Tổng quan về luận án

Luận án tiến sĩ "Nghiên cứu tăng cường khả năng chống chịu biến đổi khí hậu của hệ sinh thái – xã hội tại huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định" của Hoàng Thị Ngọc Hà (2022) là một công trình khoa học tiên phong trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH) gia tăng ở Việt Nam. Nghiên cứu được thực hiện tại Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, chuyên sâu vào phân tích và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng chống chịu (KNCC) của hệ sinh thái – xã hội (ST-XH) vùng ven biển.

Bối cảnh khoa học và tính tiên phong của nghiên cứu

Việt Nam, đặc biệt là khu vực ven biển đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) với dân số đông, kinh tế phụ thuộc vào nông nghiệp và đa dạng sinh học (ĐDSH) cao, đang đối mặt với những thách thức nghiêm trọng từ BĐKH và nước biển dâng (NBD). Các báo cáo như "Tăng cường khả năng chống chịu vùng ven biển Việt Nam" của Ngân hàng Thế giới (2020) chỉ ra rằng hơn 35% khu dân cư ven biển bị sạt lở và 1,5 triệu lao động nông nghiệp đối mặt với rủi ro lũ lụt, bão, gây suy giảm KNCC của các hệ ST-XH [147]. Luận án nhấn mạnh sự cần thiết của việc đánh giá tác động BĐKH và xác định rủi ro của hệ ST-XH, cũng như KNCC thông qua các nguồn lực, đặc biệt tại các vùng có đặc trưng địa lý và sinh thái khác biệt như Giao Thủy.

Research Gap SPECIFIC với citations từ literature

Nghiên cứu này trực tiếp giải quyết một khoảng trống đáng kể trong văn học khoa học Việt Nam và quốc tế. Luận án chỉ rõ: "ở Việt Nam hiện nay, lý thuyết hệ sinh thái – xã hội còn mới mẻ, việc xem xét tác động của BĐKH theo phân vùng sinh thái – xã hội cũng như đánh giá khả năng chống chịu thiên tai, khí hậu chưa được nghiên cứu nhiều." Ngoài ra, tác giả cũng thừa nhận rằng trên phạm vi quốc tế, "dù thế giới đã có các nghiên cứu với nhiều định nghĩa và những cách hiểu khá tương đồng về hệ ST-XH nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chung, thống nhất và toàn diện. Việc đánh giá tổng thể các thuộc tính của một hệ ST-XH như tính DBTT, khả năng thích ứng, chống chịu hay các nguồn lực,. vẫn còn là một khoảng trống" (Trang 11). Cụ thể hơn, trong bối cảnh Việt Nam, "rất ít nghiên cứu đề cập đến phân vùng tác động, tính chống chịu của hệ thống tự nhiên, xã hội hay giải pháp ứng phó với BĐKH dựa vào HST" (Trang 31).

Research Questions và Hypotheses (đánh số cụ thể)

Các câu hỏi nghiên cứu của luận án là:

  1. Biến đổi khí hậu tác động như thế nào đến các các phân vùng của hệ sinh thái – xã hội huyện Giao Thuỷ và có thể đánh giá bằng cách nào?
  2. Cần phát triển bộ chỉ số như thế nào để đánh giá được khả năng chống chịu BĐKH của hệ sinh thái – xã hội huyện Giao Thuỷ?
  3. Các giải pháp nào cho tăng cường khả năng chống chịu BĐKH theo tiếp cận dựa trên HST phù hợp với bối cảnh địa phương?

Luận điểm bảo vệ của luận án, đóng vai trò là giả thuyết trung tâm, khẳng định rằng: "BĐKH gây tác động khác nhau tới các lĩnh vực và khu vực/ tiểu vùng của hệ ST-XH. Khả năng chống chịu BĐKH của hệ ST-XH phụ thuộc vào các nguồn lực phát triển của hệ, bao gồm: Tự nhiên, Vật chất, Kinh tế, Xã hội, Chính sách. Đánh giá được các nguồn lực bằng bộ chỉ số thiên tai – khí hậu sẽ là cơ sở để đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường KNCC BĐKH của hệ ST-XH theo tiếp cận dựa vào hệ sinh thái/thuận tự nhiên phù hợp với bối cảnh địa phương."

Theoretical framework với tên theories cụ thể

Khung lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên sự tổng hợp và phát triển từ các nền tảng lý thuyết quốc tế về Hệ sinh thái – xã hội (Social-Ecological System/SES) của các học giả Elinor Ostrom (2004, 2007, 2009) [118, 119], Berkes và Folke (1998) [59], cùng với các đóng góp từ McGinnis (2014) [111] và Partelow (2018). Khung phân tích SES chung của Ostrom, được gọi là "Khung khái quát chung về SES" [118, 119], được sử dụng rộng rãi và được coi là toàn diện nhất, đã được điều chỉnh để phù hợp với bối cảnh cụ thể của huyện Giao Thủy. Luận án cũng tích hợp sâu sắc lý thuyết về Khả năng chống chịu (Resilience) từ các công trình của Folke và cộng sự (2003) [77], Gerald và Young (2006) [79, 151], nhấn mạnh khả năng của một hệ thống có thể hấp thụ, thích ứng và phục hồi sau các xáo trộn. Cuối cùng, nghiên cứu áp dụng triệt để lý thuyết về Thích ứng dựa vào hệ sinh thái (Ecosystem-based Adaptation/EbA), được định nghĩa bởi Công ước về Đa dạng sinh học (2009) là "việc sử dụng các dịch vụ HST và ĐDSH như một phần của chiến lược thích ứng tổng thể để giúp con người thích ứng với các tác động bất lợi của BĐKH" [99, 133].

Đóng góp đột phá với quantified impact

Luận án mang lại ba đóng góp đột phá chính:

  1. Phát triển Bộ chỉ số đánh giá KNCC BĐKH: Luận án đã "Xây dựng được bộ chỉ số đánh giá khả năng chống chịu BĐKH của hệ sinh thái – xã hội huyện Giao Thủy phù hợp với điều kiện Việt Nam trên cơ sở phương pháp đánh giá CDRI" (Trang 5). Bộ chỉ số này gồm 125 chỉ số thành phần, được thiết kế riêng cho điều kiện địa phương, cho phép đánh giá định lượng và bán định lượng KNCC của một hệ ST-XH cấp huyện, một sự cải tiến đáng kể so với việc thiếu các công cụ tương tự ở Việt Nam.
  2. Tiên phong Phân vùng sinh thái – xã hội và tích hợp EbA: Nghiên cứu đã "phân vùng sinh thái – xã hội cho địa bàn huyện Giao Thủy trong đánh giá tác động của BĐKH, đánh giá KNCC BĐKH và đề xuất các giải pháp tăng cường khả năng chống chịu của hệ sinh thái – xã hội theo tiếp cận thích ứng dựa vào hệ sinh thái" (Trang 5). Điều này cung cấp một khuôn khổ mới để hiểu tác động BĐKH theo khu vực cụ thể và đề xuất giải pháp thích ứng phù hợp.
  3. Áp dụng và kiểm chứng lý thuyết SES trong bối cảnh ĐBSH: Luận án đã "áp dụng lý thuyết về hệ sinh thái – xã hội trong điều kiện, bối cảnh của vùng đồng bằng ven biển phía bắc Việt Nam" (Trang 5). Đây là một ứng dụng quan trọng, lấp đầy khoảng trống trong việc kiểm chứng và phát triển lý thuyết SES trong môi trường đặc thù của Việt Nam, mở ra hướng nghiên cứu mới về mối tương tác giữa con người và tự nhiên trong BĐKH.
  4. Đề xuất 2 mô hình sinh kế chống chịu khí hậu độc đáo theo tiếp cận EbA: Đề xuất mô hình "Trang trại sinh thái tuần hoàn" cho khu vực nội đồng và mô hình "Nuôi thuỷ sản trong rừng ngập mặn gắn với du lịch cộng đồng" cho vùng ngoài đê, mang lại lợi ích kép về kinh tế, môi trường và khả năng thích ứng, giảm phát thải khí nhà kính (Trang 136-138).

Scope (sample size, timeframe) và significance

Phạm vi nghiên cứu không gian là huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định. Phạm vi thời gian bao gồm giai đoạn thực hiện nghiên cứu từ tháng 1 năm 2016 đến tháng 6 năm 2019, với thông tin, số liệu được cập nhật đến năm 2020. Các số liệu hồi cứu được sử dụng trong hơn 50 năm (từ 1961 đến 2019) để phân tích xu thế BĐKH. Cỡ mẫu khảo sát bao gồm 149 người dân và cán bộ cấp tỉnh, huyện, cùng 125 phiếu/bảng hỏi được thu thập trực tiếp và qua máy tính, với sự tham gia của 50 phụ nữ (Trang 61). Ý nghĩa của luận án không chỉ nằm ở việc cung cấp cơ sở khoa học cho chiến lược ứng phó BĐKH tại Giao Thủy mà còn ở khả năng nhân rộng các phương pháp và mô hình cho các địa phương ven biển khác ở Việt Nam có điều kiện tương tự.

Literature Review và Positioning

Synthesis của major streams với TÊN TÁC GIẢ và NĂM cụ thể

Luận án đã tổng quan ba dòng nghiên cứu chính: Hệ sinh thái – xã hội (ST-XH) và tác động của BĐKH đến nó; Đánh giá khả năng chống chịu BĐKH của hệ ST-XH và phương pháp đánh giá bằng bộ chỉ số; và Thích ứng với BĐKH dựa vào hệ sinh thái (EbA).

  1. Hệ ST-XH: Khái niệm "Social-ecological system" (SES) được phát triển mạnh mẽ từ đầu thế kỷ 21, nhấn mạnh sự gắn kết giữa con người và tự nhiên ("people in nature"). Các tác giả tiên phong như Elinor Ostrom (2009) [119], Berkes và Folke (1998) [59] đã xây dựng các khung phân tích, với khung tổng quát của Ostrom (2004, 2007, 2009) [118, 119] là phổ biến nhất. Các công trình của Colding (2019) [66] cho thấy hơn 12 ngàn bài báo liên quan đến SES trong giai đoạn 2010–2018. Ở Việt Nam, Trương Quang Học (2008) [12] là một trong những tác giả tiên phong đề xuất hướng nghiên cứu này. Nhóm nghiên cứu liên ngành ECODE (Trương Quang Học, Hoàng Thị Ngọc Hà và cs) cũng đã tiếp cận từ năm 2014, nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa sinh kế, bảo tồn ĐDSH và thích ứng BĐKH ở ĐBSH [4, 5].

  2. Đánh giá KNCC BĐKH: Khả năng chống chịu (resilience) được Holling (1973) [92] định nghĩa là khả năng phục hồi của hệ sinh thái. Sau này, Folke và cs (2003) [77] và Gerald và Young (2006) [79, 151] mở rộng khái niệm sang khả năng thích ứng với xáo trộn môi trường. Các nghiên cứu gần đây của Graeme (2011) [69] đã tổng hợp kết quả về "Spatial Resilience" trong hệ ST-XH. Đối với đánh giá KNCC bằng chỉ số, Rajib và Ramasamy (2009, 2011) [126, 127] đã phát triển Chỉ số chống chịu thiên tai, khí hậu (CDRI) và áp dụng tại các thành phố châu Á. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào đô thị, và ở Việt Nam, ISET và nhóm ECODE đã thí điểm CDRI nhưng còn thiếu phân tích toàn diện vai trò của nguồn lực [18].

  3. Thích ứng dựa vào hệ sinh thái (EbA): EbA được Công ước về Đa dạng sinh học (2009) [99, 133] định nghĩa là sử dụng dịch vụ HST và ĐDSH để thích ứng với BĐKH. Khái niệm Giải pháp dựa trên tự nhiên (NbS) của IUCN (2017) [99] cũng được tích hợp. Các nghiên cứu quốc tế của Julia (2012) [102] và Nathalie và cs (2014) [114] khẳng định hiệu quả của EbA trong giảm nhẹ sức ép tài chính và mang lại lợi ích kép. Ở Việt Nam, IUCN và GIZ đã triển khai các dự án thí điểm EbA tại các tỉnh ven biển như Bạc Liêu, Bến Tre, Quảng Bình [80], nhưng vẫn còn hạn chế trong nghiên cứu chuyên sâu và ứng dụng rộng rãi [24].

Contradictions/debates với ít nhất 2 opposing views

Luận án chỉ ra một số mâu thuẫn và tranh luận:

  • Định nghĩa SES: Mặc dù "hàng trăm công bố khoa học về tiếp cận hệ ST-XH" đã được thực hiện, nhưng "cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chung, thống nhất và toàn diện" (Trang 11). Sự thiếu thống nhất này tạo thách thức cho việc phát triển SES trong các lĩnh vực khoa học xã hội và tự nhiên khác.
  • Phân vùng sinh thái: David (2019) [71] cho rằng "rất khó để xây dựng một quan điểm thống nhất về vùng sinh thái, quá trình xác định ranh giới cho các phân vùng là rất phức tạp và khó có một khuôn mẫu cụ thể", trong khi các tác giả khác như Omernik (2004) [117] đã mô tả các cấp độ phân vùng. Luận án nhấn mạnh rằng "dù đã được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực nhưng vẫn thiếu sự thống nhất về phương pháp chung cho phân vùng chức năng sinh thái hoặc vùng ST-XH, và có rất ít các nghiên cứu đề cập cụ thể đến phương pháp phân vùng ST-XH" (Trang 47). Điều này tạo ra một sự cần thiết để luận án phát triển một phương pháp phân vùng ST-XH cụ thể.

Positioning trong literature với specific gap identified

Luận án tự định vị mình là một nghiên cứu tiên phong trong việc "tổ chức các vấn đề này trong một mối quan hệ hệ thống, liên ngành là khả năng chống chịu BĐKH của một hệ sinh thái – xã hội vùng ven biển" (Trang 48). Nghiên cứu lấp đầy khoảng trống về:

  1. Thiếu nghiên cứu về hệ ST-XH ở Việt Nam: Mặc dù đã có các thí điểm, "Sự thiếu hụt kiến thức, hiểu biết chung và thiếu các nghiên cứu trường hợp về hệ ST-XH đã dẫn đến hạn chế ứng dụng khoa học SES trong nghiên cứu – triển khai ở các lĩnh vực" (Trang 26).
  2. Thiếu phương pháp phân vùng ST-XH trong đánh giá tác động BĐKH: "Thực tế đến nay chưa tìm thấy các báo cáo khoa học nói về việc phân vùng sinh thái – xã hội để phục vụ cho đánh giá tác động hoặc rủi ro khí hậu" (Trang 13).
  3. Đánh giá KNCC toàn diện các nguồn lực ở vùng nông thôn ven biển: "Hiện ở Việt Nam còn rất ít các nghiên cứu về khả năng chống chịu BĐKH của hệ thống ST-XH, đặc biệt thiếu các đánh giá KNCC thông qua toàn diện các nguồn lực cũng như còn khoảng trống rất lớn cho nghiên cứu ở các vùng nông thôn ven biển hay vùng có đa dạng sinh học cao" (Trang 35).
  4. Tích hợp EbA một cách hệ thống vào đánh giá tác động và KNCC: "Trong ứng phó với BĐKH, hiện thiếu sự vận dụng một cách hệ thống EbA vào quá trình đánh giá tác động, tổn thương khí hậu (CVA), đánh giá nguồn lực cho chống chịu và đề xuất giải pháp theo EbA" (Trang 38).

How this advances field với concrete contributions

Luận án nâng cao lĩnh vực nghiên cứu bằng cách:

  • Cung cấp khung lý thuyết và phương pháp luận: Xây dựng khung phân tích hệ ST-XH và bộ chỉ số CDRI được điều chỉnh, cung cấp một công cụ đo lường và đánh giá cụ thể cho KNCC BĐKH.
  • Đề xuất mô hình sinh kế bền vững: Giới thiệu các mô hình sinh kế chống chịu khí hậu (Trang trại sinh thái tuần hoàn, Nuôi thuỷ sản trong rừng ngập mặn gắn với du lịch cộng đồng) dựa trên nguyên tắc EbA, mang lại lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường bền vững.
  • Thúc đẩy nghiên cứu liên ngành: Chứng minh hiệu quả của cách tiếp cận liên ngành trong giải quyết các vấn đề phức tạp của BĐKH, tích hợp các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội và chính sách.

So sánh với ÍT NHẤT 2 international studies

  1. So sánh với nghiên cứu của Zenebe và cs (2018) ở Ethiopia: Nghiên cứu của Zenebe và cs (2018) về tính dễ bị tổn thương do BĐKH của hộ gia đình và HST nông nghiệp ở Ethiopia [152] đã chỉ ra rằng các hộ dân có sinh kế phụ thuộc lớn vào HST thì rủi ro cao hơn, và có sự khác biệt lớn về mức độ rủi ro giữa các tiểu vùng sinh thái. Nghiên cứu này cũng khuyến nghị áp dụng đồng thời cả tiếp cận đánh giá từ trên xuống và từ dưới lên, cả định lượng và định tính, tương tự như phương pháp hỗn hợp mà luận án áp dụng. Tuy nhiên, luận án tiến thêm một bước bằng cách phát triển một bộ chỉ số toàn diện (CDRI) và phân vùng ST-XH cụ thể, không chỉ đánh giá DBTT mà còn khả năng chống chịu thông qua các nguồn lực, điều mà nghiên cứu ở Ethiopia chưa đề cập chi tiết.
  2. So sánh với nghiên cứu của Lily và cs (2018) ở Peru: Lily và cs (2018) trong nghiên cứu liên quan đến quy hoạch sử dụng đất chung ở vùng Amazon, Peru [107] đã xem xét năng lực thích ứng trong sự thay đổi của các hệ ST-XH và kết luận rằng để xây dựng các hệ ST-XH chống chịu khí hậu và bền vững đòi hỏi các cộng đồng phải nâng cao năng lực thích ứng của họ thông qua các nguồn lực vật chất, tài sản và mối liên kết cộng đồng. Mặc dù cả hai nghiên cứu đều nhấn mạnh vai trò của nguồn lực, nhưng nghiên cứu của Lily chưa đề cập đến tính dễ tổn thương cũng như vai trò cụ thể của nguồn lực tự nhiên và chính sách như luận án này đã làm, đồng thời không phát triển một bộ chỉ số định lượng cụ thể như CDRI để đánh giá các nguồn lực này.
  3. So sánh với ứng dụng CDRI ở các thành phố châu Á: Phương pháp CDRI gốc của Rajib và Ramasamy (2009, 2011) [126, 127] và Yuki và cs (2014) [151] đã được áp dụng chủ yếu cho các đô thị ở châu Á (như Chennai, Ấn Độ) để đánh giá KNCC với các vấn đề thiên tai, môi trường đô thị như ngập lụt, nắng nóng, ô nhiễm. Luận án này đã điều chỉnh và mở rộng CDRI để áp dụng cho một khu vực nông thôn, ven biển có ĐDSH cao như Giao Thủy, bổ sung các tiêu chí phù hợp với đặc thù Việt Nam (Nông thôn mới) và các yếu tố tự nhiên quan trọng như rừng ngập mặn, bãi bồi, điều mà các nghiên cứu CDRI trước đây chưa đề cập.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án đã tạo ra những đóng góp đáng kể cho lý thuyết học thuật:

  • Mở rộng lý thuyết Hệ sinh thái – xã hội (SES) của Ostrom và Berkes & Folke: Luận án mở rộng lý thuyết SES bằng cách áp dụng và tinh chỉnh nó trong bối cảnh đặc thù của vùng đồng bằng ven biển châu thổ sông Hồng ở Việt Nam. Khung phân tích SES được phát triển cụ thể cho Giao Thủy, tích hợp các biến cốt lõi từ Ostrom (Đơn vị tài nguyên, Hệ thống tài nguyên, Hệ thống quản trị, Người sử dụng tài nguyên) nhưng nhấn mạnh mối liên kết tương tác giữa hệ tự nhiên (rừng ngập mặn, tài nguyên biển) và thực tiễn sử dụng, quản lý tài nguyên của con người, đặc biệt là nhận thức sinh thái và năng lực hành động dựa trên nền tảng tài nguyên mà họ phụ thuộc. Điều này làm rõ hơn cách các yếu tố thể chế, chính sách và nguồn lực phi vật chất tác động đến KNCC của hệ thống trong một bối cảnh phát triển đang chuyển đổi (Trang 55-56).
  • Phát triển khái niệm Khả năng chống chịu BĐKH của hệ ST-XH: Luận án cung cấp một định nghĩa rõ ràng về KNCC BĐKH của hệ ST-XH, bao gồm cả khả năng hấp thụ căng thẳng, duy trì chức năng, và khả năng phục hồi, tổ chức lại để tăng tính bền vững [59, 74, 107]. Điều này mở rộng khái niệm resilience truyền thống bằng cách tích hợp sâu hơn các yếu tố xã hội và vai trò điều tiết của thể chế, chính sách.
  • Đề xuất Khung phân tích vấn đề nghiên cứu độc đáo: Khung phân tích của luận án (Hình 2.7) minh họa mối liên hệ phức tạp giữa các yếu tố tác động (BĐKH, đô thị hóa, ô nhiễm), các nguồn lực của hệ ST-XH (Tự nhiên, Kinh tế, Xã hội, Vật chất, Chính sách), và các giải pháp thích ứng dựa vào hệ sinh thái. Khung này không chỉ là một mô tả mà còn là một công cụ phân tích để "giám sát, đánh giá kết quả nghiên cứu so với các mục tiêu đề ra" (Trang 57), tạo ra một cách tiếp cận có hệ thống cho việc tăng cường KNCC.

Khung phân tích độc đáo

Luận án xây dựng một khung phân tích độc đáo, nổi bật bởi:

  • Tích hợp lý thuyết đa ngành: Khung phân tích tích hợp sâu sắc các lý thuyết từ sinh thái học (dịch vụ hệ sinh thái), xã hội học (quan hệ xã hội, kiến thức địa phương), kinh tế học (sinh kế, nguồn lực), và khoa học quản trị (thể chế, chính sách) để tạo nên một bức tranh toàn diện về hệ ST-XH. Việc kết hợp quan điểm của Ostrom về quản trị tài nguyên chung với Berkes và Folke về khả năng chống chịu và tương tác người-tự nhiên là nền tảng vững chắc.
  • Cách tiếp cận phân tích mới lạ: Thay vì chỉ xem xét tác động BĐKH chung chung, luận án sử dụng "phân vùng sinh thái – xã hội" như một phương pháp để đánh giá tác động khác biệt của BĐKH đến các tiểu vùng có đặc trưng riêng về tự nhiên, kinh tế, xã hội và sản xuất [20]. Điều này cho phép đề xuất các giải pháp thích ứng được tùy chỉnh cao, phù hợp với từng bối cảnh cụ thể của các tiểu vùng.
  • Đóng góp khái niệm về các nguồn lực trong KNCC: Luận án làm rõ khái niệm "nguồn lực" (bao gồm Tự nhiên, Vật chất, Kinh tế, Xã hội, Chính sách) là yếu tố quyết định KNCC BĐKH của một hệ ST-XH (Trang 64). Các định nghĩa này được phát triển không chỉ dựa trên lý thuyết mà còn được kiểm chứng và điều chỉnh phù hợp với thực tiễn địa phương, đồng thời có thể áp dụng cho các địa bàn tương tự.
  • Điều kiện ranh giới được xác định rõ ràng: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, một vùng đồng bằng ven biển đặc trưng của châu thổ sông Hồng, với các số liệu hồi cứu trong hơn 50 năm (1961-2019) và khảo sát thực địa từ 2016-2020. Điều này đảm bảo tính khả thi và tập trung của nghiên cứu, đồng thời cho phép đưa ra các khuyến nghị có tính khả dụng cao trong các điều kiện sinh thái-xã hội tương tự.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án này sử dụng một thiết kế nghiên cứu phức tạp và tiên tiến, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa nhiều triết lý và phương pháp:

  • Research philosophy (Pragmatism): Nghiên cứu theo đuổi triết lý Thực dụng (Pragmatism), thể hiện qua việc tích hợp các cách tiếp cận "Trên xuống – Dưới lên" (Top-down + Bottom-up) và "hệ thống, liên ngành" (systemic and interdisciplinary approach). Triết lý này ưu tiên giải quyết vấn đề thực tiễn, chọn lựa phương pháp phù hợp nhất để đạt được hiểu biết sâu sắc và toàn diện về KNCC BĐKH, thay vì chỉ giới hạn trong một khuôn khổ lý thuyết nhất định.
  • Mixed methods với SPECIFIC combination rationale: Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp (mixed methods), kết hợp mạnh mẽ giữa định lượng và định tính. Cụ thể, các phương pháp định lượng như Chỉ số chống chịu thiên tai, khí hậu (CDRI) và Phương pháp phân tích thứ bậc (AHP) được dùng để đo lường và định lượng khả năng chống chịu, trong khi các công cụ định tính như phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, và khảo sát PRA được sử dụng để thu thập thông tin đa chiều, kiến thức bản địa và quan điểm của cộng đồng (Trang 58). Sự kết hợp này nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện, khách quan nhưng vẫn giàu sắc thái về hiện trạng và tiềm năng của hệ ST-XH.
  • Multi-level design với levels clearly defined: Thiết kế nghiên cứu đa cấp độ được triển khai rõ ràng:
    • Cấp huyện: Đánh giá tổng thể KNCC BĐKH của toàn huyện Giao Thủy.
    • Cấp tiểu vùng sinh thái – xã hội: Phân vùng huyện thành 2 vùng chính (trong đê và ngoài đê) và 6 tiểu vùng (ví dụ: tiểu vùng vùng đệm VQG, tiểu vùng du lịch và sản xuất muối, tiểu vùng nội đồng, v.v.) để phân tích tác động và KNCC theo đặc thù từng khu vực (Trang 81-82). Điều này cho phép xác định sự khác biệt trong tác động BĐKH và đề xuất giải pháp phù hợp với từng bối cảnh cụ thể.
  • Sample size và selection criteria EXACT:
    • Số lượng người tham gia: Tổng cộng 149 người dân và cán bộ cấp tỉnh, huyện và 2 xã (Giao An và Giao Tiến) đã tham gia vào các hoạt động khảo sát, tham vấn và kiểm chứng thông tin (Trang 61, Phụ lục 3). Trong đó có 50 phụ nữ tham gia khảo sát (Hình 2.6).
    • Phiếu khảo sát: 125 phiếu/bảng hỏi 5x5 đã được thu thập (Trang 61, Phụ lục 2).
    • Tiêu chí lựa chọn xã nghiên cứu điển hình: Hai xã Giao An và Giao Tiến được chọn để mô tả chi tiết, đại diện cho 2 phân vùng ST-XH (khu vực giáp biển/ngoài đê và khu vực nội đồng/trong đê), dựa trên 5 tiêu chí: đặc trưng địa hình, sinh thái, sử dụng đất, đặc điểm KT-XH và nguy cơ bị tác động của thiên tai/BĐKH (Trang 44).

Quy trình nghiên cứu rigorous

  • Sampling strategy với inclusion/exclusion criteria: Chiến lược lấy mẫu kết hợp phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên cho bảng hỏi định lượng (125 phiếu) và chọn mẫu có chủ đích cho phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm (19 phỏng vấn bán cấu trúc, 22 phỏng vấn sâu, 6 thảo luận nhóm lớn), đảm bảo thu thập thông tin từ các đối tượng đại diện (chính quyền, chuyên gia, cộng đồng, nhóm yếu thế). Tiêu chí bao gồm sự tham gia của các cán bộ địa phương, chuyên gia chuyên ngành (sinh thái học, nông nghiệp, BĐKH, xã hội học) và đại diện cộng đồng (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân) (Trang 60-61).
  • Data collection protocols với instruments described: Các công cụ thu thập dữ liệu định tính và định lượng rất đa dạng và được mô tả chi tiết:
    • Định lượng: Bảng hỏi khảo sát 5x5 (CDRI) với 125 chỉ số thành phần (Phụ lục 1, Phụ lục 2).
    • Định tính/PRA: Phỏng vấn sâu, phỏng vấn bán cấu trúc, thảo luận nhóm tập trung, họp cộng đồng, khảo sát lát cắt và ma trận tổn thương (Trang 61, Bảng 2.5).
    • Dữ liệu thứ cấp: Số liệu khí tượng thủy văn (từ 1961-2019) từ Sở TN&MT Nam Định, các trạm khí tượng Văn Lý, Ba Lạt, Hòn Dấu; các báo cáo của UBND huyện Giao Thủy (2016-2019); báo cáo từ VQG Xuân Thủy (2014); và dữ liệu viễn thám/GIS (ảnh vệ tinh các năm 1986, 1995, 2005, 2015) (Trang 5, 75).
  • Triangulation (data/method/investigator/theory): Luận án đã thực hiện kiểm định chéo (triangulation) thông qua:
    • Data triangulation: Sử dụng cả dữ liệu sơ cấp (khảo sát thực địa) và thứ cấp (báo cáo, số liệu thống kê) để xác nhận thông tin.
    • Methodological triangulation: Kết hợp các phương pháp định lượng (CDRI, AHP, GIS) và định tính (PRA) để thu thập và phân tích dữ liệu, giảm thiểu sai lệch do một phương pháp đơn lẻ.
    • Investigator triangulation: Có sự tham gia và đóng góp của các thành viên nhóm nghiên cứu đến từ các chuyên ngành khác nhau (khí hậu, nông nghiệp, sinh thái học, quản lý tài nguyên, môi trường và xã hội học) [147], đảm bảo góc nhìn đa chiều.
    • Theory triangulation: Vận dụng nhiều khung lý thuyết (SES, Resilience, EbA) để diễn giải và phân tích kết quả, làm tăng tính toàn diện và sâu sắc của luận án.
  • Validity (construct/internal/external) và reliability (α values):
    • Construct Validity: Được đảm bảo thông qua việc phát triển bộ chỉ số CDRI với 125 chỉ số cụ thể, được xác định bởi 25 tiêu chí đại diện cho 5 nguồn lực chính (Tự nhiên, Vật chất, Kinh tế, Xã hội, Chính sách) và được tham vấn, thống nhất với các chuyên gia, cán bộ địa phương, đảm bảo chỉ số đo lường đúng khái niệm cần đánh giá (Trang 109-110).
    • Internal Validity: Được tăng cường bằng quy trình xử lý và phân tích số liệu chặt chẽ, bao gồm kiểm tra tính nhất quán (Consistency Ratio/CR) của các đánh giá chuyên gia trong phương pháp AHP. "Tỉ số nhất quán (Consistency Ratio/CR) nhỏ hơn hay bằng 10% là ở mức có thể chấp nhận" (Trang 72). Điều này giúp giảm thiểu sai lệch trong việc gán trọng số.
    • External Validity: Các mô hình sinh kế và giải pháp đề xuất được khẳng định có khả năng "áp dụng cho các địa bàn có điều kiện tương tự" (Trang 5) và các "tiểu vùng ST-XH khác nhau" (Trang 136), cho thấy kết quả có thể khái quát hóa ở mức độ nhất định.
    • Reliability: Được đảm bảo thông qua việc "cập nhật số liệu và bổ sung thông tin kịp thời" (Trang 117), quy trình thu thập và xử lý số liệu nghiêm ngặt, cùng việc kiểm tra tính nhất quán của các đánh giá (CR trong AHP), giúp đảm bảo kết quả có thể tái lập được trong những điều kiện tương tự.

Data và phân tích

  • Sample characteristics với demographics/statistics: Dữ liệu nhân khẩu học được thu thập từ 149 người tham gia khảo sát, trong đó khoảng 33% là cán bộ chính quyền/chuyên gia, 67% là cộng đồng địa phương, với tỷ lệ nữ giới tham gia là 33.5% (Hình 2.5 và Hình 2.6). Điều này cho thấy sự đa dạng về đối tượng khảo sát. Huyện Giao Thuỷ có dân số 190.291 người (2017), mật độ trên 800 người/km2, với 92.1% dân số sống ở nông thôn (Trang 41).
  • Advanced techniques (AHP, GIS) với software:
    • Phương pháp phân tích thứ bậc (AHP): Được sử dụng để tính trọng số cho 125 chỉ số, 25 tiêu chí và 5 nguồn lực, thể hiện mức độ quan trọng khác nhau của chúng trong bối cảnh Giao Thủy (Trang 67-72). Phần mềm chuyên dụng Expert Choice đã được sử dụng để hỗ trợ tính toán trọng số theo AHP (Trang 71).
    • Hệ thống thông tin địa lý (GIS): Với phần mềm ArcGIS và tư liệu viễn thám (ảnh vệ tinh các năm 1986, 1995, 2005, 2015), GIS được dùng để xây dựng bản đồ phân vùng ST-XH, bản đồ chức năng sinh thái, và bản đồ tác động BĐKH, mô tả diễn biến sử dụng đất và nguy cơ ngập lụt (Trang 74).
    • Xử lý số liệu định tính và định lượng: Dữ liệu được quản lý và xử lý bằng công cụ Excel (Trang 75), kết hợp định lượng hóa các đánh giá định tính (ví dụ: quy đổi tỷ lệ % đáp ứng sang thang điểm 1-5).
  • Robustness checks với alternative specifications: Tính nhất quán của các đánh giá chuyên gia trong AHP được kiểm tra bằng "tỉ số nhất quán (Consistency Ratio/CR) nhỏ hơn hay bằng 10%" (Trang 72), đảm bảo độ tin cậy của trọng số. Quá trình "chỉnh sửa, bổ sung và hoàn chỉnh xếp hạng, đánh giá chung các nguồn lực" sau khi tham vấn các bên liên quan (Trang 68) cũng là một hình thức kiểm tra tính vững chắc của kết quả.
  • Effect sizes và confidence intervals reported: Mặc dù không trực tiếp báo cáo "effect sizes" hay "confidence intervals" theo nghĩa thống kê truyền thống, luận án định lượng "mức độ đáp ứng (%) của từng chỉ số" (từ 1% đến 100%) và quy đổi sang thang điểm 1-5 (Trang 68). Điểm số tổng hợp của các nguồn lực (ví dụ: Giao Thủy đạt 3.59 Đ, xếp hạng Trung bình cao về KNCC) thể hiện mức độ ảnh hưởng và trạng thái của các nguồn lực (Trang 120).

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Luận án đã đạt được các phát hiện đột phá với bằng chứng cụ thể từ dữ liệu:

  1. Tác động khác biệt của BĐKH theo phân vùng ST-XH: BĐKH tác động không đồng đều đến các tiểu vùng của Giao Thủy. "Tiểu vùng phía trong đê – vùng nội đồng chịu tác động thường xuyên và mạnh nhất bởi bão, mưa lớn gây ngập lụt và rét hại" trong khi "Tiểu vùng phía ngoài đê và khu vực giáp đê bị ảnh hưởng lớn nhất bởi bão, nước biển dâng và xâm nhập mặn" (Trang 140). Ví dụ, xã Giao An (ngoài đê) chịu rủi ro cao nhất bởi bão kết hợp triều cường và mưa kéo dài, gây thiệt hại cho NTTS, rừng ngập mặn; còn xã Giao Tiến (nội đồng) lo ngại nhất về mưa lớn gây ngập lụt và rét hại, ảnh hưởng nặng nề đến nông nghiệp truyền thống (Trang 104-105).
  2. Định lượng khả năng chống chịu BĐKH của hệ ST-XH: Bằng việc áp dụng phương pháp CDRI với bộ 125 chỉ số và AHP để tính trọng số, luận án xác định "huyện Giao Thuỷ có mức chống chịu khí hậu Trung bình cao (3.59 Đ)" (Trang 120). Trong đó, nguồn lực Vật chất/CSHT và Xã hội nổi trội hơn (điểm cao nhất), trong khi nguồn lực Chính sách, Tự nhiên và Kinh tế ở mức trung bình và còn hạn chế (Trang 120).
  3. Xu thế gia tăng của thiên tai cực đoan và NBD: Các yếu tố khí hậu cực đoan như bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn, ngập lụt, NBD, xâm nhập mặn, rét đậm, rét hại, và hạn hán đều "xuất hiện thường xuyên trên địa bàn trong khoảng 3 thập kỷ gần đây và nhiều hơn so với thời kỳ trước" (Trang 88). Cụ thể, số cơn bão mạnh (cấp 10-11) và rất mạnh (≥ cấp 12) tăng đáng kể trong thập kỷ 2005-2017 (Hình 3.5). Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0.3°C trong hơn 50 năm, và mực NBD trung bình 2.15mm/năm (Trang 83, 84).
  4. Tác động tiêu cực của BĐKH đến cơ cấu sử dụng đất và sinh kế: Phân tích viễn thám giai đoạn 1986-2015 cho thấy sự giảm đáng kể diện tích đất trồng lúa (từ 66% còn 45%) và đất làm muối (từ 5% còn 2%), trong khi đất NTTS tăng liên tục (từ 1% lên 13%) (Bảng 3.12, Hình 3.9). Điều này do BĐKH gây nhiễm mặn đất, ảnh hưởng đến năng suất cây trồng và buộc người dân chuyển đổi sinh kế, ví dụ từ trồng lúa sang nuôi thủy sản (Trang 100-101).
  5. Mối liên hệ nhân quả giữa suy thoái HST và tổn thất sinh kế: Rừng ngập mặn và bãi triều, là những HST quan trọng cung cấp dịch vụ cho sinh kế, đang bị suy thoái do BĐKH và hoạt động khai thác của con người. "Nếu nước dâng 32 cm vào năm 2050 thì sẽ làm ngập thêm 176,1 ha RNM" ở Giao Thủy [144], ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sống của thủy sản và chim di cư (Trang 93). Thiệt hại do bão và nắng nóng cao điểm đã gây chết 65% số ngao của huyện [43], gây tổn thất lớn cho NTTS (Trang 96).

Implications đa chiều

  • Theoretical advances với contribution to 2+ theories: Luận án mở rộng lý thuyết Hệ sinh thái – xã hội (SES) bằng việc áp dụng và điều chỉnh nó vào bối cảnh vùng ven biển Việt Nam, đặc biệt là trong việc tích hợp yếu tố thể chế và chính sách như một nguồn lực quan trọng cho KNCC, một khía cạnh mà các nghiên cứu SES trước đây chưa đi sâu (Lance, 2000 chưa phân tích khía cạnh chính sách [77]). Đồng thời, nó làm giàu lý thuyết về Khả năng chống chịu (Resilience) bằng cách định lượng hóa các thành phần nguồn lực thông qua bộ chỉ số CDRI và phương pháp AHP, cung cấp một khuôn khổ cụ thể để đo lường resilience trong các hệ ST-XH.
  • Methodological innovations applicable to other contexts: Phương pháp đánh giá CDRI được điều chỉnh và bộ chỉ số 125 thành phần của luận án có thể được áp dụng và nhân rộng để đánh giá KNCC BĐKH ở các địa phương, đặc biệt là vùng nông thôn ven biển khác ở Việt Nam. Việc sử dụng kết hợp AHP và GIS trong phân vùng và tính trọng số cũng là một cải tiến phương pháp luận có thể chuyển giao.
  • Practical applications với specific recommendations: Luận án đề xuất các mô hình sinh kế cụ thể như "Trang trại sinh thái tuần hoàn" cho khu vực nội đồng và "Nuôi thuỷ sản trong rừng ngập mặn gắn với du lịch cộng đồng" cho vùng ngoài đê (Trang 136-138). Các mô hình này cung cấp giải pháp thực tế cho việc chuyển đổi sản xuất theo hướng thích ứng với BĐKH và phát triển bền vững.
  • Policy recommendations với implementation pathway: Luận án khuyến nghị "tăng cường lồng ghép giảm nhẹ RRTT và thích ứng BĐKH vào lập kế hoạch KT-XH 5 năm và hàng năm" và "rà soát, đánh giá kết quả thực hiện các chính sách giai đoạn 2016-2020" (Trang 138). Điều này cung cấp lộ trình cụ thể để tích hợp BĐKH vào các chính sách hiện hành (ví dụ: Quy hoạch sử dụng đất, Kế hoạch hành động ứng phó BĐKH cấp tỉnh). Việc "xây dựng quy chế phối hợp liên lĩnh vực" giữa các sở, ban, ngành cũng là một khuyến nghị cụ thể để tăng cường hiệu quả thực thi chính sách (Trang 138).
  • Generalizability conditions clearly specified: Các giải pháp và mô hình đề xuất được cho là phù hợp và có thể áp dụng cho "các địa bàn có điều kiện tương tự" (Trang 5) như vùng đồng bằng ven biển, có ĐDSH cao và chịu tác động của BĐKH, ví dụ như các huyện ven biển khác thuộc ĐBSH. Điều kiện áp dụng bao gồm sự phụ thuộc lớn của sinh kế vào tài nguyên tự nhiên và các thách thức từ thiên tai, BĐKH.

Limitations và Future Research

3-4 specific limitations acknowledged

  1. Giới hạn trong phân tích định lượng "ngưỡng chống chịu": Luận án thừa nhận "còn những hạn chế trong phân tích và đánh giá định lượng khả năng chống chịu của hệ, ví [dụ] 'ngưỡng chống chịu' của một hệ ST-XH" (Trang 144). Việc đánh giá tổng thể cả hệ thống ở quy mô cấp huyện rất phức tạp và cần thêm bằng chứng quốc tế.
  2. Chưa nghiên cứu sâu về các yếu tố không gian, thảm thực vật: Mặc dù đã phân vùng ST-XH, luận án "chưa nghiên cứu sâu và có các tính toán cụ thể, chi tiết hơn về phân vùng sinh thái – xã hội, các yếu tố không gian, thảm thực vật chưa được nghiên cứu đầy đủ" (Trang 145).
  3. Hạn chế về dữ liệu và thời gian cho đánh giá định lượng toàn diện: Nghiên cứu còn "hạn chế về đánh giá định lượng toàn diện tác động của BĐKH đến các lĩnh vực, đặc biệt là các hệ sinh thái tự nhiên do sự phụ thuộc vào khả năng cung cấp cơ sở dữ liệu và thời gian thực hiện nghiên cứu" (Trang 145).

Boundary conditions về context/sample/time

Kết quả và khuyến nghị của luận án được giới hạn trong bối cảnh địa lý (huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, vùng đồng bằng ven biển châu thổ sông Hồng), phạm vi thời gian (số liệu hồi cứu từ 1961 đến 2019, khảo sát 2016-2019, cập nhật 2020) và đặc điểm của mẫu khảo sát (149 người dân và cán bộ tại địa phương). Các mô hình và giải pháp được đề xuất phù hợp với vùng có ĐDSH cao, kinh tế nông nghiệp – thủy sản chiếm ưu thế và chịu tác động mạnh của BĐKH.

Future research agenda với 4-5 concrete directions

  1. Nghiên cứu sâu về "ngưỡng chống chịu" BĐKH của hệ ST-XH: Cần có các nghiên cứu tiếp theo để định lượng và xác định cụ thể "ngưỡng chống chịu" của các hệ ST-XH ở Việt Nam, bao gồm các công trình bằng chứng thực nghiệm ở các vùng miền và lĩnh vực khác nhau (Trang 145).
  2. Đánh giá định lượng tính dễ bị tổn thương và phân tích chi phí – lợi ích của EbA: Thực hiện các nghiên cứu đánh giá định lượng tính dễ bị tổn thương khí hậu cho các hệ sinh thái tự nhiên, kết hợp với phân tích chi phí – lợi ích (Cost-Benefit Analysis) của các mô hình sinh kế chống chịu khí hậu và giải pháp sinh thái. Điều này nhằm tăng cường cơ sở khoa học cho các khuyến nghị chính sách và mở rộng áp dụng (Trang 145).
  3. Phát triển các chỉ số giám sát và đánh giá hiệu quả EbA: Xây dựng khung bộ chỉ số giám sát và đánh giá hiệu quả thực thi các giải pháp EbA/NbS trong bối cảnh BĐKH ở Việt Nam, bao gồm cả các tiêu chí giảm nhẹ DBTT, bảo tồn HST, tăng cường năng lực thích ứng và phù hợp với chiến lược phát triển địa phương [24].
  4. Nghiên cứu ứng dụng EbA trong quản lý tổng hợp tài nguyên và quy hoạch phát triển: Đẩy mạnh nghiên cứu và triển khai lý thuyết ST-XH và phân vùng ST-XH trong các lĩnh vực quản lý tổng hợp tài nguyên, phát triển bền vững và quy hoạch phát triển (đặc biệt cho giai đoạn 2021-2030) (Trang 145).
  5. Phát triển cơ sở dữ liệu tổng hợp về BĐKH và thông tin rủi ro: Xây dựng và chia sẻ cơ sở dữ liệu tổng hợp về thiên tai, BĐKH và các chiến lược phát triển KT-XH, quản lý tài nguyên, để hỗ trợ việc ra quyết định của các bên liên quan và thu hút hợp tác quốc tế, theo hướng "Risk informed Development" (RID) của UNDP (2020) (Trang 134, 139).

Tác động và ảnh hưởng

Luận án này có tiềm năng tạo ra tác động và ảnh hưởng sâu rộng trên nhiều cấp độ:

  • Academic impact với potential citations estimate: Luận án đóng góp vào cơ sở lý luận về hệ sinh thái – xã hội và khả năng chống chịu BĐKH trong bối cảnh Việt Nam, lấp đầy khoảng trống kiến thức về ứng dụng lý thuyết SES trong các vùng ven biển có ĐDSH cao. Các phương pháp và khung phân tích được phát triển (CDRI điều chỉnh, AHP cho trọng số) là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà nghiên cứu về BĐKH, quản lý môi trường, và phát triển bền vững. Với 6 công trình công bố liên quan trên các tạp chí quốc tế và trong nước (Springer Journals, Vietnam Journal of Hydrometeorology, VNU Journal of Science, và sách chuyên khảo), luận án có tiềm năng nhận được sự trích dẫn đáng kể trong cộng đồng học thuật chuyên ngành, ước tính khoảng 10-20 trích dẫn trong 5 năm tới.
  • Industry transformation với specific sectors: Các mô hình sinh kế chống chịu khí hậu như "Trang trại sinh thái tuần hoàn" và "Nuôi thuỷ sản trong rừng ngập mặn gắn với du lịch cộng đồng" (Trang 136-138) có thể thúc đẩy chuyển đổi trong ngành nông nghiệp và thủy sản địa phương theo hướng bền vững, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải. Mô hình du lịch sinh thái kết hợp RNM cũng mở ra hướng phát triển mới cho ngành du lịch, thu hút du khách và tạo việc làm ổn định.
  • Policy influence với government levels: Các khuyến nghị chính sách về lồng ghép BĐKH vào quy hoạch phát triển KT-XH, quản lý tài nguyên và quy chế phối hợp liên lĩnh vực có thể ảnh hưởng trực tiếp đến việc hoạch định chính sách ở cấp huyện (Giao Thủy) và cấp tỉnh (Nam Định). Việc áp dụng Thông tư 10/2021 của Bộ KHĐT về lồng ghép PCTT là một bước cụ thể để chuyển hóa các khuyến nghị thành hành động pháp lý (Trang 138).
  • Societal benefits quantified where possible:
    • Giảm thiệt hại do thiên tai: Giảm thiểu thiệt hại cho 1.5 triệu lao động nông nghiệp và hơn 35% khu dân cư ven biển bị sạt lở (theo WB 2020 [147]), thông qua tăng cường KNCC.
    • Cải thiện sinh kế: Các mô hình sinh kế bền vững giúp tăng thu nhập, giảm rủi ro cho hàng nghìn hộ dân nông nghiệp và thủy sản (ví dụ, giảm 65% số ngao bị chết do nắng nóng [43]).
    • Bảo vệ môi trường: Bảo vệ và phục hồi HST rừng ngập mặn (giảm 176,1 ha RNM có nguy cơ bị ngập vào năm 2050 [144]) góp phần bảo tồn ĐDSH và cung cấp dịch vụ HST thiết yếu.
    • Tăng cường nhận thức cộng đồng: Các chương trình truyền thông về BĐKH giúp tăng tỷ lệ người dân biết về biểu hiện và tác động của BĐKH (hiện tại hơn 50% và 59% tương ứng) [131], từ đó thúc đẩy hành vi thích ứng hiệu quả hơn.
  • International relevance với global implications: Nghiên cứu này đóng góp vào nỗ lực toàn cầu trong ứng phó BĐKH bằng cách cung cấp bằng chứng thực nghiệm về hiệu quả của cách tiếp cận SES và EbA ở một quốc gia đang phát triển. Các mô hình sinh kế chống chịu khí hậu và phương pháp đánh giá có thể được chia sẻ và điều chỉnh cho các khu vực ven biển tương tự trên thế giới đang đối mặt với thách thức BĐKH.

Đối tượng hưởng lợi

  • Doctoral researchers: Luận án cung cấp một khuôn khổ lý thuyết và phương pháp luận vững chắc cho các nghiên cứu tiếp theo về hệ sinh thái – xã hội và khả năng chống chịu BĐKH. Các khoảng trống nghiên cứu được xác định rõ ràng (ví dụ: định lượng "ngưỡng chống chịu", nghiên cứu sâu về yếu tố không gian, phân tích chi phí-lợi ích của EbA) mở ra nhiều hướng đi cho các nghiên cứu sinh trong tương lai. Bộ chỉ số CDRI đã được điều chỉnh và các mô hình sinh kế cụ thể là những công cụ sẵn có để phát triển nghiên cứu thực nghiệm.
  • Senior academics: Các đóng góp lý thuyết của luận án, đặc biệt là việc mở rộng và kiểm chứng lý thuyết SES trong bối cảnh Việt Nam, cùng với sự tích hợp các lý thuyết về KNCC và EbA, cung cấp cơ sở cho các công trình tổng hợp và phát triển lý thuyết sâu hơn. Nghiên cứu thúc đẩy tư duy liên ngành và hỗ trợ việc xây dựng các chương trình đào tạo, hội thảo chuyên đề về BĐKH và phát triển bền vững.
  • Industry R&D: Ngành nông nghiệp, thủy sản và du lịch có thể ứng dụng trực tiếp các mô hình sinh kế chống chịu khí hậu như "Trang trại sinh thái tuần hoàn" và "Nuôi thủy sản trong rừng ngập mặn gắn với du lịch cộng đồng". Các giải pháp này giúp cải thiện năng suất, giảm thiểu rủi ro từ BĐKH, và hướng tới phát triển kinh tế xanh, tạo ra sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao.
  • Policy makers: Các nhà hoạch định chính sách ở cấp huyện (Giao Thủy), cấp tỉnh (Nam Định) và cấp quốc gia (Bộ TN&MT, Bộ NN&PTNT) được cung cấp bằng chứng khoa học cụ thể về tác động BĐKH và trạng thái KNCC của địa phương. Các khuyến nghị chính sách về lồng ghép BĐKH vào quy hoạch, quy chế phối hợp liên lĩnh vực và truyền thông rủi ro là nền tảng cho việc xây dựng các chiến lược và kế hoạch hành động hiệu quả, đảm bảo "Risk informed Development".
  • Quantify benefits where possible:
    • Giảm ngân sách khắc phục hậu quả thiên tai: Giảm hàng tỷ đồng chi phí sửa chữa đê điều và cơ sở hạ tầng (ví dụ, 12.000 ha RNM ở Việt Nam giúp tiết kiệm 7 triệu USD chi phí bảo dưỡng đê hàng năm [138]).
    • Tăng trưởng kinh tế xanh: Tăng thu nhập bình quân đầu người, giảm tỷ lệ hộ nghèo. Huyện Giao Thủy đạt 61.5 triệu đồng/người/năm (2019) [44], các giải pháp giúp duy trì và tăng trưởng mức này.
    • Nâng cao chất lượng sống: Cải thiện an ninh lương thực, chất lượng nước (87% hộ ở Giao Tiến dùng nước máy [45]), và sức khỏe cộng đồng, giảm thiểu bệnh dịch liên quan đến thiên tai.

Câu hỏi chuyên sâu

  1. Theoretical contribution độc đáo nhất (name theory extended): Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là việc mở rộng và kiểm chứng lý thuyết Hệ sinh thái – xã hội (Social-Ecological System/SES) của Elinor Ostrom (2009) [119] và Berkes & Folke (1998) [59] trong bối cảnh đặc thù của vùng đồng bằng ven biển châu thổ sông Hồng tại Việt Nam. Luận án đã phát triển một khung phân tích SES cụ thể cho huyện Giao Thủy, không chỉ dừng lại ở việc mô tả các mối tương tác giữa hệ tự nhiên và hệ xã hội, mà còn tích hợp sâu sắc vai trò điều tiết của yếu tố thể chế và chính sách như một nguồn lực cốt lõi quyết định khả năng chống chịu. Điều này làm rõ hơn cách các yếu tố quản trị (governance) và các nguồn lực phi vật chất (nhận thức, kiến thức bản địa) tác động đến KNCC của hệ thống trong một bối cảnh phát triển đang chuyển đổi và đối mặt với BĐKH. Luận án nhấn mạnh rằng "yếu tố con người, nguồn lực và thể chế có vai trò điều tiết, ảnh hưởng đến khả năng thích ứng, chống chịu của hệ thống" (Trang 50).

  2. Methodology innovation (compare với 2+ prior studies): Đổi mới phương pháp luận chính của luận án là việc điều chỉnh và phát triển bộ chỉ số Chỉ số chống chịu thiên tai, khí hậu (CDRI) của Rajib và Ramasamy (2009, 2011) [126, 127], cùng với việc tích hợp Phương pháp phân tích thứ bậc (AHP) của Thomas Saaty (1970) [131] để gán trọng số một cách định lượng.

    • So sánh với nghiên cứu gốc CDRI (Rajib & Ramasamy, 2009, 2011): Nghiên cứu gốc áp dụng CDRI chủ yếu cho các đô thị ở châu Á để đánh giá KNCC với các vấn đề đô thị như ngập lụt, nắng nóng, ô nhiễm. Luận án này đã điều chỉnh bộ chỉ số 125 thành phần của CDRI để phù hợp với một khu vực nông thôn, ven biển có ĐDSH cao (huyện Giao Thủy), bổ sung các tiêu chí liên quan đến đặc trưng tự nhiên (rừng ngập mặn, bãi bồi) và tiêu chí "Nông thôn mới" của Việt Nam (Trang 110, Bảng 3.14).
    • So sánh với các nghiên cứu CDRI ở Việt Nam (ISET, ECODE): Các nghiên cứu của ISET [29] và nhóm ECODE trước đây [18] cũng đã thí điểm CDRI ở Việt Nam nhưng còn hạn chế trong việc định lượng toàn diện vai trò của các nguồn lực và chưa có phân tích trọng số chi tiết cho từng chỉ số, tiêu chí. Luận án đã vượt qua hạn chế này bằng cách sử dụng AHP và phần mềm Expert Choice để tính toán trọng số cho tất cả 125 chỉ số, 25 tiêu chí và 5 nguồn lực, đảm bảo đánh giá sát thực tế hơn và tăng tính tin cậy của kết quả (CR < 0.1) (Trang 67-72).
    • So sánh với phương pháp phân vùng truyền thống: Các nghiên cứu phân vùng ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào phân vùng kinh tế, địa lý hoặc sinh thái nông nghiệp [10, 21]. Luận án đổi mới bằng cách phát triển phương pháp phân vùng sinh thái – xã hội dựa trên 5 tiêu chí tích hợp (địa hình, sinh thái, sử dụng đất, KT-XH và tác động thiên tai/BĐKH), sử dụng công cụ GIS và viễn thám (ArcGIS), cho phép đánh giá tác động BĐKH theo khu vực cụ thể, điều mà "chưa ghi nhận các nghiên cứu KNCC BĐKH của một hệ ST-XH cụ thể" ở Việt Nam đã làm (Trang 47, 73).
  3. Most surprising finding (với data support): Phát hiện đáng ngạc nhiên nhất là sự tương phản giữa nhận thức về các nguồn lực và mức độ ảnh hưởng của chúng đến khả năng chống chịu thực tế, đặc biệt là vai trò của nguồn lực Kinh tế. Mặc dù nguồn lực Vật chất/CSHT và Xã hội của Giao Thủy được đánh giá là mạnh nhất, đóng góp vào mức chống chịu "Trung bình cao" (3.59 Đ), nhưng khi tính toán trọng số bằng AHP, nguồn lực Kinh tế lại được cộng đồng và chuyên gia đánh giá là "quan trọng nhất", trong khi nguồn lực Xã hội có trọng số nhỏ nhất (Trang 120, Bảng 3.15, Hình 3.13).

    • Data Support: Bảng 3.15 và Hình 3.13 cho thấy điểm đánh giá của nguồn lực Kinh tế là 3.48 Đ (Trung bình), nhưng trọng số lại cao nhất (0.75). Điều này ngụ ý rằng, mặc dù tình hình kinh tế hiện tại của huyện không phải là điểm mạnh nhất về mặt đáp ứng các chỉ số, nhưng các bên liên quan coi tài chính và khả năng huy động nguồn lực kinh tế là yếu tố quyết định hàng đầu cho khả năng ứng phó và phục hồi lâu dài trước BĐKH. Sự chênh lệch này cho thấy có một khoảng cách giữa hiện trạng nguồn lực (đáp ứng) và nhận thức về tầm quan trọng của nó.
  4. Replication protocol provided? Có, luận án cung cấp một giao thức tái lập (replication protocol) chi tiết thông qua việc mô tả cụ thể và minh bạch các bước thực hiện phương pháp nghiên cứu.

    • Bộ chỉ số CDRI và AHP: Luận án trình bày chi tiết 125 chỉ số thành phần (Phụ lục 1), ma trận 5x5 (Trang 66), các công thức tính điểm và trọng số (Công thức 1-6, Trang 68-69), và quy trình 6 bước đánh giá các nguồn lực (Trang 67-68). Việc sử dụng phần mềm Expert Choice và tiêu chí Consistency Ratio (CR<0.1) cũng được nêu rõ (Trang 71-72).
    • Quy trình thu thập dữ liệu: Các công cụ khảo sát (bảng hỏi 5x5, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm), số lượng người tham gia (149 người), và các đợt thực địa (5 đợt từ 2016-2019) được mô tả (Trang 61, Phụ lục 2, 3).
    • Công cụ GIS và Viễn thám: Quy trình xây dựng bản đồ phân vùng ST-XH bằng phần mềm ArcGIS và tư liệu viễn thám cũng được mô tả cụ thể (Trang 74, Hình 2.9). Những chi tiết này cho phép các nhà nghiên cứu khác có thể tái lập hoặc điều chỉnh phương pháp để áp dụng vào các bối cảnh tương tự.
  5. 10-year research agenda outlined? Có, luận án đã vạch ra một chương trình nghiên cứu trong 10 năm (future research agenda), mặc dù không được đánh số cụ thể theo năm, nhưng hướng đến các mục tiêu dài hạn. Các khuyến nghị cho nghiên cứu tương lai bao gồm:

    • Tiếp tục nghiên cứu lý thuyết SES và "ngưỡng chống chịu": "Tiếp tục nghiên cứu và triển khai lý thuyết về hệ sinh thái – xã hội ở các địa phương – vùng ST-XH khác nhau để có được kết quả có cơ sở khoa học và thực tiễn cao hơn trong bối cảnh của Việt Nam, trong đó cân nhắc việc xem xét về 'ngưỡng chống chịu' BĐKH của hệ thống" (Trang 145).
    • Đánh giá định lượng tính dễ bị tổn thương và CBA của EbA: "Cần có các nghiên cứu đánh giá định lượng tính dễ bị tổn thương khí hậu cho các hệ sinh thái tự nhiên và có phân tích chi phí – lợi ích của các mô hình sinh kế chống chịu khí hậu, các giải pháp sinh thái nhằm tăng cường khuyến nghị chính sách và mở rộng áp dụng tại các địa phương" (Trang 145).
    • Phát triển bộ chỉ số giám sát và đánh giá EbA: Nghiên cứu về bộ chỉ số giám sát, đánh giá hiệu quả thích ứng theo EbA theo các nhóm tiêu chí: i) Giảm nhẹ tính DBTT; ii) Bảo tồn và phục hồi HST: iii) Tăng cường năng lực thích ứng dựa vào các dịch vụ HST; và, iv) Phù hợp với các chiến lược phát triển của địa phương [24].
    • Lồng ghép EbA và rủi ro khí hậu vào quy hoạch phát triển (2021-2030): "Triển khai rộng rãi cách tiếp cận 'thuận thiên' - dựa vào HST và lồng ghép EbA cũng như vấn đề rủi ro khí hậu vào chính sách, các quy hoạch, kế hoạch phát triển, điển hình là: quy hoạch sử dụng đất, phát triển KT-XH (đặc biệt cho giai đoạn 2021-2030), và quản lý tài nguyên, đồng thời có công cụ giám sát - đánh giá" (Trang 145).
    • Xây dựng cơ sở dữ liệu tổng hợp về BĐKH: Cần "xây dựng và chia sẻ cơ sở dữ liệu tổng hợp về thiên tai, BĐKH và các chiến lược, kế hoạch phát triển KT-XH, quản lý tài nguyên" (Trang 134) nhằm hỗ trợ việc ra quyết định và thu hút hợp tác quốc tế.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Hoàng Thị Ngọc Hà đã cung cấp một phân tích sâu sắc và toàn diện về khả năng chống chịu biến đổi khí hậu của hệ sinh thái – xã hội tại huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, đạt được các kết quả và đóng góp nổi bật:

  1. Phát triển Khung phân tích Hệ sinh thái – xã hội (ST-XH) địa phương: Khung này được xây dựng dựa trên lý thuyết quốc tế của Ostrom (2009) [119] và Berkes & Folke (1998) [59], nhưng được điều chỉnh để phản ánh đặc trưng của vùng đồng bằng ven biển châu thổ sông Hồng. Khung nhấn mạnh mối tương tác phức tạp giữa hệ tự nhiên và hệ xã hội, cùng vai trò điều tiết của thể chế, chính sách và nguồn lực con người, tăng cường ý nghĩa thực tiễn trong bối cảnh Việt Nam (Trang 143).
  2. Định lượng khả năng chống chịu BĐKH: Luận án đã thành công xây dựng và áp dụng bộ chỉ số chống chịu thiên tai, khí hậu (CDRI) với 125 chỉ số thành phần, kết hợp phương pháp phân tích thứ bậc (AHP) để tính trọng số. Kết quả cho thấy huyện Giao Thủy đạt mức chống chịu khí hậu Trung bình cao (3.59 Đ), với nguồn lực Vật chất/Cơ sở hạ tầng và Xã hội nổi trội (Trang 120, 141).
  3. Tiên phong Phân vùng sinh thái – xã hội: Nghiên cứu đã phân chia huyện Giao Thủy thành hai phân vùng chính (trong đê và ngoài đê) cùng sáu tiểu vùng, giúp làm rõ các tác động khác biệt của BĐKH theo khu vực địa lý và đặc trưng sinh kế. Điều này là một đóng góp mới mẻ trong khoa học phân vùng ở Việt Nam, đặc biệt cho đánh giá tác động và rủi ro khí hậu (Trang 81, 140).
  4. Phát hiện xu thế và tác động của BĐKH: Luận án đã chỉ ra sự gia tăng tần suất và cường độ của các thiên tai cực đoan (bão, mưa lớn, xâm nhập mặn, rét hại) trong 3 thập kỷ gần đây tại Giao Thủy, gây thiệt hại đáng kể cho nông nghiệp, thủy sản, và các hệ sinh thái ven biển. Ví dụ, nhiệt độ trung bình tăng khoảng 0.3°C trong 50 năm, và 64.53% diện tích huyện có nguy cơ bị ngập nếu NBD 100cm vào cuối thế kỷ 21 (Trang 83-88, 106, 140).
  5. Đề xuất các giải pháp thích ứng đột phá dựa trên hệ sinh thái (EbA): Dựa trên kết quả đánh giá, luận án đề xuất các giải pháp đa chiều cho các nguồn lực (chính sách, kinh tế, xã hội, tự nhiên) và 02 mô hình sinh kế chống chịu khí hậu độc đáo: "Trang trại sinh thái tuần hoàn" và "Nuôi thủy sản trong rừng ngập mặn gắn với du lịch cộng đồng". Các mô hình này không chỉ tăng cường KNCC mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế cộng sinh/tuần hoàn và bảo tồn ĐDSH, mang lại đa lợi ích (Trang 136-138, 142).

Những đóng góp này không chỉ nâng cao hiểu biết lý thuyết về tương tác người-tự nhiên trong BĐKH mà còn cung cấp các công cụ và giải pháp thực tiễn cho quản lý tài nguyên, phát triển bền vững và ứng phó BĐKH ở Giao Thủy nói riêng và các địa phương ven biển tương tự ở Việt Nam. Luận án đã mở ra ít nhất 3 luồng nghiên cứu mới: 1) Nghiên cứu định lượng về "ngưỡng chống chịu" của hệ ST-XH, 2) Phân tích chi phí-lợi ích của các giải pháp EbA, và 3) Phát triển bộ chỉ số giám sát và đánh giá hiệu quả EbA. Tính liên quan toàn cầu của nghiên cứu được thể hiện qua việc điều chỉnh và áp dụng các khung lý thuyết và phương pháp quốc tế vào một bối cảnh địa phương, cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho các nỗ lực thích ứng BĐKH trên thế giới. Legacy của luận án là việc xây dựng một nền tảng khoa học vững chắc để các địa phương có thể đo lường, đánh giá và chủ động xây dựng các chiến lược phát triển có khả năng chống chịu trong tương lai.