Đặc điểm lâm học rừng tràm Melaleuca cajuputi ở Đồng bằng sông Cửu Long

Nghiên cứu luận án tiến sĩ phân tích đặc điểm lâm học rừng tràm Melaleuca cajuputi powell trồng tại vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Chuyên ngành

Kỹ thuật lâm sinh

Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp

Năm xuất bản

Số trang

239

Thời gian đọc

36 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt nội dung

I.Nghiên cứu đặc điểm lâm học rừng tràm Melaleuca cajuputi ĐBSCL

Rừng tràm (Melaleuca cajuputi Powell) là thành phần thiết yếu của hệ sinh thái đất ngập nước Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Các nghiên cứu về rừng tràm đã có nhiều, nhưng một số đặc điểm lâm học vẫn cần được làm rõ. Cụ thể, việc phân chia cấp đất cho rừng tràm cajuputi còn thiếu. Các đặc trưng phân bố số cây theo đường kính (N-D) và số cây theo chiều cao (N-H) của quần xã rừng tràm ở các cấp tuổi và cấp đất khác nhau cũng chưa được định lượng đầy đủ. Quá trình sinh trưởng, năng suất và sinh khối của cây cá thể cùng quần thụ tràm trên các cấp đất khác nhau cần được khảo sát sâu hơn. Sự phân hóa và tỉa thưa tự nhiên của quần thụ tràm trên từng cấp đất cũng là một khoảng trống. Nghiên cứu này cung cấp thông tin khoa học quan trọng, góp phần vào hiểu biết và quản lý rừng tràm bền vững.

1.1. Tổng quan vấn đề và các khoảng trống nghiên cứu

Rừng tràm Melaleuca cajuputi có giá trị sinh thái và kinh tế cao tại ĐBSCL. Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhưng còn hạn chế. Các vấn đề cốt lõi như phân loại cấp đất cho rừng tràm chưa được tiêu chuẩn hóa. Đặc điểm cấu trúc như phân bố N-D, N-H theo cấp tuổi và cấp đất chưa rõ ràng. Quá trình sinh trưởng, năng suất, và sinh khối trên từng loại đất cũng là những khía cạnh cần đào sâu. Sự phân hóa và tỉa thưa tự nhiên trong rừng tràm cũng ít được nghiên cứu. Luận án này giải quyết những khoảng trống đó, tạo cơ sở cho quản lý rừng tràm hiệu quả.

1.2. Mục tiêu chính của nghiên cứu đặc điểm lâm học

Nghiên cứu này có mục tiêu làm rõ các đặc điểm lâm học của rừng tràm trồng tại ĐBSCL. Các mục tiêu cụ thể bao gồm: phân chia cấp đất cho rừng tràm cajuputi, xác định đặc điểm chung của rừng. Nghiên cứu cũng tập trung vào cấu trúc lâm phần rừng tràm, quá trình sinh trưởng và năng suất. Bên cạnh đó, luận án phân tích đặc điểm sinh khối rừng tràm và sự phân hóa, tỉa thưa tự nhiên. Kết quả cung cấp cơ sở dữ liệu và khuyến nghị khoa học cho việc quản lý, quy hoạch và khai thác rừng tràm Melaleuca cajuputi.

II.Phương pháp phân chia cấp đất rừng tràm và tiềm năng sinh thái

Việc phân chia cấp đất là một bước quan trọng trong đánh giá và quy hoạch rừng tràm. Nghiên cứu này đã phát triển phương pháp phân chia cấp đất cho rừng tràm (Melaleuca cajuputi Powell) trồng tại ĐBSCL. Phương pháp này dựa trên quá trình sinh trưởng chiều cao của những cây trội nhất. Điều này phản ánh tiềm năng sinh thái của địa điểm. Kết quả phân chia cấp đất giúp tối ưu hóa việc quản lý rừng tràm bền vững. Nó cũng hỗ trợ việc lựa chọn loài và kỹ thuật lâm sinh phù hợp cho từng khu vực cụ thể, nâng cao năng suất rừng tràm.

2.1. Tiêu chí và quy trình xác định cấp đất rừng tràm

Cấp đất rừng tràm được xác định dựa trên quá trình sinh trưởng chiều cao của 100 cây mẫu có chiều cao lớn nhất. Các cây này được chọn lọc từ quần thụ tràm cajuputi có độ tuổi từ 6 đến 12 năm. Tuổi cơ sở dùng để phân chia cấp đất được chọn là 10 năm. Đây là giai đoạn sinh trưởng ổn định của rừng tràm. Tiêu chí này đảm bảo sự chính xác trong việc đánh giá tiềm năng sản xuất của đất rừng. Nó tạo nền tảng vững chắc cho công tác quy hoạch lâm nghiệp.

2.2. Kết quả phân chia cấp đất và khoảng cách chiều cao

Kết quả nghiên cứu cho thấy rừng tràm cajuputi ở ĐBSCL có thể được phân chia thành ba cấp đất rõ ràng. Tại tuổi cơ sở 10 năm, khoảng cách chiều cao giữa hai cấp đất kế cận là 2,0m. Điều này phản ánh sự khác biệt về chất lượng đất và khả năng hỗ trợ sinh trưởng của cây. Phân chia cấp đất giúp nhận diện các khu vực có năng suất khác nhau. Từ đó, các biện pháp quản lý rừng tràm có thể được điều chỉnh phù hợp. Dữ liệu này đóng góp vào hiểu biết về đặc điểm sinh thái rừng tràm và hỗ trợ quản lý hiệu quả.

III.Cấu trúc lâm phần rừng tràm Mật độ phân bố và tái sinh

Cấu trúc lâm phần rừng tràm cung cấp thông tin quan trọng về mật độ, sự phân bố cây theo đường kính và chiều cao. Nghiên cứu đã đánh giá hiện trạng và biến động của các đặc trưng này trên ba cấp đất khác nhau. Các chỉ số về tỷ lệ sống sót và tốc độ suy giảm mật độ phản ánh quá trình cạnh tranh tự nhiên trong quần xã rừng tràm. Hiểu biết về cấu trúc giúp dự đoán sự phát triển của rừng. Nó cũng định hướng các biện pháp tỉa thưa chủ động, thúc đẩy tái sinh rừng tràm và duy trì mật độ tối ưu.

3.1. Tỷ lệ sống sót và biến động mật độ rừng tràm

So với mật độ trồng ban đầu (20.000 cây/ha), tỷ lệ cây sống sót giảm dần theo tuổi. Tại tuổi 2, tỷ lệ sống sót trung bình là 88,6%. Con số này giảm xuống 67,8% ở tuổi 4, 64,1% ở tuổi 6, 58,0% ở tuổi 8, và 48,8% ở tuổi 10. Mật độ rừng tràm cho thấy sự ổn định giữa ba cấp đất. Tuy nhiên, tốc độ suy giảm mật độ sau mỗi tuổi có sự khác biệt. Trên cấp đất I, tốc độ này là 6,32%. Cấp đất II là 6,34%, và cấp đất III là 6,73%. Điều này chỉ ra cường độ cạnh tranh khác nhau tùy theo cấp đất và ảnh hưởng đến quần xã rừng tràm.

3.2. Đặc điểm phân bố N D và N H của quần xã rừng tràm

Phân bố N-D (số cây theo đường kính) của rừng tràm ở tuổi 6 và 9 đều có dạng một đỉnh, lệch trái (Skewness > 0). Ở tuổi 6, đỉnh phân bố tù (Kurtosis < 0), trong khi ở tuổi 9, đỉnh phân bố nhọn (Kurtosis > 0). Đối với phân bố N-H (số cây theo chiều cao), rừng tràm cajuputi cũng có dạng một đỉnh. Phân bố N-H lệch trái ở tuổi 6 và lệch phải ở tuổi 9. Những đặc điểm này mô tả cấu trúc lâm phần rừng tràm. Chúng cung cấp cơ sở để đánh giá sức khỏe và sự phát triển của quần thể, hỗ trợ các quyết định về quản lý và tỉa thưa.

IV.Đánh giá sinh trưởng rừng tràm năng suất và sinh khối tại ĐBSCL

Sinh trưởng, năng suất và sinh khối là các chỉ số cơ bản để đánh giá hiệu quả sản xuất của rừng tràm. Nghiên cứu này đã khảo sát chi tiết các đặc điểm này trên các cấp đất khác nhau tại ĐBSCL. Sự khác biệt trong sinh trưởng giữa các cấp đất cung cấp thông tin quý giá về tiềm năng sản xuất gỗ và các sản phẩm lâm nghiệp khác. Việc xây dựng mô hình dự đoán sinh khối rừng tràm cũng giúp ước tính lượng vật chất hữu cơ mà hệ sinh thái này tạo ra. Những hiểu biết này cực kỳ quan trọng cho việc lập kế hoạch khai thác và bảo tồn rừng tràm bền vững.

4.1. Phân tích quá trình sinh trưởng chiều cao theo cấp đất

Quá trình sinh trưởng chiều cao của rừng tràm được phân tích dựa trên dữ liệu của 100 cây mẫu có chiều cao lớn nhất. Các cây này thuộc các quần thụ tràm từ 6 đến 12 tuổi. Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ rệt về tốc độ và tiềm năng sinh trưởng chiều cao giữa ba cấp đất. Cấp đất I thường thể hiện sinh trưởng chiều cao tốt nhất, tiếp theo là cấp đất II và III. Việc hiểu rõ sự khác biệt này giúp tối ưu hóa việc chọn loài và kỹ thuật trồng cho từng cấp đất. Điều này cải thiện đáng kể năng suất rừng tràm.

4.2. Khảo sát năng suất và đặc điểm sinh khối rừng tràm

Nghiên cứu cũng tập trung vào quá trình sinh trưởng tổng thể, năng suất và đặc điểm sinh khối rừng tràm. Các chỉ số này được đánh giá cho cả cây cá thể và quần thụ tràm trên các cấp đất khác nhau. Việc xác định sinh khối rừng tràm là cần thiết để ước tính trữ lượng carbon. Điều này quan trọng trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Mặc dù chi tiết mô hình dự đoán sinh khối bị lược bớt trong tóm tắt, nghiên cứu này đã xây dựng được chúng. Các kết quả góp phần vào việc quản lý rừng tràm bền vững và nâng cao giá trị kinh tế, sinh thái của rừng.

V.Quản lý rừng tràm bền vững Thủy văn đa dạng sinh học ĐBSCL

Quản lý rừng tràm bền vững ở ĐBSCL đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về các đặc điểm lâm học. Nghiên cứu này đã phân tích quá trình phân hóa và tỉa thưa tự nhiên, cung cấp cơ sở cho các biện pháp lâm sinh. Các phát hiện giúp tối ưu hóa cấu trúc rừng, duy trì đa dạng sinh học và đảm bảo chức năng sinh thái. Việc áp dụng các kết quả vào thực tiễn sẽ góp phần bảo vệ hệ sinh thái đất ngập nước, duy trì chế độ thủy văn rừng tràm ổn định và phát triển nguồn tài nguyên Melaleuca cajuputi lâu dài, bền vững.

5.1. Phân hóa và tỉa thưa tự nhiên trong quần thụ tràm

Nghiên cứu đã khảo sát quá trình phân hóa và tỉa thưa tự nhiên của quần thụ tràm cajuputi. Quá trình này diễn ra trên các cấp đất khác nhau. Phân hóa là sự hình thành các cấp cây có kích thước khác nhau trong quần thụ. Tỉa thưa tự nhiên là hiện tượng cây chết do cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng và không gian. Hiểu rõ cơ chế này giúp định hướng các biện pháp tỉa thưa nhân tạo. Việc này nhằm tối ưu hóa sinh trưởng của cây còn lại và duy trì cấu trúc lâm phần rừng tràm khỏe mạnh.

5.2. Khuyến nghị cho quản lý rừng tràm bền vững ở ĐBSCL

Kết quả nghiên cứu cung cấp nền tảng khoa học vững chắc cho việc xây dựng chiến lược quản lý rừng tràm bền vững tại ĐBSCL. Phân chia cấp đất chính xác hỗ trợ quy hoạch sử dụng đất hiệu quả. Hiểu biết về cấu trúc, sinh trưởng và năng suất giúp tối ưu hóa sản lượng gỗ. Nghiên cứu cũng hữu ích cho việc thiết lập chế độ thủy văn rừng tràm phù hợp. Nó góp phần bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước và đa dạng sinh học. Các khuyến nghị này nhằm duy trì và phát triển nguồn tài nguyên rừng tràm Melaleuca cajuputi lâu dài, đảm bảo lợi ích kinh tế và môi trường.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tiến sĩ nông nghiệp nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của rừng tràm melaleuca cajuputi powell trồng ở đồng bằng sông cửu long

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (239 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH PHẠM XUÂN QUÝ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC CỦA RỪNG TRÀM (Melaleuca cajuputi Powell) TRỒNG Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG Chuyên ngành: Kỹ thuật lâm sinh Mã số: 62. 01 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH, 2011 1 Công trình được hoàn thành tại: TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.

HỒ CHÍ MINH Người hướng dẫn: PGS. Nguyễn Văn Thêm TS. Phạm Thế Dũng Phản biện 1: GS. Nguyễn Xuân Quát ………………………….

Phản biện 2: PGS. Phản biện 3: PGS. Phạm Xuân Hoàn …………………………. Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà Nước Tại Trường Đại Học Nông Lâm Tp.

Hồ Chí Minh Vào hồi…giờ…ngày…tháng…năm 2011 Có thể tìm hiểu luận án tại: - Thư Viện Quốc Gia - Thư viện Trường Đại Học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh 2 NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ VỀ LUẬN ÁN 1. Phạm Xuân Quý, 2010. Xây dựng biểu cấp đất rừng tràm (Melaleuca cajuputi Powell) ở khu vực Tây Nam Bộ.

Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Số 4/2010. Phạm Xuân Quý, 2010. Xây dựng mô hình dự đoán sinh khối rừng tràm (Melaleuca cajuputi Powell) ở khu vực Tây Nam Bộ. Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Số 5/2010.

Phạm Xuân Quý, 2010. Sinh trưởng của rừng tràm (Melaleuca cajuputi Powell) ở đồng bằng sống Cửu Long. Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Số 7 /2010. 3 LỜI CẢM TẠ Đề tài luận án này được hoàn thành theo chương trình đào tạo Tiến sĩ, hệ chính quy, khóa 2006-2010 của Trường Đại học nông lâm Tp.

Hồ Chí Minh. Trong quá trình học tập và thực hiện luận án, tác giả đã nhận được sự quan tâm và giúp đỡ nhiệt tình của Ban giám hiệu và Phòng sau đại học - Trường Đại học Nông lâm Tp. Hồ Chí Minh; Ban giám hiệu Trường Cán bộ Quản lý Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn II. Nhân dịp này tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc trước sự quan tâm và giúp đỡ qúy báu đó.

Kết quả của luận án này không thể tách rời sự chỉ dẫn nhiệt tình của những hướng dẫn khoa học: PGS. Nguyễn Văn Thêm – Trưởng Bộ môn Lâm sinh – Khoa lâm nghiệp - Đại học nông lâm Tp. Hồ Chí Minh, và TS. Phạm Thế Dũng – Phân viện trưởng Phân viện khoa học lâm nghiệp Nam Bộ.

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự chỉ dẫn chân tình của hai thầy hướng dẫn. Tác giả cũng xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới sự giúp đỡ, góp ý kiến để hoàn thành bản luận án này của các quý thầy, cô trong khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông lâm Tp. Hồ Chí Minh. Trong quá trình làm luận án, tác giả còn nhận được sự giúp đỡ và cổ vũ chân tình của bố mẹ, vợ và các con, các anh chị em trong gia đình, cán bộ và giáo viên Khoa Khuyến nông và Phát triển Nông thôn và nhiều bạn bè đồng nghiệp.

Nhân dịp này tác giả xin chân thành cảm ơn và ghi nhớ sự giúp đỡ và cổ vũ vô tư đó. Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 04 năm 2011 Phạm Xuân Quý 4 LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Tất cả những số liệu và kết quả trình bày trong luận án này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 04 năm 2011 Người viết cam đoan Phạm Xuân Quý 5 TÓM TẮT LUẬN ÁN Luận án này trình bày những kết quả nghiên cứu về phân chia cấp đất cho rừng tràm (M.

cajuputi Powell) (sau đây gọi tắt là cajuputi); đặc điểm chung của rừng tràm cajuputi; cấu trúc của rừng tràm cajuputi; sinh trưởng và năng suất của rừng tràm cajuputi; đặc điểm sinh khối rừng tràm cajuputi; phân hoá và tỉa thưa tự nhiên của rừng tràm cajuputi. Sau khi tổng quan những công trình nghiên cứu về rừng tràm cajuputi, tác giả của luận án này đã nhấn mạnh những vấn đề sau đây vẫn chưa được làm rõ: phân chia cấp đất cho rừng tràm cajuputi; những đặc trưng phân bố N-D và phân bố N-H của quần thụ tràm cajuputi ở những cấp tuổi và cấp đất khác nhau; quá trình sinh trưởng, năng suất và sinh khối của cây cá thể và quần thụ tràm cajuputi trên những cấp đất khác nhau; sự phân hóa và tỉa thưa tự nhiên của những quần thụ tràm cajuputi trên những cấp đất khác nhau. Kết quả nghiên cứu quá trình sinh trưởng chiều cao của 100 cây mẫu có chiều cao lớn nhất trong những quần thụ tràm cajuputi từ 6-12 tuổi cho thấy, rừng tràm cajuputi ở đồng bằng sông Cửu Long có thể được phân chia thành ba cấp đất; trong đó tuổi cơ sở để phân chia cấp đất là 10 năm và khoảng cách chiều cao giữa hai cấp đất kế cận tại tuổi cơ sở là 2,0m. Kết quả nghiên cứu hiện trạng rừng tràm cajuputi trên ba cấp đất cho thấy, so với mật độ trồng rừng ban đầu (20.000 cây/ha hay 100%), tỷ lệ số cây trung bình còn sống đến tuổi 2, 4, 6, 8 và 10 trên ba cấp đất là 88,6%; 67,8%; 64,1%; 58,0% và 48,8%.

Kết quả nghiên cứu cấu trúc rừng tràm cajuputi trên ba cấp đất đã chỉ ra rằng, mật độ rừng tràm cajuputi ổn định giữa ba cấp đất; tốc độ suy giảm mật độ sau mỗi tuổi trên cấp đất I, II và III tương ứng là 6,32%, 6,34% và 6,73%. Phân bố N-D ở tuổi 6 và 9 đều có dạng một đỉnh lệch trái (Sk > 0), đỉnh tù (Ku < 0) ở tuổi 6 và nhọn (Ku > 0) ở tuổi 9. Phân bố N-H của rừng tràm cajuputi đều có dạng một đỉnh lệch trái ở tuổi 6 và lệch phải ở tuổi 9. Kết quả nghiên cứu quá trình sinh trưởng của 100 cây mẫu bình quân từ tuổi 6-12 đã chứng tỏ rằng, đường kính, chiều cao và thể tích thân cây tràm cajuputi thay đổi tùy theo tuổi và cấp đất.

Đại lượng ZDmax và ΔDmax trên cả ba cấp đất I, II và III đều xuất hiện tương ứng ở tuổi 2 và 3. Tuổi 2 là thời kỳ đường kính thân cây tràm cajuputi chuyển từ tốc độ sinh trưởng nhanh sang tốc độ sinh trưởng 6 chậm. Đại lượng ZHmax trên cả ba cấp đất I, II và III đều xuất hiện ở cấp tuổi 2. Đại lượng ΔHmax trên cấp đất I, II và III xảy ra tương ứng ở tuổi 4, 4 và 3.

Tuổi 2 là thời kỳ chiều cao thân cây tràm cajuputi chuyển từ tốc độ sinh trưởng nhanh sang tốc độ sinh trưởng chậm. Đại lượng ZVmax và ΔVmax trên cấp đất I, II và III xuất hiện tương ứng ở tuổi 7, 7 và 13. Tuổi 7 là thời kỳ chiều cao thân cây tràm cajuputi trên cấp đất I và II chuyển từ tốc độ sinh trưởng nhanh sang tốc độ sinh trưởng chậm, còn cấp đất III là tuổi 13. Tuổi thành thục số lượng của cây tràm cajuputi trên cấp đất I, II và III đều xuất hiện sau tuổi 12.

Kết quả khảo sát trữ lượng gỗ của rừng tràm cajuputi từ 2-10 tuổi thuộc ba cấp đất khác nhau đã chứng tỏ rằng, đại lượng ZMmax trên cấp đất I, II và III rơi vào lần lượt ở tuổi 5, 5, 6. Tương tự, đại lượng ΔMmax xuất hiện lần lượt ở tuổi 8, 8 và 10. Tuổi 5, 5 và 6 là những thời điểm trữ lượng rừng tràm cajuputi tương ứng trên cấp đất I, II và III chuyển từ giai đoạn sinh trưởng nhanh sang giai đoạn sinh trưởng chậm. Tuổi thành thục số lượng của rừng tràm cajuputi trên cấp đất I, II và III xuất hiện tương ứng ở tuổi 8, 8 và 10.

Kết quả nghiên cứu sinh khối trên mặt đất của rừng tràm cajuputi ở những cấp tuổi và cấp đất khác nhau cho thấy, lượng tăng trưởng thường xuyên định kỳ hàng năm lớn nhất về tổng sinh khối tươi và tổng sinh khối khô trên ba cấp đất I, II và III đều rơi vào cấp tuổi 4. Tuổi 4 là thời điểm sinh khối rừng tràm cajuputi trên cấp đất I, II và III chuyển từ giai đoạn sinh trưởng nhanh sang giai đoạn sinh trưởng chậm. Lượng tăng trưởng trung bình năm lớn nhất về tổng sinh khối tươi và tổng sinh khối khô của rừng tràm cajuputi trên cấp đất I, II và III xuất hiện tương ứng ở cấp tuổi 6, 7 và 8. Tuổi thành thục số lượng đối với tổng sinh khối tươi và tổng sinh khối khô của rừng tràm cajuputi trên cấp đất I, II và III đều xuất hiện tương ứng ở cấp tuổi 6 và 8.

Nghiên cứu sự phân hóa và tỉa thưa tự nhiên của rừng tràm cajuputi đã chỉ ra rằng, trong những quần thụ tràm cajuputi 6 tuổi tỷ lệ những cây thuộc cấp sinh trưởng tốt đến trung bình trên cấp đất I (84,6%) lớn hơn so với cấp đất II (77,8%) và cấp đất III (75%). Ngược lại, khi lâm phần đạt đến tuổi 9, thì tỷ lệ những cây thuộc các cấp sinh trưởng thay đổi không lớn giữa ba cấp đất. Từ kết quả nghiên cứu, đề tài đã đề xuất, nếu mục tiêu kinh doanh là sản xuất gỗ nhỏ, thì chu kỳ kinh doanh rừng tràm cajuputi trên cấp đất I, II và III là 8, 8 và 10 năm; trong đó chỉ chặt nuôi dưỡng một lần ở tuổi 6 theo phương pháp chặt tầng thấp. 7 SUMMARY This thesis introduces findings on site class, feature, structure, increment and productivity, biomass, division and thinning of M.

cajuputi Powell forest. After carrying an overall study on M. cajuputi Powell forest, writer finds out following matters that haven’t been clear that are: M. cajuputi Powell forest site class; N-D and N-H distribution features of M.

cajuputi Powell stand at different ages and on different site classes; increment process, productivity and biomass of M. cajuputi Powell in particular on different site classes; division and thinning of M. cajuputi Powell stand on different site classes. Height research on 100 samples with highest height among M.

cajuputi Powell stands from 6-12 years old shows that M. cajuputi Powell forest at Mekong Delta are possible to be classified into 3 site classes; 10 years is standard age to classify site class and 2m is the height gap between 2 consecutive site classes at standard age. Actual state research leads to finding on fatality rate of M. cajuputi Powell forest.

In comparison with initial density after cultivation (which is 20.000 stands/ha equal to 100%), average ratio of alive stem to the age of 2, 4, 6, 8 and 10 is 88,6%; 67,8%; 64,1%, 58,0% and 48,8% respectively. 13,6% is the average ratio of eliminated stem after every 2 years. Structure research on 3 site classes proves that N-D distribution at the age of 6 and 9 both shown positively skewed curve (Sk > 0) form, obtuse curve (Ku < 0) at the age of 6 and acute curve (Ku > 0) at the age of 9.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Nghiên cứu đặc điểm lâm học rừng tràm ở ĐBSCL" nghiên cứu về vấn đề gì?

Nghiên cứu luận án tiến sĩ phân tích đặc điểm lâm học rừng tràm Melaleuca cajuputi powell trồng tại vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Luận án "Nghiên cứu đặc điểm lâm học rừng tràm ở ĐBSCL" được bảo vệ tại trường nào?

Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh. Năm bảo vệ: 2011.

Luận án "Nghiên cứu đặc điểm lâm học rừng tràm ở ĐBSCL" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Nghiên cứu đặc điểm lâm học rừng tràm ở ĐBSCL" thuộc chuyên ngành Kỹ thuật lâm sinh. Danh mục: Lâm Học.

Luận án "Nghiên cứu đặc điểm lâm học rừng tràm ở ĐBSCL" có bao nhiêu trang?

Luận án "Nghiên cứu đặc điểm lâm học rừng tràm ở ĐBSCL" có 239 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Nghiên cứu đặc điểm lâm học rừng tràm ở ĐBSCL" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter