Luận án thực hiện pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tại Việt Nam hiện nay

Pháp luật kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam: nghiên cứu chuyên sâu về Luật Cạnh tranh 2018 và vai trò của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia.

Tác giả

Luan An

Số trang

178

Thời gian đọc

27 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt của tác giả

Trích nguyên văn từ luận án

của đề tài Cạnh tranh là quy luật của nền kinh tế thị trường, là động lực cho sự phát triển của nền kinh tế, từ đó là sự phát triển của quốc gia. Tuy nhiên, thay vì cạnh tranh, có những doanh nghiệp chọn con đường bắt tay với đối thủ thiết lập các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh để vừa giảm áp lực cạnh tranh vừa tăng khả năng chi phối thị trường, từ đó thao túng, ép buộc người tiêu dùng và các doanh nghiệp khác nhằm tìm kiếm lợi nhuận tối đa. Những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh này “làm cản trở, làm sai lệch, thậm chí triệt tiêu cạnh tranh tự do trên thị trường, trực tiếp tác động tiêu cực đến quy luật cạnh tranh, gây ảnh hưởng xấu đến hiệu quả của nền kinh tế” [112, tr. Do đó các nhà nước trong nền kinh tế thị trường (KTTT) đều phải chú trọng kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (TTHCCT) để bảo vệ tự do cạnh tranh, thúc đẩy cạnh tranh hiệu quả. Trên bình diện quốc tế, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã phải có những quy định buộc các thành viên của mình đảm bảo cạnh tranh công bằng và ngăn chặn các hành vi hạn chế cạnh tranh (Điều 9 Hiệp định GATS - Phụ lục 1b) nhằm mở cửa thị trường, bảo vệ cạnh tranh và tự do thương mại. Nhà nước có nhiều phương diện, cách thức khác nhau để kiểm soát TTHCCT như: phương diện xã hội, phương diện kinh tế, phương diện pháp lý… trong đó kiểm soát TTHCCT trên phương diện pháp lý, xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT bằng quyền lực

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Pháp luật cạnh tranh: Kiểm soát TTHCCT Việt Nam
Số trang:
178 trang
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Pháp luật cạnh tranh Kiểm soát TTHCCT Việt Nam

Nền kinh tế thị trường vận hành dựa trên quy luật cạnh tranh. Cạnh tranh lành mạnh tạo động lực phát triển kinh tế, nâng cao hiệu quả cho quốc gia. Tuy nhiên, doanh nghiệp đôi khi tìm cách né tránh cạnh tranh. Họ thiết lập thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (TTHCCT) để thao túng thị trường. Những thỏa thuận này triệt tiêu cạnh tranh tự do, gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế. Vì vậy, kiểm soát TTHCCT là nhiệm vụ thiết yếu của mọi nhà nước. Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cũng có quy định về cạnh tranh công bằng. Việt Nam, một nền kinh tế đang chuyển đổi, đối mặt nhiều thách thức. Xây dựng, thực thi pháp luật kiểm soát TTHCCT hiệu quả là yêu cầu cấp thiết. Luật Cạnh tranh Việt Nam đóng vai trò trung tâm trong công cuộc này. Pháp luật cần làm rõ cách xác định, kiểm soát TTHCCT. Mục tiêu là bảo vệ quyền tự do thỏa thuận của doanh nghiệp mà vẫn duy trì cạnh tranh.

1.1. Tầm quan trọng cạnh tranh trong kinh tế thị trường

Cạnh tranh là nguyên lý cốt lõi của kinh tế thị trường. Nó thúc đẩy đổi mới, hiệu quả, tăng trưởng. Doanh nghiệp phải liên tục cải thiện để thu hút người tiêu dùng. Điều này mang lại lợi ích cho toàn xã hội. Khi cạnh tranh bị bóp méo, nền kinh tế đình trệ. Người tiêu dùng chịu thiệt hại do giá cao, chất lượng thấp. Việt Nam đang phát triển, cần môi trường cạnh tranh lành mạnh. Việc bảo vệ cạnh tranh là bảo vệ lợi ích quốc gia. Luật Cạnh tranh Việt Nam định hướng cho môi trường này. Luật Cạnh tranh Việt Nam tạo ra khung pháp lý cho điều này.

1.2. Mục tiêu kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nhằm bảo vệ tự do cạnh tranh. Mục tiêu là đảm bảo thị trường hoạt động hiệu quả. Các hành vi như thông đồng ấn định giá, phân chia thị trường bị ngăn chặn. Điều này ngăn chặn doanh nghiệp lạm dụng quyền lực. Nó bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng, doanh nghiệp khác. Nhà nước sử dụng quyền lực pháp lý để kiểm soát TTHCCT. Điều này đảm bảo tính công bằng, minh bạch trên thị trường. Việc kiểm soát độc quyền cũng là một phần của mục tiêu này. Kiểm soát độc quyền là một công cụ để đạt được mục tiêu này.

1.3. Khó khăn nhận diện điều chỉnh TTHCCT

Nhận diện thỏa thuận hạn chế cạnh tranh phức tạp. Doanh nghiệp thường thiết lập nhiều thỏa thuận kinh doanh. Rất khó phân biệt đâu là thỏa thuận hợp pháp, đâu là TTHCCT. Việc xác định mức độ tác động hạn chế cạnh tranh cũng khó khăn. Các thỏa thuận ngầm, tinh vi khó bị phát hiện. Việt Nam chưa có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Ngay cả quốc gia phát triển cũng gặp thách thức. Cơ quan quản lý cạnh tranh cần công cụ, kinh nghiệm chuyên sâu. Việc thu thập chứng cứ, điều tra đòi hỏi năng lực cao. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia đối mặt với những thách thức này hàng ngày.

II. Thỏa thuận phản cạnh tranh Tác động nguy cơ thị trường

Thỏa thuận phản cạnh tranh là những hành vi doanh nghiệp bắt tay nhau. Mục đích nhằm giảm áp lực cạnh tranh, tăng khả năng chi phối thị trường. Các hành vi này bao gồm thông đồng ấn định giá, phân chia thị trường. Chúng còn có thể là hạn chế sản lượng, tẩy chay nhóm. Những thỏa thuận này làm sai lệch quy luật cung cầu. Chúng gây thiệt hại trực tiếp cho người tiêu dùng. Các doanh nghiệp nhỏ, mới tham gia thị trường cũng bị chèn ép. Nền kinh tế chịu tổn thất do giảm hiệu quả, kém đổi mới. Phát hiện và xử lý các thỏa thuận này là trọng tâm của Luật Cạnh tranh Việt Nam. Việt Nam cần tăng cường năng lực kiểm soát độc quyền. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có trách nhiệm giải quyết vấn đề này.

2.1. Phân loại các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh chính

Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đa dạng về hình thức. Các loại phổ biến bao gồm thông đồng ấn định giá. Đây là việc các đối thủ thống nhất mức giá bán, mua. Phân chia thị trường là một hình thức khác. Doanh nghiệp chia nhau khách hàng, khu vực địa lý hoặc loại hàng hóa. Hạn chế sản lượng là việc thống nhất giảm số lượng sản phẩm. Điều này nhằm đẩy giá lên cao. Tẩy chay nhóm là từ chối giao dịch với một doanh nghiệp cụ thể. Đây là Cartel điển hình gây ảnh hưởng nghiêm trọng. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia cần tập trung vào các loại này. Các hành vi này thuộc phạm vi cạnh tranh không lành mạnh.

2.2. Hậu quả kinh tế xã hội của TTHCCT

Hậu quả của TTHCCT rất nghiêm trọng. Người tiêu dùng phải mua sản phẩm với giá cao hơn. Chất lượng sản phẩm, dịch vụ có thể giảm sút. Các doanh nghiệp khác mất cơ hội cạnh tranh công bằng. Sức sáng tạo, đổi mới trong nền kinh tế bị kìm hãm. Nguồn lực xã hội bị phân bổ không hiệu quả. TTHCCT làm suy yếu lòng tin vào thị trường. Nó tạo ra môi trường kinh doanh không lành mạnh. Thông đồng trong đấu thầu còn gây thất thoát ngân sách lớn. Đây là một loại cạnh tranh không lành mạnh cần loại bỏ. Kiểm soát độc quyền là cần thiết để tránh những hậu quả này.

2.3. Dấu hiệu cartel thông đồng ấn định giá

Cartel là hình thức nghiêm trọng nhất của TTHCCT. Các dấu hiệu thường thấy là giá cả ổn định bất thường. Hoặc có sự thay đổi giá đồng loạt giữa các đối thủ. Thông đồng ấn định giá thường diễn ra bí mật. Doanh nghiệp có thể sử dụng các cuộc họp kín hoặc thỏa thuận ngầm. Họ có thể chia sẻ thông tin nhạy cảm về giá, chi phí. Thị phần của các doanh nghiệp cartel thường ít biến động. Ngay cả khi chi phí đầu vào thay đổi, giá vẫn không đổi. Những dấu hiệu này đòi hỏi cơ quan quản lý phải điều tra kỹ lưỡng. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia cần công cụ phát hiện hiện đại.

III. Luật Cạnh tranh Việt Nam 2004 Thực trạng và thách thức

Luật Cạnh tranh 2004 đánh dấu bước tiến quan trọng. Nó tạo ra khung pháp lý đầu tiên kiểm soát TTHCCT. Sau khi ban hành, nhận thức về cạnh tranh dần được nâng cao. Các nhà nghiên cứu, thực thi pháp luật đã lên tiếng về vi phạm. Cơ quan quản lý cạnh tranh cũng chủ động tuyên truyền. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành còn nhiều hạn chế. Việc áp dụng pháp luật chưa đầy đủ, chưa thông suốt. Chỉ có vài vụ việc TTHCCT được xử lý hoàn tất. Nhiều thỏa thuận ngầm, vi phạm tinh vi vẫn tồn tại. Thông đồng trong đấu thầu là vấn đề nhức nhối nhưng chưa được xử lý. Điều này làm giảm hiệu quả kiểm soát, ngăn ngừa vi phạm. Cần nâng cao năng lực thực thi của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia.

3.1. Kết quả ban đầu thi hành Luật Cạnh tranh

Luật Cạnh tranh 2004 đã có những kết quả tích cực. Xã hội bắt đầu có cái nhìn nghiêm túc về TTHCCT. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh dần được chú ý. Cơ quan quản lý cạnh tranh đã phát hiện một số vụ việc. Họ tích cực tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Điều này giúp nâng cao nhận thức cộng đồng doanh nghiệp. Một số trường hợp có dấu hiệu vi phạm được xác minh. Tuy nhiên, số vụ việc được xử lý thành công còn rất khiêm tốn. Cần nhiều hơn nữa những vụ án điển hình để tạo sức răn đe. Tuy nhiên, cần nhiều nỗ lực hơn để Luật Cạnh tranh Việt Nam phát huy tối đa hiệu quả.

3.2. Hạn chế vướng mắc trong thực thi pháp luật

Thực thi pháp luật về TTHCCT còn nhiều lúng túng. Cơ quan quản lý nhà nước áp dụng pháp luật chưa đồng bộ. Xử lý vi phạm vẫn gặp khó khăn, thiếu kinh nghiệm. Chỉ có hai vụ TTHCCT được xử lý hoàn tất tính đến năm 2018. Mặc dù TTHCCT được nhận định là rất phổ biến. Nhiều vụ việc liên quan đến doanh nghiệp nước ngoài chỉ dừng ở mức cảnh báo. Thông đồng trong đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng. Tuy nhiên, chưa có vụ thông thầu nào được xử lý triệt để. Những hạn chế này làm giảm tính hiệu quả của pháp luật. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia cần cải thiện những điểm này.

3.3. Thỏa thuận ngầm vi phạm tinh vi đang tồn tại

Nhiều doanh nghiệp vẫn thực hiện các "thỏa thuận ngầm". Đây là biểu hiện của việc không nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Thậm chí có trường hợp cố tình vi phạm Luật Cạnh tranh Việt Nam. Các hành vi vi phạm ngày càng tinh vi và phức tạp. Việc phát hiện chúng đòi hỏi kỹ năng điều tra chuyên sâu. Dấu vết của Cartel hay thông đồng ấn định giá khó nắm bắt. Các bên có thể dùng nhiều cách để che giấu thỏa thuận. Điều này đặt ra thách thức lớn cho cơ quan thực thi. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia cần tăng cường nguồn lực, phương pháp điều tra. Cạnh tranh không lành mạnh vẫn là vấn đề.

IV. Kiểm soát độc quyền Cartel Giải pháp cho kinh tế Việt

Kiểm soát độc quyền và chống Cartel là cần thiết cho Việt Nam. Đây là những giải pháp bảo vệ thị trường, thúc đẩy cạnh tranh. Cartel, đặc biệt là thông đồng ấn định giá, gây thiệt hại lớn. Chúng cần được xử lý nghiêm minh theo Luật Cạnh tranh Việt Nam. Việc tăng cường vai trò của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia là trọng tâm. Cơ quan này cần có đủ thẩm quyền, nguồn lực điều tra. Cần có chiến lược chống các hành vi phản cạnh tranh hiệu quả. Điều này bao gồm phát hiện, điều tra, xử phạt. Nâng cao nhận thức pháp luật cho doanh nghiệp cũng quan trọng. Giáo dục pháp luật giúp ngăn ngừa vi phạm từ gốc. Giải quyết vấn đề từ phía cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp là song song.

4.1. Vai trò của cơ quan quản lý cạnh tranh

Cơ quan quản lý cạnh tranh đóng vai trò trung tâm. Cơ quan này có nhiệm vụ phát hiện, điều tra, xử lý vi phạm. Họ cần chủ động theo dõi các dấu hiệu TTHCCT. Việc cảnh báo và tuyên truyền cũng là nhiệm vụ quan trọng. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phải xây dựng đội ngũ chuyên gia. Đội ngũ này cần có kinh nghiệm trong phân tích thị trường. Họ phải có khả năng xử lý các vụ việc phức tạp. Tăng cường hợp tác quốc tế cũng cần thiết. Việc học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển sẽ hữu ích. Kiểm soát độc quyền đòi hỏi vai trò này.

4.2. Chiến lược chống các hành vi phản cạnh tranh

Chiến lược chống TTHCCT phải toàn diện. Nó bao gồm cơ chế pháp lý rõ ràng, dễ áp dụng. Cần có các biện pháp răn đe đủ mạnh. Chính sách miễn trừ hoặc giảm nhẹ hình phạt cho người tố giác (leniency) cần được nghiên cứu. Việc giám sát thị trường cần được tăng cường. Cơ quan quản lý cần phối hợp với các bộ, ngành khác. Đặc biệt là trong các lĩnh vực dễ phát sinh thông đồng đấu thầu. Chiến lược phải tập trung vào các Cartel cốt lõi. Ưu tiên xử lý các trường hợp thông đồng ấn định giá, phân chia thị trường. Luật Cạnh tranh Việt Nam cung cấp nền tảng pháp lý.

4.3. Nâng cao nhận thức pháp luật cho doanh nghiệp

Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa hiểu rõ Luật Cạnh tranh Việt Nam. Một phần do thiếu thông tin, tuyên truyền chưa sâu rộng. Nâng cao nhận thức là giải pháp phòng ngừa hiệu quả. Cần tổ chức nhiều hội thảo, khóa đào tạo pháp luật. Các tài liệu hướng dẫn cần dễ hiểu, thiết thực. Doanh nghiệp cần hiểu rõ ranh giới giữa cạnh tranh lành mạnh và TTHCCT. Việc hiểu biết pháp luật giúp họ tránh vi phạm vô ý. Nó cũng giúp họ chủ động tố giác các hành vi phản cạnh tranh. Điều này tạo ra một môi trường kinh doanh minh bạch hơn. Tránh các thỏa thuận phản cạnh tranh.

V. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia Nâng cao hiệu quả xử lý

Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia là cơ quan chủ chốt. Cơ quan này thực thi Luật Cạnh tranh Việt Nam. Tuy nhiên, hiệu quả xử lý các vụ việc còn hạn chế. Số vụ việc TTHCCT được giải quyết triệt để rất ít. Điều này cho thấy năng lực thực thi cần được cải thiện. Ủy ban cần được trang bị nguồn lực về nhân sự, kỹ thuật. Các chuyên gia cần được đào tạo chuyên sâu về pháp luật cạnh tranh. Quy trình điều tra, xử lý cần được tối ưu hóa. Cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ với các cơ quan khác. Điều này giúp nâng cao tính răn đe của pháp luật. Việc xử lý thành công các vụ việc lớn sẽ tạo tiền lệ tốt. Cần tập trung vào việc ngăn chặn Cartel.

5.1. Thẩm quyền trách nhiệm của cơ quan cạnh tranh

Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có thẩm quyền điều tra. Cơ quan này xử lý các hành vi vi phạm Luật Cạnh tranh. Trách nhiệm bao gồm phát hiện, thu thập chứng cứ. Cơ quan cũng phải xác minh các dấu hiệu TTHCCT. Sau đó, tiến hành điều tra và ra quyết định xử phạt. Ủy ban có vai trò tư vấn, khuyến nghị chính sách. Họ cũng thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Thực hiện các báo cáo thường niên về tình hình cạnh tranh. Tuy nhiên, việc thực thi thẩm quyền còn gặp nhiều vướng mắc. Thực thi hiệu quả thẩm quyền này là chìa khóa để kiểm soát TTHCCT.

5.2. Hạn chế hiện tại trong xử lý vi phạm TTHCCT

Số vụ việc TTHCCT được xử lý còn rất ít. Báo cáo thường niên cho thấy TTHCCT phổ biến. Tuy nhiên, cơ quan chỉ hoàn tất hai vụ việc. Nhiều trường hợp cảnh báo chưa được điều tra sâu. Đặc biệt là các vụ việc liên quan đến doanh nghiệp nước ngoài. Thông đồng trong đấu thầu chưa được xử lý hiệu quả. Điều này cho thấy sự lúng túng trong áp dụng pháp luật. Khả năng thu thập chứng cứ, xác định hành vi còn yếu. Các thỏa thuận ngầm khó bị phát hiện và chứng minh. Hạn chế này làm giảm niềm tin vào hiệu quả pháp luật. Đây là thách thức lớn đối với việc chống lại Cartel.

5.3. Yêu cầu cải thiện năng lực thực thi điều tra

Cần cải thiện năng lực thực thi của Ủy ban. Điều này bao gồm nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ. Cần đào tạo về kỹ năng điều tra, phân tích kinh tế. Trang bị công cụ, phần mềm phân tích dữ liệu hiện đại. Tăng cường hợp tác với các chuyên gia trong nước và quốc tế. Xây dựng quy trình điều tra minh bạch, hiệu quả. Cần có chính sách khuyến khích tố giác vi phạm. Bảo vệ danh tính người tố giác là yếu tố then chốt. Việc này giúp phát hiện các Cartel và thông đồng ấn định giá. Điều này sẽ góp phần vào việc kiểm soát độc quyền tốt hơn.

VI. Ngăn chặn thông đồng ấn định giá phân chia thị trường

Thông đồng ấn định giá và phân chia thị trường là Cartel nghiêm trọng. Chúng gây tổn thất lớn cho nền kinh tế. Luật Cạnh tranh Việt Nam cần tập trung ngăn chặn các hành vi này. Việc phát hiện, xử lý kịp thời là yếu tố then chốt. Thông đồng trong đấu thầu cũng là một hình thức tương tự. Các cơ quan cần tăng cường giám sát thị trường. Cần có các công cụ phân tích dữ liệu để phát hiện dấu hiệu bất thường. Chính sách khoan hồng cho người tố giác (leniency program) có thể hiệu quả. Điều này khuyến khích thành viên Cartel tự nguyện khai báo. Ngăn chặn những hành vi này giúp bảo vệ cạnh tranh công bằng. Nó cũng đảm bảo lợi ích cho người tiêu dùng và doanh nghiệp chân chính.

6.1. Nhận diện các hành vi thông đồng trong đấu thầu

Thông đồng trong đấu thầu là hình thức TTHCCT phổ biến. Các dấu hiệu bao gồm việc chỉ có một nhà thầu nộp hồ sơ. Hoặc các nhà thầu luân phiên trúng thầu. Giá dự thầu có thể cao bất thường, gần bằng giá gói thầu. Các nhà thầu có thể nộp hồ sơ không đầy đủ. Hoặc có mối liên hệ mật thiết giữa các nhà thầu. Cần tăng cường kiểm tra hồ sơ dự thầu. Phân tích dữ liệu lịch sử đấu thầu để phát hiện mẫu. Cơ quan quản lý cạnh tranh cần phối hợp với cơ quan thanh tra. Điều này giúp ngăn chặn thiệt hại cho ngân sách nhà nước. Đây là một dạng cạnh tranh không lành mạnh cần xử lý.

6.2. Kiểm soát phân chia thị trường hạn chế sản lượng

Phân chia thị trường là việc doanh nghiệp thỏa thuận. Họ phân chia khách hàng, khu vực địa lý hoặc loại sản phẩm. Hạn chế sản lượng là việc thống nhất giảm sản xuất. Cả hai hành vi này đều làm giảm cạnh tranh, tăng giá. Cần giám sát thị trường để phát hiện các dấu hiệu. Chẳng hạn như việc một doanh nghiệp chỉ hoạt động ở một khu vực. Hoặc không có sự chồng lấn khách hàng giữa các đối thủ. Dữ liệu về sản lượng, giá cả cần được phân tích kỹ. Luật Cạnh tranh Việt Nam nghiêm cấm các hành vi này. Việc kiểm soát độc quyền phải bao gồm các hoạt động này.

6.3. Tăng cường chống tẩy chay nhóm cạnh tranh không lành mạnh

Tẩy chay nhóm là hành vi từ chối giao dịch. Một nhóm doanh nghiệp thống nhất tẩy chay đối thủ. Điều này nhằm loại bỏ đối thủ khỏi thị trường. Đây là một dạng cạnh tranh không lành mạnh nghiêm trọng. Cần có cơ chế tiếp nhận, xử lý khiếu nại nhanh chóng. Pháp luật cần quy định rõ ràng về các hành vi bị cấm. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền để doanh nghiệp hiểu rõ. Việc này giúp bảo vệ các doanh nghiệp nhỏ. Nó cũng duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh trên thị trường. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có vai trò then chốt trong việc này.

Mục lục chi tiết luận án

MỞ ĐẦU
1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.1. Các công trình nghiên cứu trong nước
1.1.1.1. Nghiên cứu về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
2. CHƯƠNG 2: [Tiêu đề chương 2 - Không có trong văn bản]
3. CHƯƠNG 3: [Tiêu đề chương 3 - Không có trong văn bản]
4. CHƯƠNG 4: [Tiêu đề chương 4 - Không có trong văn bản]
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án thực hiện pháp luật về kiểm soát thoả thuận hạn chế cạnh tranh ở việt nam hiện nay

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (178 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CT&BVNTD : Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng EU : European Union (Liên minh châu Âu) KTTT : Kinh tế thị trường TTHCCT : Thoả thuận hạn chế cạnh tranh XHCN : Xã hội chủ nghĩa DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ Trang Bảng 3. Số vụ việc hạn chế cạnh tranh đã điều tra, xử lý đến hết năm 2018 98 Bảng 3. Nguồn nhân lực Cục Quản lý cạnh tranh giai đoạn 2005 - 2015 110 Biểu đồ 3. Tỷ lệ doanh nghiệp "hiểu" về Luật Cạnh tranh 87 Biểu đồ 3.

Số vụ việc hạn chế cạnh tranh điều tra tiền tố tụng giai đoạn 2006 – 2016 96 Biểu đồ 3. Các vụ việc hạn chế cạnh tranh điều tra tiền tố tụng giai đoạn 2011-2016 97 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cạnh tranh là quy luật của nền kinh tế thị trường, là động lực cho sự phát triển của nền kinh tế, từ đó là sự phát triển của quốc gia. Tuy nhiên, thay vì cạnh tranh, có những doanh nghiệp chọn con đường bắt tay với đối thủ thiết lập các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh để vừa giảm áp lực cạnh tranh vừa tăng khả năng chi phối thị trường, từ đó thao túng, ép buộc người tiêu dùng và các doanh nghiệp khác nhằm tìm kiếm lợi nhuận tối đa.

Những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh này “làm cản trở, làm sai lệch, thậm chí triệt tiêu cạnh tranh tự do trên thị trường, trực tiếp tác động tiêu cực đến quy luật cạnh tranh, gây ảnh hưởng xấu đến hiệu quả của nền kinh tế” [112, tr. Do đó các nhà nước trong nền kinh tế thị trường (KTTT) đều phải chú trọng kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (TTHCCT) để bảo vệ tự do cạnh tranh, thúc đẩy cạnh tranh hiệu quả. Trên bình diện quốc tế, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã phải có những quy định buộc các thành viên của mình đảm bảo cạnh tranh công bằng và ngăn chặn các hành vi hạn chế cạnh tranh (Điều 9 Hiệp định GATS - Phụ lục 1b) nhằm mở cửa thị trường, bảo vệ cạnh tranh và tự do thương mại. Nhà nước có nhiều phương diện, cách thức khác nhau để kiểm soát TTHCCT như: phương diện xã hội, phương diện kinh tế, phương diện pháp lý… trong đó kiểm soát TTHCCT trên phương diện pháp lý, xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT bằng quyền lực và sức mạnh đặc biệt của nhà nước đã tỏ ra có hiệu quả.

Tuy nhiên thực tế cho thấy rằng doanh nghiệp luôn thiết lập rất nhiều thỏa thuận trong hoạt động kinh doanh, và trong vô số các thỏa thuận đó, làm thế nào để xác định đâu là TTHCCT, xác định mức độ tác động hạn chế cạnh tranh của thỏa thuận, cách thức kiểm soát phù hợp để vẫn bảo đảm quyền tự do thỏa thuận của doanh nghiệp mà vẫn bảo vệ quy luật cạnh tranh… không phải là điều đơn giản, ngay cả đối với các quốc gia đã phát triển nền KTTT và tích lũy nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực thực hiện pháp luật chống độc quyền. Vì thế kiểm soát TTHCCT như thế nào là thách thức trong quá trình xây dựng và triển khai thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT, đặc biệt ở các quốc gia có nền kinh tế đang chuyển đổi và chưa hề có kinh nghiệm trong vấn đề này như Việt Nam. Do đó, nghiên cứu thấu đáo những vấn đề lý luận làm cơ sở 2 cho việc xây dựng và triển khai thực hiện pháp luật nhằm kiểm soát TTHCCT một cách hữu hiệu là vấn đề cấp thiết ở Việt Nam hiện nay. Sau khi Luật Cạnh tranh 2004 được ban hành và có hiệu lực, thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT ở Việt Nam đã bước đầu có kết quả khả quan.

Nhìn chung, trong xã hội bắt đầu có một cách nhìn nghiêm túc và khoa học hơn và đã có những động thái thực hiện pháp luật kiểm soát TTHCCT một cách chủ động, tích cực, các nhà nghiên cứu, nhà thực thi pháp luật đã lên tiếng về những trường hợp có dấu hiệu TTHCCT và cơ quan có thẩm quyền đã vào cuộc xác minh dấu hiệu vi phạm pháp luật, cơ quan quản lý cạnh tranh cũng đã chủ động phát hiện những vụ việc có dấu hiệu vi phạm và tích cực tuyên truyền, phổ biến pháp luật kiểm soát TTHCCT. Tuy có những điểm sáng như trên, thực tiễn thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT vẫn có rất nhiều vấn đề cần phải quan tâm. Về phía cơ quan quản lý nhà nước, việc áp dụng pháp luật về kiểm soát TTHCCT chưa đầy đủ, chưa thông suốt, xử lý vi phạm pháp luật còn nhiều lúng túng. Cho tới hiện nay cơ quan quản lý cạnh tranh chỉ mới xử lý hoàn tất hai vụ việc TTHCCT vi phạm pháp luật, mặc dù trong báo cáo thường niên cơ quan này luôn nhận định TTHCCT hiện đang rất phổ biến tại Việt Nam.

Cơ quan quản lý cạnh tranh cũng cảnh báo nhiều về những trường hợp doanh nghiệp nước ngoài TTHCCT thao túng thị trường Việt Nam tuy nhiên cũng mới chỉ dừng ở mức độ cảnh báo. Thông đồng trong đấu thầu là một loại TTHCCT rất phổ biến và gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nhưng cơ quan quản lý cạnh tranh chưa xử lý được một vụ thông thầu nào. Những hạn chế trong thực hiện pháp luật đó làm giảm hiệu quả kiểm soát và ngăn ngừa vi phạm pháp luật. Về phía cộng đồng doanh nghiệp, bên cạnh các doanh nghiệp nghiêm túc thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT, vẫn đang tồn tại rất nhiều "thỏa thuận ngầm" của các doanh nghiệp [17] là biểu hiện của việc thực hiện pháp luật không nghiêm chỉnh, thậm chí cố tình vi phạm pháp luật.

Nhiều hành vi vi phạm pháp luật về kiểm soát TTHCCT ngày càng tinh vi và phức tạp xuất phát từ hoạt động của hiệp hội ngành nghề, từ sự thao túng của doanh nghiệp nước ngoài, các hành vi TTHCCT diễn ra ở nhiều ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. đã và đang xâm hại nghiêm trọng tới lợi ích của người tiêu dùng, của các doanh nghiệp khác, gây thiệt hại cho nền 3 kinh tế và ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh doanh của Việt Nam. Để xử lý những tiêu cực trên cần có nhiều biện pháp đồng bộ, trong đó đảm bảo thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT đóng vai trò quan trọng. Xây dựng và phát triển nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương "tôn trọng và vận dụng đầy đủ, đúng đắn các quy luật và cơ chế vận hành của KTTT" [28, tr.52] và "các chủ thể tham gia thị trường đều được coi trọng, cùng phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và văn minh" [28, tr.

Để thực hiện chủ trương của Đảng về vận dụng đầy đủ và đúng đắn quy luật cạnh tranh, để bảo vệ cạnh tranh bình đẳng và bảo vệ các chủ thể tham gia thị trường, cần nghiên cứu làm rõ luận cứ khoa học của thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT, đánh giá những kết quả đạt được và những vấn đề hạn chế, bất cập, nguyên nhân của thành công và hạn chế của việc thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT ở Việt Nam thời gian qua, từ đó xác định các quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT trong thời gian tới. Từ lý luận và thực tiễn có thể thấy nghiên cứu về thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT ở Việt Nam là một yêu cầu bức thiết trong giai đoạn hiện nay. Do đó nghiên cứu sinh lựa chọn vấn đề: "Thực hiện pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay" để nghiên cứu ở cấp độ luận án tiến sĩ. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.

Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, phân tích, đánh giá thực trạng, luận án có mục đích nghiên cứu là xác định các nguyên nhân của các ưu và nhược điểm, rút ra các bài học kinh nghiệm, từ đó đề xuất quan điểm và giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT ở Việt Nam hiện nay nhằm bảo vệ cạnh tranh, bảo vệ môi trường kinh doanh, bảo vệ quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh, thông qua đó góp phần xây dựng nền KTTT định hướng XHCN và thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận án có những nhiệm vụ sau đây: 4 Thứ nhất, xây dựng khái niệm thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT; làm rõ nội dung, hình thức, chủ thể, vai trò và các điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT; nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế để tìm ra những giá trị cần học tập về thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT. Thứ hai, phân tích những ưu điểm, hạn chế của pháp luật về kiểm soát TTHCCT hiện nay; phân tích những kết quả đã đạt được, những hạn chế, bất cập trong thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT ở Việt Nam, đồng thời chỉ rõ nguyên nhân của những hạn chế và bất cập đó, rút ra các bài học kinh nghiệm. Thứ ba, luận chứng cơ sở khoa học để đề xuất các quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT ở Việt Nam hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT ở Việt Nam dưới góc độ của chuyên ngành Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật. Phạm vi nghiên cứu - Về mặt thời gian: Đề tài nghiên cứu thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT từ khi Luật Cạnh tranh 2004 có hiệu lực thi hành là ngày 01/7/2005 đến nay. - Về mặt không gian: Đề tài nghiên cứu thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT ở Việt Nam.

Trong quá trình nghiên cứu có tìm hiểu kinh nghiệm thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT của EU và Hoa Kỳ nhưng với mục đích rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam chứ không nhằm mục đích so sánh các hệ thống pháp luật. - Về mặt nội dung: Do Luật Cạnh tranh 2004 chỉ điều chỉnh các TTHCCT theo chiều ngang nên đề tài cũng chỉ nghiên cứu về thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT với các TTHCCT theo chiều ngang, không nghiên cứu về các TTHCCT theo chiều dọc. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Pháp luật kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/luat-hoc/luat-kinh-te/luan-an-thuc-hien-phap-luat-ve-kiem-soat-thoa-thuan-han-che-canh-tranh-o-viet

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Pháp luật kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam" nghiên cứu về vấn đề gì?

Pháp luật kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam: nghiên cứu chuyên sâu về Luật Cạnh tranh 2018 và vai trò của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia.

Luận án "Pháp luật kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam" có bao nhiêu trang?

Luận án "Pháp luật kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam" có 178 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Pháp luật kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter