những người làm công tác văn hóa, những nhà quản lý và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta quan tâm và trăn trở. Tính đến năm 2017, Việt Nam đã có gần 10.000 di tích văn hóa cấp tỉnh, thành phố; 3.463 di tích cấp quốc gia; 95 di tích quốc gia đặc biệt; 249 DSVHPVT được đưa vào danh mục DSVHPVT quốc gia. Trong số các di sản đó, UNESCO (Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hợp quốc) đã ghi danh 8 Di sản văn hóa và Thiên nhiên thế giới; 14 DSVHPVT4. Con số các di sản vừa là niềm tự hào của Việt Nam, nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức trong công tác bảo vệ, phát huy di sản.

Từ việc nhìn nhận lại về vai trò của văn hóa với phát triển trong thế kỉ XX, đặc biệt là từ những động thái của UNESCO trong việc bảo vệ các di sản (mà nổi bật là di sản phi vật thể) của nhân loại đã kéo theo những thay đổi trong 1 Năm 1954, nhiều cán bộ ngành văn hóa phát hiện ra Hát Xoan lần đầu tiên và tiến hành giới thiệu, sưu tầm, chỉnh lý, đưa vào sáng tác ca nhạc, biên soạn hoạt cảnh cho tiết mục của các đoàn văn công. 2 Tác giả Nguyễn Khắc Xương sưu tầm 13 quả cách hát thờ phường Phù Đức (1971-1973), 13 quả cách hát thờ phường An Thái (1971, 1973 và 1978). 3 Từ 1998 đến 2006 là giai đoạn phục hồi các phường Xoan thành các Câu lạc bộ Xoan Kim Đức, An Thái, rồi tổ chức lại là 4 phường Xoan An Thái, Phù Đức, Kim Đái, Thét. 4 Nhã nhạc - Nhạc Cung đình Triều Nguyễn; Không gian văn hoá Cồng chiêng Tây Nguyên; Dân ca Quan họ Bắc Ninh; Hát Ca Trù; Hội Gióng ở Đền Phù Đổng và Đền Sóc; Hát Xoan Phú Thọ; Tín ngưỡng Thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ; Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ; Dân ca Ví, Dặm ở Nghệ Tĩnh; Nghi lễ và trò chơi Kéo co; Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ của người Việt; Nghệ thuật Bài Chòi ở Trung Bộ; Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái, Nghệ thuật Xòe Thái.

2 nhận thức chung về văn hóa, về di sản và quá trình bảo tồn, phát huy di sản. Ngoài những Công ước và tôn chỉ hành động của UNESCO (Công ước 1972, Công ước 2003), những tổ chức, hiệp hội, các nhà nghiên cứu, hoạch định và quản lý văn hóa cũng đã có nhiều những bàn luận xung quanh vấn đề di sản. Những tranh luận nổi bật nhất xoay quanh vấn đề nhận thức về di sản và giá trị di sản, tính nguyên gốc của di sản và đánh giá vai trò của di sản văn hóa với tương lai. Di sản văn hóa được nhìn nhận như một quá trình tiếp tục sáng tạo văn hóa trong bối cảnh hiện tại, được tạo ra bởi những cảm nhận về các giá trị của quá khứ và trong những mối bận tâm của thực tại và tương lai.

Những nhận thức về di sản văn hóa có một ý nghĩa quyết định đến công tác sưu tầm, bảo tồn, quản lý và phát huy di sản, tác động mạnh mẽ đến các thực hành di sản. Quan sát quá trình tác động và thay đổi đó từ các thực hành cụ thể, các nhà nghiên cứu đặt ra vấn đề mang tính lý thuyết: di sản hóa (heritagization), trong đó di sản được coi là một động từ hơn là một danh từ, và di sản hóa được xem như một thực hành văn hóa (Harvey 2008). Trên thực tế, khi được gắn cho những danh hiệu khác nhau (di sản cấp tỉnh – cấp quốc gia – cấp quốc gia đặc biệt – cấp thế giới), di sản không còn tồn tại như nó vốn có. Di sản, khi được nhiều bên biết tới, đồng nghĩa với những cách thức thực hành văn hóa truyền thống (trước khi được ghi danh) chịu sự tác động, biến đổi theo một tiêu chí hay những định hướng phù hợp với quan điểm duy trì và bảo tồn mà các cơ quan quản lý đưa ra.

Quá trình di sản hóa, với việc lựa chọn di sản nào sẽ được ghi danh và quá trình di sản tồn tại hậu ghi danh ở Việt Nam hiện đang đặt ra rất nhiều vấn đề có ý nghĩa thiết thân đến sự tồn tại của chính di sản; và rất cần những nghiên cứu cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn để có thể tìm ra những cách thức duy trì và bảo tồn phù hợp nhất, mang lại sức sống lâu bền cho di sản. Hát Xoan Phú Thọ là di sản văn hóa thuộc loại hình dân ca nghi lễ phong tục, có lịch sử hình thành và quá trình tồn tại gắn liền với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương của cư dân Việt nơi này. Hát Xoan được Tổ chức Giáo dục, Khoa 3 học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) ghi danh DSVHPVT cần được bảo vệ khẩn cấp vào 24/11/2011; và đến 8/12/2017, Hát Xoan được đưa ra khỏi danh sách DSVHPVT cần bảo vệ khẩn cấp để chuyển sang ghi danh trong danh sách DSVHPVT đại diện của nhân loại. Kết quả điều tra năm 2010 cho thấy, Hát Xoan gắn với 30 cửa đình, đền tại Phú Thọ và Vĩnh Phúc, trong đó đa số là các di tích thờ các vua Hùng và các nhân vật thời Hùng Vương.

Trong số đó, chỉ có 4 làng được xem là có họ Xoan cổ là An Thái, Thét, Phù Đức và Kim Đái (trước cách mạng thuộc tổng Phượng Lâu huyện Phù Ninh, này đều thuộc thành phố Việt Trì)1. Các làng Xoan gốc này thuộc vùng sơn phận núi Hùng, cũng là những nơi hiện còn lưu giữ được 31 bài bản Hát Xoan cổ. Từ khi được công nhận đến nay, diện mạo của Hát Xoan đã có nhiều thay đổi. Việc ghi danh di sản đã tác động mạnh đến những chính sách và thực hành Hát Xoan, đồng thời kéo theo những chiều cạnh phức tạp trong mối quan hệ giữa cộng đồng chủ thể, nhà nước và di sản.

Lựa chọn đề tài Hát Xoan Phú Thọ trong bối cảnh di sản hóa ở Việt Nam, luận án mong muốn làm rõ quá trình di sản hóa Hát Xoan ở Phú Thọ như thế nào, đồng thời góp phần bàn luận về sự tồn tại của di sản trong bối cảnh xã hội Việt Nam đương đại. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục đích nghiên cứu Luận án nghiên cứu về diện mạo của Hát Xoan Phú Thọ sau khi được UNESCO ghi danh qua hai giai đoạn, từ 24/11/2011, trong danh mục DSVHPVT cần bảo vệ khẩn cấp, và giai đoạn hai, từ 8/12/2017, Hát Xoan được UNESCO đưa ra khỏi danh sách DSVHPVT cần bảo vệ khẩn cấp và ghi danh tại Danh sách DSVHPVT đại diện của nhân loại. Luận án chú trọng nghiên cứu các vấn đề từ thực hành bài bản Xoan, sưu tầm, ký âm, truyền dạy, công tác nghệ nhân,…, đến cách Hát Xoan tham gia trong các chương trình, hoạt động văn hóa, tín ngưỡng, kinh tế, giáo dục, du lịch trong và ngoài địa bàn tỉnh để có thể hiểu về cách Hát Xoan hiện 1 Cả 4 họ Xoan đều được gọi theo tên làng.

4 diện trong đời sống văn hóa tại Phú Thọ kể từ sau khi được ghi danh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Luận án Hát Xoan Phú Thọ trong bối cảnh di sản hóa Việt Nam (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/am-nhac/am-nhac-hoc/luan-an-hat-xoan-phu-tho-trong-boi-canh-di-san-hoa-viet-nam

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Luận án Hát Xoan Phú Thọ trong bối cảnh di sản hóa Việt Nam" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án nghiên cứu hát xoan Phú Thọ trong tiến trình di sản hóa ở Việt Nam, đánh giá vai trò văn hóa đương đại.

Luận án "Luận án Hát Xoan Phú Thọ trong bối cảnh di sản hóa Việt Nam" có bao nhiêu trang?

Luận án "Luận án Hát Xoan Phú Thọ trong bối cảnh di sản hóa Việt Nam" có 288 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Luận án Hát Xoan Phú Thọ trong bối cảnh di sản hóa Việt Nam" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter