Luận án nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh thái nhện gié Steneotarsonemus spinki hại lúa và biện pháp phòng chống

Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh thái của nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley hại lúa và biện pháp phòng chống ở miền Bắc Việt Nam.

Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án

Số trang

184

Thời gian đọc

28 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt của tác giả

Trích nguyên văn từ luận án

của ñề tài Lúa là một trong ba cây lương thực chủ yếu trên thế giới, với gần 70% dân số thế giới dùng gạo trong bữa ăn hàng ngày. Ở Việt Nam, ñã từ lâu cây lúa ñã trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý nghĩa ñáng kể trong nền kinh tế và xã hội của nước ta. Theo Tổng cục Thống kê, năm 2010 sản xuất lúa ước ñạt với diện tích khoảng 7,5 triệu ha và sản lượng gần 40 triệu tấn (chiếm khoảng 86,9% diện tích và 89,6% sản lượng trong nhóm cây lương thực có hạt) [19]. Nước ta có ñiều kiện khí hậu nhiệt ñới ẩm, thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng phát triển, ñồng thời ñây cũng là ñiều kiện tốt ñể sâu, bệnh (dịch hại) phát triển. Nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley (Tarsonemidae: Acarina) hại lúa là một loài ít phổ biến ñã xuất hiện và gây hại ñược ghi nhận trong hơn 20 năm qua, ñặc biệt là trong một vài năm trở lại ñây nhện gié nổi lên như một ñối tượng dịch hại nghiêm trọng. Sự gây hại của loài này có chiều hướng gia tăng ở vùng Hà Nội, các tỉnh Trung du, miền núi phía Bắc (Nguyễn Văn ðĩnh và Trần Thị Thu Phương, 2006) [10], (Nguyễn Văn ðĩnh và Vương Tiến Hùng, 2007) [12]. Tại một số diện tích hẹp ở Hải Dương, trên lúa mùa sớm nhện gié ñã làm thiệt hại năng suất tới gần 60% (ðỗ Thị ðào và cs, 2008) [5]. Theo số liệu thống kê của phòng BVTV (Cục BVTV), năm 2010 nhện gié ñã xuất hiện gây hại ở cả 3 vùng trồng lúa của nước ta (các tỉnh phía Bắc, Bắc Trung bộ và các tỉnh

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Tình hình bùng phát nhện gié hại lúa Steneotarsonemus
Số trang:
184 trang
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Tình hình bùng phát nhện gié hại lúa Steneotarsonemus

Lúa là cây lương thực giữ vị trí trọng yếu tại Việt Nam. Khí hậu nhiệt đới ẩm tạo điều kiện lý tưởng cho cây trồng sinh trưởng. Tuy nhiên, thời tiết này cũng kích thích nhiều loài dịch hại bùng phát mạnh. Trong đó, loài nhện gié hại lúa Steneotarsonemus spinki nổi lên như một hiểm họa nghiêm trọng. Loài dịch hại nguy hiểm này đã xuất hiện và gây hại trong hơn hai mươi năm qua. Mức độ xâm nhiễm ngày càng gia tăng ở nhiều vùng canh tác trọng điểm. Khu vực đồng bằng và trung du miền núi phía Bắc ghi nhận thiệt hại nặng nề. Việc nghiên cứu thực tiễn giúp đánh giá chính xác quy mô dịch hại để xây dựng chiến lược phòng trừ hiệu quả.

1.1. Thực trạng xâm nhiễm của nhện gié tại Việt Nam

Nhện gié xuất hiện trên diện rộng tại cả ba miền Bắc, Trung, Nam của nước ta. Số liệu thống kê năm 2010 cho thấy tổng diện tích nhiễm dịch lên đến gần 65.000 ha. Trong đó, hơn 2.000 ha lúa bị nhiễm rất nặng và cần xử lý khẩn cấp. Sự bùng phát diễn ra nhanh chóng tại Hà Nội và các tỉnh trung du phía Bắc. Người nông dân gặp nhiều khó khăn trong việc phát hiện sớm đối tượng này trên đồng ruộng. Kích thước cơ thể nhện gié rất bé nhỏ nên mắt thường khó nhận biết chính xác. Tập tính sống ẩn nấp bên trong bẹ lá khiến việc kiểm soát càng thêm phức tạp. Diện tích cần phòng trừ tiếp tục tăng cao qua từng mùa vụ canh tác lúa nước.

1.2. Mức độ gây hại và thiệt hại kinh tế do dịch bệnh

Mức độ tàn phá của nhện gié ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến an ninh lương thực. Tại Hải Dương, dịch hại từng làm giảm gần 60% năng suất trên trà lúa mùa sớm. Thiệt hại kinh tế đối với các hộ gia đình trồng lúa là rất nặng nề. Nhện chích hút nhựa cây liên tục làm suy kiệt sức sống của cả ruộng lúa. Chi phí sản xuất tăng vọt do người dân phải mua và phun thuốc bảo vệ thực vật nhiều lần. Việc thiếu hiểu biết kỹ thuật dẫn đến hiệu quả phòng trừ kém và lãng phí tiền của. Nguồn thu nhập của người sản xuất bị đe dọa nghiêm trọng khi dịch bệnh tái bùng phát liên tục.

II. Nghiên cứu đặc điểm sinh học nhện gié hại lúa chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm sinh học nhện gié đóng vai trò cốt lõi trong công tác bảo vệ mùa màng. Nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley thuộc họ Tarsonemidae và bộ Acarina. Cấu tạo cơ thể siêu nhỏ giúp loài nhện này dễ dàng xâm nhập vào các kẽ lá lúa. Loài vật này có khả năng thích nghi cao với các biến động phức tạp của thời tiết. Nhện gié sở hữu sức chịu nước và chịu lạnh rất đáng kinh ngạc trong tự nhiên. Khả năng sinh sôi nhanh chóng khiến mật độ quần thể tăng vọt trong thời gian ngắn. Nắm vững các pha phát triển giúp nhà nông xác định thời điểm can thiệp kỹ thuật phù hợp nhất.

2.1. Vòng đời nhện gié và tập tính cư trú ẩn nấp

Vòng đời nhện gié diễn ra tương đối ngắn nhưng mang lại hiệu suất sinh sản rất cao. Quá trình phát triển của chúng trải qua ba pha chính gồm trứng, ấu trùng và nhện trưởng thành. Nhện gié có tập tính thích nghi với lối sống bầy đàn bên trong tổ ở gân lá. Chúng tập trung gây hại chủ yếu tại mặt trong bẹ lá và ống thân cây lúa. Vị trí cư trú kín đáo này bảo vệ nhện an toàn trước các yếu tố bất lợi bên ngoài. Các loại thuốc trừ sâu tiếp xúc thông thường rất khó chạm tới vị trí ẩn nấp này. Khi mật độ gia tăng, nhện di chuyển dần lên các bộ phận non phía trên ngọn cây.

2.2. Khả năng sinh sản và thích ứng môi trường khắc nghiệt

Sức sinh sản dồi dào là lợi thế sinh học giúp loài nhện này duy trì mật độ cao. Một cá thể nhện cái có thể đẻ số lượng trứng rất lớn trong suốt vòng đời của mình. Nhện gié có khả năng chống chịu điều kiện ngập nước và nền nhiệt độ thấp kéo dài. Khi gặp môi trường khắc nghiệt, chúng ẩn sâu trong các bẹ lá già để duy trì sự sống. Sự phân hóa giới tính rõ rệt tạo điều kiện thuận lợi cho việc ghép đôi và phát tán. Quần thể nhện tăng trưởng theo cấp số nhân trong điều kiện độ ẩm không khí tăng cao. Điều này đòi hỏi các giải pháp kỹ thuật phải mang tính bao vây đồng loạt.

III. Sinh thái học nhện gié và triệu chứng gây hại trên lúa

Sinh thái học nhện gié gắn liền chặt chẽ với mùa vụ canh tác và chế độ bón phân. Nhện phát triển mạnh trên những chân đất trũng thấp và ruộng lúa bón thừa đạm. Mật độ cá thể biến động rõ rệt giữa vụ lúa đông xuân và vụ lúa mùa. Việc lựa chọn giống lúa mẫn cảm cũng là yếu tố quan trọng làm dịch bệnh bùng phát. Tác hại của nhện biểu hiện qua nhiều triệu chứng đặc trưng trên thân lá và bông lúa. Sự xuất hiện của dịch nhện gié thường mở đường cho các loại nấm khuẩn xâm nhập. Nhận biết đúng dấu hiệu giúp phát hiện và xử lý kịp thời trước khi lúa bị lụi tàn.

3.1. Dấu hiệu nhận biết vết cạo gió trên bẹ lá và thối bẹ

Khi nhện tấn công, triệu chứng ban đầu xuất hiện là các vết màu nâu sẫm kéo dài. Dân gian thường gọi dấu hiệu đặc thù này là vết cạo gió trên bẹ lá lúa. Nhện dùng phần miệng chích hút làm tổn thương nghiêm trọng các tế bào biểu bì bên trong bẹ. Vết thương hở tạo cơ hội thuận lợi cho nấm bệnh phát triển gây thối bẹ lá lúa. Bẹ lá bị thối nhũn khiến khả năng dẫn truyền nước và dinh dưỡng bị ngưng trệ hoàn toàn. Toàn bộ khóm lúa chuyển sang màu vàng úa và còi cọc một cách nhanh chóng. Ruộng lúa nhiễm nặng tỏa mùi chua hôi và xuất hiện các chòm lúa lụi tàn loang lổ.

3.2. Nguy cơ lúa nghẹn đòng và bông lúa trỗ không thoát

Thời kỳ làm đòng là giai đoạn cây lúa mẫn cảm nhất trước sự tấn công của dịch hại. Nhện gié chui sâu vào bao đòng để chích hút dịch dinh dưỡng của bông lúa non. Tác động này làm bẹ đòng bị siết chặt khiến lúa nghẹn đòng ở mức độ rất nặng. Bông lúa trỗ không thoát được hoàn toàn ra bên ngoài và bị nghẽn lại trong bẹ lá. Những bông lúa trỗ muộn thường bị biến dạng cong queo và khô héo ngay trên thân cây. Hiện tượng trỗ nghẽn làm giảm sút nghiêm trọng tỷ lệ hạt được thụ phấn bình thường. Năng suất thu hoạch cả vụ bị đe dọa nếu không phát hiện và can thiệp từ sớm.

3.3. Tình trạng lem lép hạt lúa làm giảm năng suất thu hoạch

Nhện gié tiếp tục chích hút trực tiếp lên bề mặt vỏ trấu và phôi hạt lúa non. Quá trình phá hoại này dẫn đến hiện tượng lem lép hạt lúa xuất hiện trên diện rộng. Hạt lúa bị thâm đen biến màu và không thể tích lũy tinh bột một cách đầy đủ. Tỷ lệ hạt lép lửng tăng cao làm giảm mạnh trọng lượng một nghìn hạt khi thu hoạch. Chất lượng gạo thương phẩm suy giảm nghiêm trọng do hạt gạo dễ bị nứt vỡ khi xay xát. Năng suất thực thu của ruộng lúa có thể sụt giảm từ 20% đến hơn 50%. Người trồng lúa chịu thiệt hại kinh tế nặng nề cả về sản lượng lẫn chất lượng.

IV. Biện pháp quản lý tổng hợp nhện gié hại lúa hiệu quả

Xây dựng biện pháp quản lý tổng hợp nhện gié hại lúa là giải pháp kiểm soát bền vững. Chiến lược IPM kết hợp hài hòa giữa kỹ thuật canh tác, đấu tranh sinh học và hóa học. Việc bón phân cân đối giữa đạm, lân và kali giúp tăng cường tính chống chịu của cây. Vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ giúp cắt đứt nguồn ký chủ phụ trung gian của nhện gié. Giữ mực nước ruộng hợp lý nhằm hạn chế khả năng di chuyển phát tán của đàn nhện. Các biện pháp canh tác cần được triển khai đồng bộ trên toàn bộ cánh đồng lúa. Cách tiếp cận khoa học giúp tiết kiệm chi phí và bảo vệ an toàn hệ sinh thái.

4.1. Ứng dụng thiên địch nhện nhỏ bắt mồi Lasioseius sp.

Thiên địch tự nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc khống chế mật độ của loài nhện này. Nghiên cứu thực tiễn đã xác định được bốn loài thiên địch có ích trên ruộng lúa. Trong đó, loài nhện nhỏ bắt mồi Lasioseius sp. thể hiện tiềm năng kiểm soát dịch hại rất cao. Chúng tích cực săn bắt và ăn các giai đoạn ấu trùng cùng trứng của nhện gié. Việc bảo vệ quần thể thiên địch giúp hạn chế tối đa việc dùng thuốc bảo vệ thực vật. Nông dân cần tránh phun thuốc trừ sâu phổ rộng bừa bãi vào đầu vụ canh tác. Cân bằng sinh thái tự nhiên giúp giữ mật độ nhện hại dưới ngưỡng gây hại kinh tế.

4.2. Thời điểm dùng thuốc bảo vệ thực vật đạt hiệu lực cao

Xác định chính xác thời điểm phun thuốc bảo vệ thực vật quyết định hiệu quả phòng trừ dịch. Giai đoạn lúa cuối đẻ nhánh đến ôm đòng là thời điểm then chốt nhất để can thiệp. Cần phun thuốc đặc trị khi nhện gié vừa chớm xuất hiện gây hại trên các bẹ lá dưới. Kỹ thuật phun phải đưa lượng nước thuốc ướt đều phần gốc và thân của cây lúa. Nông dân nên luân phiên sử dụng các hoạt chất hóa học để ngăn ngừa nhện kháng thuốc. Tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc bốn đúng giúp phát huy tối đa hiệu lực tiêu diệt nhện. Việc xử lý kịp thời bảo vệ an toàn cho bông lúa non chuẩn bị trỗ thoát.

4.3. Xây dựng quy trình IPM quản lý dịch hại bền vững

Xây dựng quy trình IPM hoàn chỉnh giúp nâng cao kiến thức và kỹ năng của người sản xuất. Các lớp tập huấn đồng ruộng cung cấp những hiểu biết sâu sắc về sinh thái dịch hại. Nông dân nhanh chóng nhận biết các dấu hiệu như vết cạo gió và hiện tượng lúa trỗ nghẽn. Sự phối hợp chặt chẽ giữa cán bộ bảo vệ thực vật và bà con tạo nên mạng lưới giám sát hiệu quả. Áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật bảo đảm năng suất và chất lượng của hạt lúa. Sản xuất lúa gạo bền vững mang lại giá trị kinh tế gia tăng cao hơn cho nông hộ. Môi trường nông thôn được bảo vệ xanh sạch lâu dài.

Mục lục chi tiết luận án

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
2.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3. Mục đích và yêu cầu của đề tài
3.1. Mục đích của đề tài
3.2. Yêu cầu của đề tài
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
4.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
5. Những đóng góp mới của luận án
1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.2.1. Những nghiên cứu về vị trí phân loại, tình hình phân bố, mức độ gây hại của nhện gié hại lúa Steneotarsonemus spinki Smiley
1.2.2. Đặc điểm hình thái và sinh học của nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh thái của nhện gié steneotarsonemus spinki smiley hại lúa và biện pháp phòng chống chúng ở một số tỉnh miền bắc việt nam

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (184 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

1 MỞ ðẦU 1 Tính cấp thiết của ñề tài Lúa là một trong ba cây lương thực chủ yếu trên thế giới, với gần 70% dân số thế giới dùng gạo trong bữa ăn hàng ngày. Ở Việt Nam, ñã từ lâu cây lúa ñã trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý nghĩa ñáng kể trong nền kinh tế và xã hội của nước ta. Theo Tổng cục Thống kê, năm 2010 sản xuất lúa ước ñạt với diện tích khoảng 7,5 triệu ha và sản lượng gần 40 triệu tấn (chiếm khoảng 86,9% diện tích và 89,6% sản lượng trong nhóm cây lương thực có hạt) [19]. Nước ta có ñiều kiện khí hậu nhiệt ñới ẩm, thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng phát triển, ñồng thời ñây cũng là ñiều kiện tốt ñể sâu, bệnh (dịch hại) phát triển.

Nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley (Tarsonemidae: Acarina) hại lúa là một loài ít phổ biến ñã xuất hiện và gây hại ñược ghi nhận trong hơn 20 năm qua, ñặc biệt là trong một vài năm trở lại ñây nhện gié nổi lên như một ñối tượng dịch hại nghiêm trọng. Sự gây hại của loài này có chiều hướng gia tăng ở vùng Hà Nội, các tỉnh Trung du, miền núi phía Bắc (Nguyễn Văn ðĩnh và Trần Thị Thu Phương, 2006) [10], (Nguyễn Văn ðĩnh và Vương Tiến Hùng, 2007) [12]. Tại một số diện tích hẹp ở Hải Dương, trên lúa mùa sớm nhện gié ñã làm thiệt hại năng suất tới gần 60% (ðỗ Thị ðào và cs, 2008) [5]. Theo số liệu thống kê của phòng BVTV (Cục BVTV), năm 2010 nhện gié ñã xuất hiện gây hại ở cả 3 vùng trồng lúa của nước ta (các tỉnh phía Bắc, Bắc Trung bộ và các tỉnh phía Nam) với tổng diện tích nhiễm nhện gié là 64848 ha, nhiễm nặng 2113 ha và diện tích phòng trừ là 11360 ha.

Với kích thước cơ thể rất nhỏ bé, nhện gié lại có phương thức sống khác với nhóm côn trùng hại lúa ñã biết như chúng sống trong tổ ở gân lá, gây hại ở mặt trong bẹ lá lúa, ống thân lúa và khả năng chịu nước và chịu lạnh cao, có sức sinh sản lớn, cho nên nhện gié là ñối tượng rất khó phòng chống. 2 Trước tình hình gây hại của nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley hại lúa ngày càng tăng trong thời gian gần ñây, trong khi ñó người nông dân chưa có những hiểu biết nhiều về ñối tượng này cũng như biện pháp phòng trừ hiệu quả chúng trong sản xuất. Xuất phát từ những yêu cầu thực tế ñó, ñòi hỏi phải có những nghiên cứu mang tính hệ thống ñể phòng trừ hiệu quả nhện gié hại lúa, chúng tôi tiến hành thực hiện ñề tài: “Nghiên cứu ñặc ñiểm sinh học, sinh thái của nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley hại lúa và biện pháp phòng chống chúng ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam”. 2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài 2.1 Ý nghĩa khoa học của ñề tài Cung cấp những dẫn liệu khoa học mới về ñặc ñiểm sinh vật học, sinh thái học của loài nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley hại lúa và ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ, chân ñất, giống lúa, mức bón ñạm ñến biến ñộng số lượng loài nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley.

ðề tài ñã cung cấp những dẫn liệu khoa học về thành phần các loài thiên ñịch và ký chủ của nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley hại lúa ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam.2 Ý nghĩa thực tiễn của ñề tài Bổ xung dẫn liệu về hiệu lực của một số loại thuốc hóa học ñối với nhện gié, thời ñiểm phòng trừ nhện gié hiệu quả. Những dẫn liệu của ñề tài góp phần làm cơ sở cho việc xây dựng quy trình quản lý tổng hợp (IPM) loài nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley hại lúa ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam. 3 Mục ñích và yêu cầu của ñề tài 3.1 Mục ñích của ñề tài Nghiên cứu xác ñịnh ñặc ñiểm sinh học, sinh thái của loài nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley và các biện pháp phòng chống chúng. Trên 3 cơ sở ñó, xây dựng quy trình quản lý tổng hợp (IPM) nhện gié hại lúa áp dụng cho một số tỉnh miền Bắc Việt Nam.2 Yêu cầu của ñề tài - Xác ñịnh ñặc ñiểm sinh học, sinh thái học của nhện gié hại lúa Steneotarsonemus spinki Smiley ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam.

- Xác ñịnh diễn biến mật ñộ của nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley và mối quan hệ của chúng với các yếu tố (mùa vụ, giống lúa, chân ñất, mức bón ñạm) ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam. Thành phần ký chủ và thiên ñịch của nhện gié hại lúa. - Nghiên cứu các biện pháp phòng trừ nhện gié, trên cơ sở ñó xây dựng biện pháp quản lý tổng hợp (IPM) nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley hại lúa ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam. 4 ðối tượng và phạm vi nghiên cứu của ñề tài 4.1 ðối tượng nghiên cứu của ñề tài Nghiên cứu loài nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley (họ Tarsonemidae, bộ Acarina) hại lúa và các loài thiên ñịch của chúng, chú trọng hơn ñến loài nhện nhỏ bắt mồi Lasioseius sp.2 Phạm vi nghiên cứu của ñề tài Phạm vi nghiên cứu của ñề tài là về ñặc ñiểm sinh vật học, sinh thái học và các yếu tố ảnh hưởng ñến diễn biến số lượng và hiệu quả của các biện pháp phòng chống nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley hại lúa ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam.

5 Những ñóng góp mới của luận án Bổ sung một số dẫn liệu về ñặc ñiểm sinh vật học, sinh thái học của loài nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley hại lúa và thành phần ký chủ của nhện gié ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam. Xác ñịnh 4 loài thiên ñịch của nhện gié hại lúa, cung cấp một số dẫn 4 liệu về khả năng sử dụng loài nhện nhỏ bắt mồi Lasioseius sp. phòng chống loài nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley ở Việt Nam. Lần ñầu tiên xây dựng quy trình quản lý tổng hợp loài nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley hại lúa, triển khai thực hiện ñạt hiệu quả kinh tế tại tỉnh Hải Dương và Hà Nam.

5 Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học của ñề tài Lúa là cây lương thực chính ở nước ta, chiếm khoảng 80% diện tích và 72% sản lượng trong nhóm cây lương thực (lúa, ngô, khoai lang, sắn) [19]. Trong thời gian gần ñây, tổng sản lượng lương thực tăng nhanh, nhất là sản lượng lúa, ñó là kết quả của việc áp dụng nhiều biện pháp canh tác mới như gieo trồng các giống lúa mới, cấy với mật ñộ dầy, bón nhiều phân hóa học và sử dụng nhiều thuốc trừ sâu, tăng vụ, xen vụ,. ñã ñược áp dụng rộng rãi. Ở nước ta, nhện gié ñược ghi nhận gây hại trên lúa tại Thừa Thiên - Huế (Ngô ðình Hòa, 1992) [13], ở vùng ñồng bằng sông Hồng (Nguyễn Văn ðĩnh, 1994) [6].

Tại nhiều tỉnh phía Nam (An Giang, ðồng Tháp, Tiền Giang, Kiên Giang,.) ñã ghi nhận triệu chứng “bệnh cạo gió” gây ra bởi loài này. Trong khoảng 10 năm trở lại ñây, nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley ñã trở thành ñối tượng gây hại khá phổ biến trên lúa. Sự xuất hiện và gây hại mạnh của nhện gié tại miền Bắc trong vòng vài năm vừa qua cho thấy hệ thống canh tác ở ñây có nhiều ñiểm bất hợp lý, ñã làm cho nhóm dịch hại nhỏ này (cùng với nhện ñỏ Tetranychus cinnabarinus K. và nhện trắng Polyphagotarsonemus latus B.

hại cây trồng) trở nên quan trọng, từ chỗ dịch hại thứ yếu (hoặc không biết ñến) trở thành dịch hại quan trọng, mà trên thế giới thường gọi là nhóm “MAN MADE PESTS” - nhóm do con người tạo nên. Nhóm dịch hại này có ñặc ñiểm chung là sự gia tăng quần thể lớn, sinh sản mạnh, vòng ñời ngắn và thường bị nhóm thiên ñịch phong phú khống chế. Một khi nhóm thiên ñịch do các ñiều kiện bất thuận (thường là do phun thuốc trừ sâu hóa học) không phát huy ñược tác dụng thì nhện hại sẽ chiếm ưu thế và sự thiệt hại là rất lớn và khó kiểm soát. 6 Nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley với phương thức sống: ñục vào bẹ lá lúa, sống trong tổ, khả năng chịu nước và chịu lạnh cao, sức sinh sản lớn, khác biệt với nhiều loài nhện nhỏ hại cây trồng như nhện trắng Polyphagotarsonemus latus Banks, nhện ñỏ son Tetranychus cinnabarius Boisduval, nhện ñỏ hại chè Oligonychus coffeae Niet., nhện ñỏ cam chanh Panonychus citri McG.

Triệu chứng gây hại lại dễ nhầm lẫn với triệu chứng của các bệnh do vi sinh vật gây nên (như nấm, vi khuẩn Pseudomonas glumae.) mà người ta thường gọi là “bệnh lem lép”. Trong các năm 2007, 2008 tình hình nhện gié gây hại ngày một tăng. Theo thống kê chưa ñầy ñủ của 11/25 tỉnh thành ở miền Bắc, diện tích lúa bị nhện gié gây hại trong 2 năm 2007, 2008 là trên 5000 ha. Có nhiều tỉnh như Thái Nguyên, Phú Thọ diện tích lúa mùa bị hại nặng lên tới trên 500 ha, toàn thân cây lúa chuyến sang màu xám nâu hơi ñen, mất màu vàng ñặc trưng khi lúa chín, năng suất giảm ñáng kể.

Các tỉnh miền núi cao như ðiện Biên, Sơn La và ở ñồng bằng sông Hồng như Hải Dương, Ninh Bình, Bắc Ninh,… cũng ñã ghi nhận sự gây hại của nhện gié [20]. Vụ mùa năm 2009, nhện gié gây hại và phân bố rộng hơn năm trước, hại nặng cục bộ ở một số tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Hoà Bình, ðiện Biên, Quảng Ninh, Ninh Bình, Hưng Yên… Diện tích nhiễm hơn 2.000 ha, nhiễm nặng 115 ha (Trung tâm BVTV phía Bắc, 2009) [21]. Năm 2010, nhện gié xuất hiện ở cả 2 vụ nhưng hại chủ yếu ở vụ mùa, diện phân bố rộng hơn, mức ñộ gây hại nặng hơn vụ mùa năm trước. Diện tích nhiễm gần 10.000 ha, nhiễm nặng 1.

Trong vòng 5 năm trở lại ñây có sự gia tăng rõ rệt mức ñộ gây hại của nhện gié ở ðồng bằng sông Hồng và Trung du miền núi phía Bắc (Nguyễn Văn ðĩnh và Vương Tiến Hùng, 2007) [12]; (ðỗ Thị ðào và cs, 2008) [5]. Một số tỉnh ở miền Bắc như Hà Nam, Hải Dương, Ninh Bình, ðiện 7 Biên, Hưng Yên, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Yên Bái, Lai Châu, năm 2011 từ ñầu tháng 9 ñến ñầu tháng 10, tỷ lệ hại của nhện gié phổ biến từ 3-7%, cao từ 20-40% và cục bộ tới 60% số dảnh bị hại. Tổng diện tích nhiễm nhện gié là 1.871 ha, nhiễm nặng 270 ha, diện tích phòng trừ phòng trừ 62 ha (Trung tâm BVTV phía Bắc, 2011) [23].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Nghiên cứu sinh học sinh thái nhện gié hại lúa Steneotarsonemus spinki (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/nong-hoc/bao-ve-thuc-vat/luan-an-nghien-cuu-dac-diem-sinh-hoc-sinh-thai-cua-nhen-gie-steneotarsonemus

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Nghiên cứu sinh học sinh thái nhện gié hại lúa Steneotarsonemus spinki" nghiên cứu về vấn đề gì?

Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh thái của nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley hại lúa và biện pháp phòng chống ở miền Bắc Việt Nam.

Luận án "Nghiên cứu sinh học sinh thái nhện gié hại lúa Steneotarsonemus spinki" có bao nhiêu trang?

Luận án "Nghiên cứu sinh học sinh thái nhện gié hại lúa Steneotarsonemus spinki" có 184 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Nghiên cứu sinh học sinh thái nhện gié hại lúa Steneotarsonemus spinki" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter