Luận án Phê bình sinh thái trong Tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986-2014
Luận án phê bình sinh thái văn học Việt Nam 1986-2014. Phân tích mối quan hệ con người, thiên nhiên và xã hội qua lăng kính mới.
Số trang
165
Thời gian đọc
25 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- Phê bình sinh thái: Cấp thiết & Phát triển tại Việt Nam
- Số trang:
- 165 trang
- Chuyên ngành:
- Văn học
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I.Phê bình sinh thái Cấp thiết Phát triển tại Việt Nam
Thế kỷ XXI chứng kiến tiến bộ khoa học vượt bậc. Con người trở thành “bá chủ” Trái đất. Tuy nhiên, hành tinh đối mặt hủy hoại môi trường nghiêm trọng. Biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, cạn kiệt nguồn nước, thiên tai khó lường xảy ra. Rừng biến mất, dịch bệnh tràn lan. Nhân loại phải nhìn nhận lại hành động. Trách nhiệm với hệ sinh thái trở nên bức thiết. Văn học không thể vô cảm trước sự phá hủy này. Phê bình sinh thái ra đời những năm 1970. Đây là “phản ứng muộn màng” trước nguy cơ sinh thái. Nó phát triển mạnh mẽ từ những năm 1990. Các hoạt động văn học môi trường liên tục diễn ra. Hội thảo, hiệp hội, ấn phẩm chuyên ngành ra đời. Giáo sư Laurence Buell định nghĩa: “Văn học sinh thái là văn học viết về nguy cơ của thế giới.”
1.1. Khủng hoảng môi trường Động lực ra đời phê bình sinh thái
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật mang lại tiện nghi. Nhưng nó cũng đẩy hành tinh vào khủng hoảng môi trường nghiêm trọng. Ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên là vấn đề cấp bách. Hệ sinh thái toàn cầu bị đe dọa. Con người buộc phải xem xét lại vai trò và trách nhiệm của mình. Phê bình sinh thái xuất hiện như một lời đáp. Nó là công cụ để văn học phản ánh những thách thức này. Lĩnh vực này phân tích mối quan hệ giữa văn học và môi trường. Nó kêu gọi ý thức môi trường. Nó góp phần tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề sinh thái. Sự ra đời của nó là minh chứng cho sự nhẩn nha của khoa học xã hội. Tuy nhiên, nó đã tạo ra một phong trào học thuật mạnh mẽ. Văn học bắt đầu “xanh hóa” nghiên cứu.
1.2. Dấu ấn văn học sinh thái Tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Văn học Việt Nam giai đoạn 1986-2014 thể hiện rõ dấu ấn sinh thái. Nhiều tiểu thuyết tiêu biểu xuất hiện. Các tác phẩm như “Trăm năm còn lại” (Trần Duy Phiên), “Thập giá giữa rừng sâu” (Nguyễn Khắc Phê) khám phá mối quan hệ con người và tự nhiên. “Chó Bi, đời lưu lạc” (Ma Văn Kháng), “Sông” (Nguyễn Ngọc Tư) cũng đề cập sâu sắc các vấn đề môi trường. “Gần như là sống”, “Ruồi là ruồi” (Đỗ Phấn) phản ánh thực trạng ô nhiễm môi trường. “Săn cá thần” (Đặng Thiều Quang), “Dòng sông chết” (Thiên Sơn) cảnh báo nguy cơ. “Nhắm mắt nhìn trời” (Nguyễn Xuân Thủy), “Thân xác” (A Sáng) đi sâu vào ý thức môi trường. Các nhà văn Việt Nam nhạy bén. Họ tri nhận vấn đề thời sự mang tính nhân loại. Văn học hướng đến môi trường. Đây là một cách hướng đến sự sống. Tiểu thuyết Việt Nam đương đại góp phần quan trọng vào phê bình sinh thái.
II.Đặc tính phê bình sinh thái Giải cấu trúc tiểu thuyết
Phê bình sinh thái là một lĩnh vực nghiên cứu mới. Nó kiểm tra mối quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên. Lĩnh vực này có đặc tính hậu/giải cấu trúc. Nó bác bỏ quan điểm nhân loại trung tâm. Thay vào đó, nó nhấn mạnh sự phụ thuộc của con người vào hệ sinh thái. Nghiên cứu này phân tích phê bình sinh thái. Nó nhìn nhận qua lăng kính hậu/giải cấu trúc. Điều này giúp hiểu sâu hơn cách văn học phản ánh khủng hoảng môi trường. Nó cũng cho thấy cách văn học đề xuất giải pháp. Phê bình sinh thái phá vỡ các khuôn mẫu tư duy truyền thống. Nó mở ra không gian mới cho việc đọc hiểu văn bản.
2.1. Phê bình sinh thái Khái niệm Góc nhìn hậu cấu trúc
Phê bình sinh thái không chỉ là việc đọc văn học. Nó là một lăng kính mới để nhìn nhận thế giới. Khái niệm này có cội nguồn từ những lo ngại về môi trường. Nó phát triển song song với các lý thuyết hậu cấu trúc. Phê bình sinh thái đặt câu hỏi về quyền lực. Nó xem xét cách ngôn ngữ, văn hóa định hình mối quan hệ con người và tự nhiên. Nó thách thức sự thống trị của con người. Nó đề xuất một cách hiểu đa chiều hơn. Giải cấu trúc giúp phân tích sâu hơn các diễn ngôn. Nó phơi bày những ẩn ý về hệ sinh thái trong văn bản. Đây là cách tiếp cận quan trọng trong sinh thái học văn học.
2.2. Phi trung tâm Liên chủ thể Tiêu điểm tiểu thuyết Việt Nam
Tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 thể hiện nhiều phương diện hậu/giải cấu trúc. Một khía cạnh là phi trung tâm. Đây là dạng thức tồn tại của văn hóa hậu hiện đại. Con người không còn là trung tâm tuyệt đối. Tự nhiên, các loài vật, vật thể vô tri cũng có tiếng nói. Khía cạnh khác là “cái chết của chủ thể” hay tính liên chủ thể. Điều này bác bỏ ý niệm về một chủ thể duy nhất, độc lập. Nó nhấn mạnh sự kết nối, tương tác giữa con người và thế giới xung quanh. Con người là một phần của mạng lưới sinh thái rộng lớn. Tính đối thoại cũng là phương thức kết nối với thế giới tự nhiên. Văn học kiến tạo cuộc đối thoại đa chiều. Nó không chỉ giữa người với người. Nó còn giữa con người với thiên nhiên, với môi trường. Các tác phẩm thể hiện sự phân rã của quyền lực. Chúng cho thấy sự phức tạp của mối quan hệ con người và tự nhiên.
III.Đạo đức sinh thái Nhân vật Khủng hoảng môi trường
Tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986-2014 khắc họa nhiều kiểu nhân vật. Các nhân vật này đại diện cho các thái độ khác nhau đối với môi trường. Từ kẻ xâm phạm đến nạn nhân và người thức tỉnh. Hệ thống nhân vật này giúp định giá chuẩn tắc đạo đức sinh thái. Nó phản ánh sâu sắc mối quan hệ con người và tự nhiên trong bối cảnh khủng hoảng môi trường. Văn học trở thành tấm gương phản chiếu những vấn đề nhức nhối. Nó cũng gợi mở con đường tìm kiếm sự hài hòa và bền vững.
3.1. Nhân vật xâm phạm tự nhiên Hậu quả tư tưởng nhân loại trung tâm
Kiểu nhân vật xâm phạm tự nhiên là phổ biến. Họ thể hiện khát vọng bành trướng, thống trị. Tư tưởng nhân loại trung tâm chi phối hành vi. Con người coi mình là bá chủ. Họ khai thác tài nguyên vô tội vạ. Họ phá hủy môi trường sống của các loài khác. Các hành động sai lạc này dẫn đến hệ quả nghiêm trọng. Sự mơ hồ sinh thái thể hiện rõ. Nhân vật ngộ nhận về quy luật sinh tồn. Họ không nhận ra sự phụ thuộc của mình vào hệ sinh thái. Cuối cùng, họ phải trả giá. Khủng hoảng môi trường là tất yếu. Văn học cảnh báo về những sai lầm này.
3.2. Nạn nhân sinh thái Phản ánh ô nhiễm môi trường đô thị nông thôn
Bên cạnh kẻ xâm phạm, tiểu thuyết cũng miêu tả nhân vật nạn nhân sinh thái. Họ chịu đựng hậu quả của văn minh. Nông dân và người nghèo là một nhóm. Họ chịu ảnh hưởng nặng nề từ sinh thái giai cấp. Đất đai bị ô nhiễm, nguồn nước cạn kiệt. Môi trường sống bị hủy hoại. Thị dân và trí thức cũng là nạn nhân. Họ đối mặt làn sóng sinh thái đô thị. Ô nhiễm không khí, tiếng ồn, rác thải là vấn đề. Nữ giới cũng có những thấu chạm sinh thái nữ quyền. Họ thường chịu đựng tác động kép. Tác phẩm phản ánh sự bất công. Nó kêu gọi sự đồng cảm. Nó thể hiện ý thức môi trường sâu sắc. Khủng hoảng môi trường ảnh hưởng đến mọi tầng lớp.
3.3. Nhân vật thức tỉnh Hướng tới ý thức môi trường bền vững
Tiểu thuyết Việt Nam còn xây dựng kiểu nhân vật thức tỉnh. Họ có ý niệm về sự hợp nhất. Họ trải qua quá trình sám hối, trăn trở. Họ cảm nhận niềm kính sợ sinh mệnh. Các nhân vật này nhận ra sai lầm của con người. Họ bắt đầu hành động bảo vệ tự nhiên. Nỗ lực tái thiết Trái đất được thể hiện. Họ hướng đến lối sống điền viên. Cuộc hành hương về với tự nhiên là một biểu tượng. Đây là sự tìm kiếm cân bằng, hài hòa. Họ muốn khôi phục mối quan hệ tốt đẹp với hệ sinh thái. Ý thức môi trường bền vững được hình thành. Đây là thông điệp tích cực của văn học Đổi mới.
IV.Văn học Đổi mới Phục hưng ý thức môi trường
Văn học Đổi mới có vai trò quan trọng trong việc phục hưng ý thức môi trường. Nó không chỉ phản ánh hiện thực. Nó còn kiến tạo các diễn ngôn. Nó kết nối con người với tự nhiên theo những cách mới mẻ. Quyền lực văn hóa của văn học giúp thay đổi nhận thức cộng đồng. Nó hướng tới một mối quan hệ bền vững hơn với hệ sinh thái. Văn học không chỉ là giải trí. Nó là công cụ mạnh mẽ cho sự thay đổi xã hội. Đây là một đóng góp thiết yếu của văn học đương đại Việt Nam.
4.1. Sức mạnh diễn ngôn Định hình nhận thức sinh thái hiện đại
Văn học có quyền lực văn hóa mạnh mẽ. Nó phục hưng tinh thần sinh thái. Quyền lực của diễn ngôn khai mở nhãn quan văn minh đương đại. Văn học định hình diễn ngôn lãng mạn tự nhiên. Nó đặt tự nhiên vào tầm nhận thức mới. Tự nhiên không chỉ là bối cảnh. Nó là một thực thể sống, cần được tôn trọng. Văn học cũng kiến tạo diễn ngôn sinh thái hiện đại. Nó đưa ra những tưởng tượng khác về môi trường. Các tác phẩm tạo ra câu chuyện mới. Chúng thay đổi cách con người nhìn nhận thế giới. Điều này thúc đẩy ý thức môi trường toàn diện. Sinh thái học văn học nhận thấy tầm ảnh hưởng của diễn ngôn.
4.2. Liên văn bản Kết nối văn chương Thực tế môi trường
Quyền lực liên văn bản tạo liên kết sâu sắc. Nó kết nối văn chương với tổng thể sống linh thiêng trong vũ trụ. Văn học thể hiện sự biện chứng giữa văn chương và thực tế. Các vấn đề môi trường thực tế được phản ánh chân thực. Đồng thời, văn học cũng sử dụng huyền tích, tập tục. Đây là cách thức điều chỉnh tư duy về Trái đất. Các câu chuyện cổ, tín ngưỡng truyền thống nhắc nhở con người. Chúng gợi nhớ về sự hài hòa với tự nhiên. Văn học trở thành công cụ giáo dục. Nó thúc đẩy trách nhiệm sinh thái. Nó giúp cộng đồng có ý thức môi trường tốt hơn. Mối quan hệ con người và tự nhiên được củng cố.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (165 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộMỤC LỤC MỞ ĐẦU. Lí do chọn đề tài. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu. Đối tƣợng nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu. Cơ sở lí thuyết và phƣơng pháp nghiên cứu. Phƣơng pháp nghiên cứu. Đóng góp của luận án.
Kết cấu luận án. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU. Nghiên cứu lí thuyết phê bình sinh thái. Nghiên cứu lí thuyết phê bình sinh thái trên thế giới.
Nghiên cứu lí thuyết phê bình sinh thái ở Việt Nam. Nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 nhìn từ lí thuyết phê bình sinh thái. Tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 – quá trình đổi mới và tiến dần đến văn học sinh thái. Phê bình sinh thái – một lối tiếp cận mới vào tiểu thuyết Việt Nam sau 1986.
Đánh giá tình hình nghiên cứu và hƣớng triển khai đề tài. Về tình hình nghiên cứu. Hƣớng triển khai đề tài. MỘT CÁI NHÌN HẬU/ GIẢI CẤU TRÚC VỀ PHÊ BÌNH SINH THÁI TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1986 – 2014.
Phê bình sinh thái và đặc tính hậu/ giải cấu trúc. Về khái niệm và cội nguồn của phê bình sinh thái. Đặc tính hậu/ giải cấu trúc của phê bình sinh thái. Những phƣơng diện hậu/ giải cấu trúc của phê bình sinh thái trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986.
Phi trung tâm – dạng thức tồn tại của văn hóa hậu hiện đại. Cái chết của chủ thể - tính liên chủ thể. Tính đối thoại – phƣơng thức kết nối với thế giới tự nhiên. ĐỊNH GIÁ CHUẨN TẮC ĐẠO ĐỨC SINH THÁI TỪ HỆ THỐNG NHÂN VẬT.
Kiểu nhân vật xâm phạm tự nhiên – khát vọng bành trƣớng. Tƣ tƣởng nhân loại trung tâm và sai lạc hành vi. Sự mơ hồ sinh thái – những ngộ nhận trong quy luật sinh tồn. Kiểu nhân vật nạn nhân sinh thái – hậu quả của văn minh.
Nông dân, ngƣời nghèo và dấu ấn của sinh thái giai cấp. Thị dân, trí thức và làn sóng sinh thái đô thị. Nữ giới và những thấu chạm sinh thái nữ quyền. Kiểu nhân vật thức tỉnh – ý niệm về sự hợp nhất.
Sám hối, trăn trở – niềm kính sợ sinh mệnh. Bảo vệ tự nhiên – nỗ lực tái thiết Trái đất. Hƣớng đến lối sống điền viên – cuộc hành hƣơng về với tự nhiên. PHỤC HƢNG TINH THẦN SINH THÁI TỪQUYỀN LỰC VĂN HÓA.
Quyền lực của diễn ngôn – những khai mở nhãn quan văn minhđƣơng đại. Định hình diễn ngôn lãng mạn tự nhiên trong tầm nhận thức mới. Kiến tạo diễn ngôn sinh thái hiện đại – tƣởng tƣợng khác về môi trƣờng. Quyền lực liên văn bản – tạo liên kết với tổng thể sống linh thiêng trong vũ trụ.
Sự biện chứng giữa văn chƣơng và thực tế. Những huyền tích, tập tục nhƣ cách thức điều chỉnh tƣ duy về Trái đất .141 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN .145 TÀI LIỆU THAM KHẢO .146 PHẦN PHỤ LỤC MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Bƣớc sang thế kỉ XXI, khi khoa học kĩ thuật – công nghệ và văn minh nhân loại đã đạt những thành tựu vƣợt bậc, và khi con ngƣời trở thành “bá chủ” trong hành tinh Trái đất, thì cũng chính là lúc nhân loại phải đối mặt với một vấn nạn bức thiết: sự hủy hoại môi trƣờng sinh thái ngày càng tàn khốc. Cái giá mà nhân loại phải trả cho những phƣơng tiện máy móc tân tiến, thiết bị điện tử thông minh, từng tòa cao ốc chọc trời, các nhà máy có quy mô đồ sộ… là sự biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trƣờng sống, cạn kiệt nguồn nƣớc, thiên tai khó lƣờng, rừng biến mất, dịch bệnh tràn lan… Đó là những hệ lụy đau lòng, khiến con ngƣời phải nhìn nhận lại hành động và trách nhiệm của chính mình đối với hệ sinh thái trong bối cảnh hiện nay.
Khi Trái đất đang bị đe dọa nghiêm trọng, không thể nói rằng văn học hoàn toàn vô cảm trong sự phá hủy ấy. Ra đời từ những năm 70 của thế kỉ XX, phê bình sinh thái là kết quả của chuỗi “phản ứng muộn màng” (so với các ngành khoa học xã hội – nhân văn khác) đối với nguy cơ sinh thái. Mãi đến những năm 90, phê bình sinh thái mới thực sự phát triển sâu rộng, sôi nổi khi các hoạt động văn học gắn kết với môi trƣờng liên tục diễn ra: Hội thảo “Phê bình sinh thái: làm xanh lại nghiên cứu văn học” (1991), thành lập “Hội nghiên cứu văn học và môi trƣờng” (1992), xuất bản công trình Nghiên cứu liên ngành về văn học và môi trường (1993), ấn phẩm kỉ niệm hai mƣơi năm thành lập Hội nghiên cứu Văn học và Môi trƣờng – Sổ tay Oxford Phê bình sinh thái (2013)… Những hoạt động trên đã khiến phê bình sinh thái trở thành một phong trào có tiếng vang trong giới học thuật. Giáo sƣ Laurence Buell nhận định: “Văn học sinh thái là văn học viết về nguy cơ của thế giới”.
Ở Việt Nam, có thể thấy rõ dấu ấn của văn chƣơng sinh thái qua những tiểu thuyết tiêu biểu nhƣ: Trăm năm còn lại (Trần Duy Phiên), Thập giá giữa rừng sâu (Nguyễn Khắc Phê), Chó Bi, đời lưu lạc (Ma Văn Kháng), Họ vẫn chưa về (Nguyễn Thế Hùng), Sông (Nguyễn Ngọc Tƣ), Gần như là sống, Ruồi là ruồi (Đỗ Phấn), Săn cá thần (Đặng Thiều Quang), Dòng sông chết (Thiên Sơn), Nhắm mắt nhìn trời (Nguyễn Xuân Thủy), Thân xác (A Sáng), Thiên đường ảo vọng (Nguyễn Trí), Chúa đất (Đỗ Bích Thúy), Vết thương hoa hồng (Nguyễn Văn Học), Con chim joong bay từ A đến Z (Đỗ Tiến Thụy)… Với số lƣợng tác phẩm đáng kể, các nhà văn Việt Nam đã thể hiện đƣợc sự nhạy bén của mình trong việc tri nhận những vấn đề thời sự mang tính nhân loại. 1 Hƣớng đến môi trƣờng, phải chăng văn học đang hƣớng đến sự sống còn của toàn nhân loại? Đó cũng chính là sứ mệnh của văn học sinh thái. Vì lẽ đó, chúng tôi lựa chọn đề tài: Tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 – 2014 từ góc nhìn phê bình sinh thái. Hƣớng nghiên cứu này sẽ góp phần khỏa lấp mảng trống của phê bình sinh thái trong văn học Việt Nam; đồng thời thúc đẩy các nhà văn chú ý nhiều hơn đến đề tài môi trƣờng và mối quan hệ giữa văn học với môi trƣờng, trách nhiệm của nhà văn với giới tự nhiên và sự an nguy, tồn vong của dân tộc, nhân loại; thể hiện sự gắn kết giữa khoa học với thực tiễn, đƣa văn học Việt Nam hội nhập và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 2. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của luận án là tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn sau 1986. Đặc biệt luận án khảo sát những tiểu thuyết của một số tác giả mà cảm thức sinh thái hiện lên khá rõ nét, tiêu biểu nhƣ: Đỗ Phấn (Gần như là sống; Ruồi là ruồi, Rụng xuống ngày hư ảo), Nguyễn Khắc Phê (Thập giá giữa rừng sâu); Trần Duy Phiên (Trăm năm còn lại); Nguyễn Ngọc Tƣ (Sông); Đỗ Bích Thúy (Bóng của cây sồi, Chúa đất), Ma Văn Kháng (Chó Bi, đời lưu lạc), Nguyễn Thế Hùng (Họ vẫn chưa về), Đặng Thiều Quang (Săn cá thần), Bùi Ngọc Tấn (Biển và chim bói cá), Nguyễn Xuân Thủy (Nhắm mắt nhìn trời), A Sáng (Thân xác), Đỗ Tiến Thụy (Con chim joong bay từ A đến Z)… Danh mục cụ thể các tác phẩm khảo sát trong luận án chúng tôi sẽ đƣa vào phần Phụ lục 1. Phạm vi nghiên cứu Dù luận án có tên: Tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 – 2014 từ góc nhìn phê bình sinh thái, nhƣng mốc giai đoạn 1986 – 2014 chỉ mang tính chất đánh dấubƣớc khởi đầu một thời kì văn học sau Đổi mới cho đến năm 2014 – là thời điểm chúng tôi tiếp nhận đề tài nghiên cứu.
Về cơ bản, những vấn đề sinh thái trong tiểu thuyết Việt Nam thể hiện rõ nét vào những năm đầu thế kỉ XXI cho đến tận bây giờ. Vì thế, chúng tôi cũng khảo sát thêm cả những tiểu thuyết sau năm 2014 (cụ thể là 2015, 2016, 2017). Luận án tập trung nghiên cứu những yếu tố thể hiện dấu ấn sinh thái trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn sau 1986 đến nay trên các phƣơng diện cơ bản sau: hệ sinh thái, hình tƣợng con ngƣời và các hình thức nghệ thuật thể hiện góc nhìn sinh thái. Cơ sở lí thuyết và phƣơng pháp nghiên cứu 3.
Cơ sở lí thuyết Để nghiên cứu đề tài Tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 – 2014 từ góc nhìn phê bình sinh thái, chúng tôi hệ thống hóa lí thuyết phê bình sinh thái trong văn học đã đƣợc các nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc công bố trên các chuyên luận, các tạp 2 chí có uy tín. Bên cạnh đó, chúng tôi xem xét những sáng tác thuộc thể loại tiểu thuyết giai đoạn Đổi mới đến nay nằm trong sự vận động, giao lƣu giữa văn học đƣơng đại với các nền văn học khác trên thế giới. Đặc biệt, chúng tôi chú ý dấu ấn và ảnh hƣởng của lí thuyết phê bình sinh thái trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này, những yếu tố đậm nhạt thể hiện góc nhìn sinh thái ở những tác giả, tác phẩm cụ thể, riêng lẻ. Từ đó, chúng tôi tổng hợp, đánh giá khách quan những vấn đề chung liên quan đến lí thuyết phê bình sinh thái trong tiểu thuyết Việt Nam đƣơng đại.
Đồng thời, trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi chú trọng đến những đặc điểm nổi bật nhất của một số cây bút tiểu thuyết đƣơng đại trong sự giao thoa với những đặc trƣng cơ bản của văn học hậu hiện đại. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phương pháp cấu trúc – hệ thống: Đây là phƣơng pháp giúp chúng tôi định hình, đặt các yếu tố tƣơng quan, có những dấu hiệu lặp lại và đồng đẳng với nhau trong một chỉnh thể thống nhất, nhằm minh giải cho các phƣơng diện của luận án. Cụ thể, chúng tôi sẽ luận giải khuynh hƣớng phát triển của tiểu thuyết Việt Nam từ sau Đổi mới trong sự liên hệ đa chiều với các đặc trƣng của phê bình sinh thái. Đồng thời, khi phân tích tác phẩm và những biểu hiện của thi pháp sinh thái, ngƣời viết không xem xét vấn đề theo hƣớng cô lập mà đặt trong hệ thống để xác định các sắc độ tiếp biến nghệ thuật sinh thái ở mỗi nhà văn.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Phê bình sinh thái trong tiểu thuyết Việt Nam 1986-2014 (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/van-hoc/phe-binh-sinh-thai-tieu-thuyet-viet-nam-1986-2014
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Phê bình sinh thái trong tiểu thuyết Việt Nam 1986-2014" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án phê bình sinh thái văn học Việt Nam 1986-2014. Phân tích mối quan hệ con người, thiên nhiên và xã hội qua lăng kính mới.
Luận án "Phê bình sinh thái trong tiểu thuyết Việt Nam 1986-2014" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Phê bình sinh thái trong tiểu thuyết Việt Nam 1986-2014" thuộc chuyên ngành Văn học. Danh mục: Văn Học.
Luận án "Phê bình sinh thái trong tiểu thuyết Việt Nam 1986-2014" có bao nhiêu trang?
Luận án "Phê bình sinh thái trong tiểu thuyết Việt Nam 1986-2014" có 165 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Phê bình sinh thái trong tiểu thuyết Việt Nam 1986-2014" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.