Luận án tiến sĩ: Tốt nghĩa và xấu nghĩa trong tiếng Việt
Luận án tiến sĩ phân tích tốt nghĩa và xấu nghĩa trong tiếng Việt qua các bình diện ngữ nghĩa, đề xuất ứng dụng thực tiễn trong giảng dạy.
Năm xuất bản
Số trang
197
Thời gian đọc
30 phút
Lượt xem
2
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Tổng quan nghiên cứu tốt nghĩa xấu nghĩa tiếng Việt
- Số trang:
- 197 trang
- Trường:
- Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
- Chuyên ngành:
- Ngôn ngữ học
- Tác giả:
- Tăng Thị Tuyết Mai
- Năm:
- 2017
Tóm tắt nội dung luận án
I. Tổng quan nghiên cứu tốt nghĩa xấu nghĩa tiếng Việt
Luận án tiến sĩ "Tốt nghĩa và xấu nghĩa trong tiếng Việt" của tác giả Tăng Thị Tuyết Mai nghiên cứu sắc thái ngữ nghĩa từ vựng tiếng Việt. Công trình thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học, mã số 62 22 02 40, được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh năm 2017. Nghiên cứu tập trung phân tích nghĩa biểu cảm từ ngữ qua ba loại từ chính: danh từ đơn vị, vị từ trạng thái và vị từ hành động. Luận án áp dụng phương pháp ngữ nghĩa học từ vựng và ngữ dụng học tiếng Việt để khảo sát sắc thái cảm xúc từ vựng. Đề tài mở ra hướng tiếp cận mới về phân loại nghĩa từ trong tiếng Việt hiện đại.
1.1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu nghĩa褒贬 tiếng Việt
Tốt nghĩa và xấu nghĩa là hiện tượng ngôn ngữ phổ biến trong giao tiếp. Từ ngữ mang sắc thái tích cực hoặc tiêu cực ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả truyền đạt. Tiếng Việt có hệ thống từ vựng phong phú với nhiều tầng nghĩa biểu cảm. Nghiên cứu này giúp làm rõ cơ chế tạo nghĩa tốt xấu từ vựng. Đề tài có ý nghĩa thực tiễn cao trong giảng dạy và sử dụng tiếng Việt.
1.2. Đối tượng và phạm vi khảo sát từ ngữ mang sắc thái
Luận án tập trung ba nhóm từ loại chính trong tiếng Việt. Danh từ đơn vị được phân tích theo sắc thái nghĩa tốt, xấu và trung hòa. Vị từ trạng thái và vị từ hành động được khảo sát qua ngữ cảnh sử dụng. Phạm vi nghiên cứu bao gồm phát ngôn khen ngợi, chê trách, chửi rủa và mắng yêu. Tư liệu thu thập từ văn bản hiện đại và ngôn ngữ giao tiếp thực tế.
1.3. Phương pháp nghiên cứu ngữ nghĩa học tiếng Việt
Nghiên cứu áp dụng phương pháp mô tả và phân tích ngữ nghĩa. Quy trình xác lập sắc thái ngữ nghĩa được thiết lập khoa học. Phương pháp so sánh đối chiếu giúp làm rõ đặc điểm từ vựng. Cách tiếp cận kết hợp ngữ nghĩa học từ vựng và ngữ dụng học. Phân tích ngữ cảnh đóng vai trò quan trọng trong xác định nghĩa tốt xấu.
II. Khái niệm tốt nghĩa xấu nghĩa trong tiếng Việt
Tốt nghĩa và xấu nghĩa là hai khái niệm cốt lõi trong ngữ nghĩa học tiếng Việt. Tốt nghĩa thể hiện sắc thái tích cực, biểu đạt thái độ khen ngợi hoặc đánh giá cao. Xấu nghĩa mang sắc thái tiêu cực, thể hiện thái độ chê bai hoặc phê phán. Ngoài hai loại này còn có từ trung hòa về nghĩa. Sắc thái ngữ nghĩa của từ phụ thuộc vào ngữ cảnh sử dụng. Một từ có thể thay đổi nghĩa tốt xấu trong các tình huống khác nhau. Nghiên cứu phân biệt rõ góc độ ngữ nghĩa học từ vựng và ngữ dụng học.
2.1. Định nghĩa nghĩa tốt xấu từ vựng theo ngữ nghĩa học
Từ góc độ ngữ nghĩa học từ vựng, tốt nghĩa là nghĩa vốn có của từ. Nghĩa này được cố định trong hệ thống từ vựng tiếng Việt. Xấu nghĩa cũng thuộc về nghĩa gốc của đơn vị từ. Sắc thái cảm xúc từ vựng được ghi nhận trong từ điển. Nghĩa biểu cảm từ ngữ tồn tại độc lập với ngữ cảnh cụ thể.
2.2. Phân tích nghĩa褒贬 tiếng Việt theo ngữ dụng học
Ngữ dụng học tiếng Việt xem xét nghĩa trong giao tiếp thực tế. Sắc thái ngữ nghĩa của phát ngôn phụ thuộc ngữ cảnh. Cùng một từ có thể mang nghĩa tốt hoặc xấu tùy tình huống. Ý định người nói quyết định sắc thái biểu cảm. Mối quan hệ giữa người nói và người nghe ảnh hưởng đến nghĩa.
2.3. Sắc thái ngữ nghĩa và quy trình xác lập
Luận án đề xuất quy trình xác lập sắc thái ngữ nghĩa của từ. Bước đầu xác định nghĩa gốc trong từ điển tiếng Việt. Tiếp theo phân tích ngữ cảnh sử dụng từ cụ thể. Xem xét yếu tố văn hóa và tâm lý xã hội. Đánh giá thái độ cảm xúc của người sử dụng. Kết luận về sắc thái tốt, xấu hoặc trung hòa.
III. Phân loại nghĩa từ trong danh từ đơn vị tiếng Việt
Chương hai luận án phân tích tốt nghĩa và xấu nghĩa trong danh từ đơn vị tiếng Việt. Danh từ đơn vị được chia thành ba nhóm chính theo sắc thái nghĩa. Nhóm thứ nhất là danh từ đơn vị tốt nghĩa, biểu thị đối tượng tích cực. Nhóm thứ hai là danh từ trung hòa về nghĩa, không mang sắc thái cảm xúc rõ rệt. Nhóm thứ ba là danh từ đơn vị xấu nghĩa, chỉ đối tượng tiêu cực. Mỗi nhóm lại phân thành hai loại nhỏ hơn. Loại thứ nhất giữ nguyên sắc thái trong toàn bộ ngữ cảnh. Loại thứ hai biến đổi sắc thái trong loạt ngữ cảnh nhất định.
3.1. Danh từ đơn vị tốt nghĩa tiếng Việt
Danh từ đơn vị tốt nghĩa thể hiện sự đánh giá tích cực. Những từ này chỉ người, vật, hiện tượng được yêu mến. Một số danh từ giữ nghĩa tốt trong mọi ngữ cảnh. Ví dụ: anh hùng, tài năng, đức hạnh luôn mang sắc thái khen ngợi. Nhóm khác thay đổi nghĩa theo hoàn cảnh sử dụng. Ngữ cảnh mỉa mai có thể biến nghĩa tốt thành xấu.
3.2. Danh từ trung hòa về nghĩa trong từ vựng tiếng Việt
Danh từ trung hòa không mang sắc thái cảm xúc rõ ràng. Những từ này chỉ đối tượng một cách khách quan. Ví dụ: người, nhà, cây là các danh từ trung tính. Trong một số ngữ cảnh, từ trung hòa có thể có sắc thái. Yếu tố văn hóa và tâm lý ảnh hưởng đến nghĩa biểu cảm.
3.3. Danh từ đơn vị xấu nghĩa và biến đổi nghĩa
Danh từ xấu nghĩa biểu thị đối tượng bị đánh giá tiêu cực. Những từ này thường chỉ khuyết điểm, tội lỗi. Một số từ luôn mang nghĩa xấu trong mọi hoàn cảnh. Ví dụ: kẻ cắp, tên trộm, đồ bại hoại không thay đổi sắc thái. Nhóm khác có thể biến đổi nghĩa trong ngữ cảnh đặc biệt. Ngữ cảnh mắng yêu làm giảm sắc thái tiêu cực.
IV. Vị từ trạng thái và sắc thái cảm xúc từ vựng
Chương ba nghiên cứu tốt nghĩa và xấu nghĩa trong vị từ trạng thái tiếng Việt. Vị từ trạng thái mô tả tính chất, trạng thái của sự vật. Nhóm từ này có vai trò quan trọng trong biểu đạt thái độ cảm xúc. Vị từ trạng thái được phân loại tương tự danh từ đơn vị. Ba nhóm chính là tốt nghĩa, trung hòa và xấu nghĩa. Mỗi nhóm có từ giữ nguyên nghĩa và từ biến đổi nghĩa. Luận án phân tích kỹ kết hợp láy từ vị từ trạng thái. Nghiên cứu khảo sát mối quan hệ giữa vỏ ngữ âm và sắc thái nghĩa. Sắc thái của kết hợp biểu thị quá trình cũng được làm rõ.
4.1. Vị từ trạng thái tốt nghĩa trong tiếng Việt
Vị từ trạng thái tốt nghĩa biểu thị tính chất tích cực. Những từ này khen ngợi phẩm chất con người hoặc sự vật. Ví dụ: đẹp, tốt, giỏi, thông minh mang nghĩa khen. Một số vị từ giữ nghĩa tốt trong mọi ngữ cảnh. Nhóm khác thay đổi sắc thái theo ý định người nói. Ngữ điệu và hoàn cảnh quyết định nghĩa cuối cùng.
4.2. Kết hợp láy và sắc thái ngữ nghĩa tiếng Việt
Kết hợp láy từ vị từ trạng thái tạo nghĩa đặc biệt. Phương thức láy âm làm tăng hoặc giảm sắc thái. Vỏ ngữ âm có quan hệ với nghĩa biểu cảm. Nguyên âm và phụ âm ảnh hưởng đến cảm nhận. Luận án phân tích chi tiết hiện tượng này trong tiếng Việt.
4.3. Vị từ trạng thái xấu nghĩa và biến đổi
Vị từ trạng thái xấu nghĩa chỉ tính chất tiêu cực. Những từ này phê phán khuyết điểm và lỗi lầm. Ví dụ: xấu, dở, ngu, hèn mang sắc thái chê bai. Trong ngữ cảnh mắng yêu, nghĩa xấu có thể nhẹ đi. Kết hợp biểu thị quá trình có sắc thái nghĩa riêng. Nghiên cứu làm rõ cơ chế biến đổi nghĩa này.
V. Nghĩa biểu cảm từ ngữ trong vị từ hành động
Chương bốn khảo sát tốt nghĩa và xấu nghĩa trong vị từ hành động tiếng Việt. Vị từ hành động biểu thị hành vi, động tác của con người. Nhóm từ này phản ánh thái độ đánh giá về hành vi. Phân loại vị từ hành động theo ba nhóm sắc thái chính. Vị từ hành động tốt nghĩa khen ngợi hành vi tích cực. Vị từ trung hòa mô tả hành động khách quan. Vị từ hành động xấu nghĩa chê bai hành vi tiêu cực. Mỗi loại có nhóm giữ nguyên nghĩa và nhóm biến đổi nghĩa. Ngữ cảnh xã hội và văn hóa ảnh hưởng lớn đến sắc thái.
5.1. Vị từ hành động tốt nghĩa tiếng Việt
Vị từ hành động tốt nghĩa biểu thị hành vi đáng khen. Những từ này phản ánh chuẩn mực đạo đức xã hội. Ví dụ: giúp đỡ, chia sẻ, bảo vệ mang nghĩa tích cực. Một số vị từ luôn giữ sắc thái tốt. Nhóm khác có thể thay đổi nghĩa theo ngữ cảnh. Ý định và động cơ hành động quyết định sắc thái.
5.2. Vị từ hành động trung hòa về nghĩa
Vị từ hành động trung hòa mô tả động tác thông thường. Những từ này không mang đánh giá rõ ràng. Ví dụ: đi, ăn, ngủ, làm là các động từ trung tính. Trong ngữ cảnh cụ thể, từ trung hòa có thể có sắc thái. Yếu tố văn hóa và tình huống giao tiếp tạo nghĩa biểu cảm.
5.3. Phân loại nghĩa từ vị từ hành động xấu nghĩa
Vị từ hành động xấu nghĩa chỉ hành vi đáng trách. Những từ này vi phạm chuẩn mực xã hội. Ví dụ: lừa dối, đánh đập, cướp giật mang nghĩa tiêu cực. Hầu hết vị từ này giữ nghĩa xấu trong mọi hoàn cảnh. Một số trường hợp đặc biệt có thể thay đổi sắc thái. Ngữ cảnh văn học và nghệ thuật tạo nghĩa mới.
VI. Sắc thái nghĩa trong phát ngôn khen chê mắng
Chương năm nghiên cứu sắc thái ngữ nghĩa của bốn loại phát ngôn đặc biệt. Phát ngôn khen ngợi, chê trách, chửi rủa và mắng yêu được phân tích chi tiết. Mỗi loại phát ngôn có cơ chế tạo nghĩa riêng biệt. Nghiên cứu phân biệt nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn. Phát ngôn có thể có nghĩa tường minh tích cực, trung hòa hoặc tiêu cực. Sắc thái thực tế của phát ngôn phụ thuộc ngữ cảnh giao tiếp. Mối quan hệ giữa người nói và người nghe quyết định nghĩa. Ý định truyền đạt tạo ra sự khác biệt về sắc thái. Đây là phần quan trọng của ngữ dụng học tiếng Việt.
6.1. Phát ngôn khen ngợi và nghĩa tường minh
Phát ngôn khen ngợi có ba loại nghĩa tường minh. Loại thứ nhất có nghĩa tường minh tích cực, khen thật. Loại thứ hai có nghĩa tường minh trung hòa, khen gián tiếp. Loại thứ ba có nghĩa tường minh tiêu cực, khen mỉa mai. Ngữ cảnh và ngữ điệu quyết định ý nghĩa thực. Nghiên cứu phân tích cơ chế tạo ra các nghĩa này.
6.2. Sắc thái cảm xúc từ vựng trong phát ngôn chê trách
Phát ngôn chê trách cũng có ba loại nghĩa tường minh. Nghĩa tường minh tiêu cực là chê trách thật sự. Nghĩa tường minh trung hòa là nhắc nhở nhẹ nhàng. Nghĩa tường minh tích cực là chê để động viên. Thái độ và mục đích người nói tạo sắc thái khác nhau. Văn hóa giao tiếp ảnh hưởng đến cách chê trách.
6.3. Phát ngôn chửi rủa và mắng yêu trong tiếng Việt
Phát ngôn chửi rủa thường có nghĩa tường minh tiêu cực. Trong một số ngữ cảnh, chửi rủa có nghĩa trung hòa hoặc tích cực. Phát ngôn mắng yêu là hiện tượng đặc biệt trong tiếng Việt. Dùng từ xấu nghĩa nhưng thể hiện tình cảm thân thiết. Mối quan hệ gần gũi cho phép sử dụng lời mắng yêu. Đây là đặc trưng văn hóa giao tiếp người Việt.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (197 trang)Nội dung chính
Tổng quan về luận án
Nghiên cứu về sắc thái ngữ nghĩa (semantic nuance) và sự phân cực giá trị đánh giá trong ngôn ngữ là một trong những địa hạt phức tạp, nằm ở giao điểm giữa ngữ nghĩa học từ vựng (lexical semantics) và ngữ nghĩa học dụng pháp (pragmatic semantics). Trong tiến trình phát triển của ngôn ngữ học thế giới, các hiện tượng tốt nghĩa (amelioration/amelioratives) và xấu nghĩa (pejoration/pejoratives) vốn được tiếp cận chủ yếu dưới nhãn quan lịch đại (diachronic perspective) như những phương thức biến đổi nghĩa lịch sử. Luận án tiến sĩ ngữ văn chuyên ngành Ngôn ngữ học mang tên "Tốt nghĩa và xấu nghĩa trong tiếng Việt" của tác giả Tăng Thị Tuyết Mai (người hướng dẫn khoa học: PGS. Hoàng Dũng, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, 2017) đã thực hiện một bước chuyển tiên phong khi xác lập hệ hình nghiên cứu đồng đại (synchronic perspective) toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa cấu trúc luận từ vựng và ngữ dụng học tương tác.
Khoảng trống học thuật (research gap) lớn nhất được xác định là: Mặc dù các công trình ngôn ngữ học Việt ngữ trước đây (như nghiên cứu vị từ tâm lý - tình cảm của Nguyễn Ngọc Trâm năm 1991, cấu trúc nghĩa tính từ của Chu Bích Thu năm 1996, hay thành ngữ động vật học của Nguyễn Thị Bảo năm 2003) đã manh nha ghi nhận thành phần đánh giá chủ quan trong nghĩa của từ, nhưng toàn bộ giới nghiên cứu vẫn thiếu vắng một khung lý thuyết hệ thống và một quy trình thực nghiệm thao tác hóa (operationalized procedure) đủ hiệu lực để chứng minh và khu biệt ranh giới giữa sắc thái tốt nghĩa, trung hòa và xấu nghĩa. Đồng thời, mối tương tác đa tầng giữa nghĩa tường minh (explicit meaning) và nghĩa hàm ẩn (implicit meaning) trong các hành động ngôn từ phân cực chưa từng được miêu tả tường minh trên ngữ liệu tiếng Việt quy mô lớn.
Luận án thiết lập hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học mang tính bao quát:
- Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Cơ chế nội tại nào quy định sự hình thành và biến đổi sắc thái tốt nghĩa, xấu nghĩa, trung hòa của các đơn vị từ vựng tiếng Việt trong chu cảnh kết hợp đồng đại?
- Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Quy luật phân bố ngữ cảnh chi phối như thế nào đối với ba tiểu loại từ loại cốt lõi gồm danh từ đơn vị (DTĐV), vị từ trạng thái (VTTT) và vị từ hành động (VTHĐ)?
- Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Cơ chế ngữ dụng nào (tiền giả định, phương châm hội thoại, chuyển di tu từ) điều khiển sự phân hóa hoặc đảo chiều sắc thái ngữ nghĩa trong các phát ngôn khen ngợi, chê trách, chửi rủa và mắng yêu?
- Giả thuyết nghiên cứu 1 (H1): Sắc thái ngữ nghĩa của từ vựng tiếng Việt không thuần túy là thuộc tính tĩnh tại mà được cấu trúc hóa thành hai phân lớp rõ rệt: sắc thái ổn định trong toàn bộ ngữ cảnh và sắc thái biến đổi có điều kiện trong các chu cảnh phân bố đặc thù.
- Giả thuyết nghiên cứu 2 (H2): Giữa vỏ ngữ âm và giá trị biểu cảm của các từ chỉ mức độ cao đi kèm vị từ trạng thái tồn tại một mối tương quan biểu trưng ngữ âm - ngữ nghĩa có tính quy luật.
- Giả thuyết nghiên cứu 3 (H3): Sắc thái ngữ nghĩa của phát ngôn là kết quả tương tác phi tuyến tính giữa nghĩa mã hóa ngôn ngữ và cơ chế suy ý dụng học, trong đó nghĩa hàm ẩn giữ vai trò quyết định giá trị đánh giá cuối cùng.
Khung lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên sự tích hợp lý thuyết cấu trúc nghĩa từ vựng của Sebastian Löbner (2002), mô hình nghĩa không tự nhiên và hàm ngôn hội thoại của H.P. Grice (1957, 1975), cùng lý thuyết ngữ pháp và tiền giả định của Cao Xuân Hạo (2007). Công trình sở hữu quy mô vượt trội với 194 trang chính văn và gần 260 trang dành cho 5 phụ lục ngữ liệu chi tiết, bao quát hàng nghìn ngữ cảnh thực nghiệm từ hệ thống từ điển chuẩn mực đến văn bản khẩu ngữ và thành văn đương đại.
Literature Review và Positioning
Lịch sử nghiên cứu về hiện tượng tốt nghĩa và xấu nghĩa trên thế giới phản ánh rõ nét sự vận động của các trào lưu ngôn ngữ học. Trong phân nhánh ngôn ngữ học lịch sử (historical linguistics), các học giả kinh điển như Anthony Arlotto (1972), Theodora Bynon (1979), Winfred Lehmann (1992), Terry Crowley (1997), Andrew L. Sihler (2000), Brian D. Joseph & Richard D. Janda (2003) và đặc biệt là April M. McMahon (1994) trong Understanding Language Change đều xem tốt nghĩa (amelioration) và xấu nghĩa (pejoration) là các tiến trình biến đổi ngữ nghĩa lịch đại thông qua cơ chế thu hẹp hoặc mở rộng nghĩa. Điển hình như các biến đổi lịch đại: từ tiếng Pháp cổ maitresse (từ "cô dâu" thành "bà chủ nhà"), crétin (từ "người sùng đạo Cơ Đốc" thành "kẻ ngu ngốc"), sely (từ "thiêng liêng" thành "ngớ ngẩn"), hay từ tiếng Anh cổ cniht (từ "người hầu" chuyển biến tốt nghĩa thành "hiệp sĩ" - knight).
Ở bình diện hình thái học phái sinh quốc tế, Ralph Penny (2002) trong A History of the Spanish Language đã phân tích sâu sắc các hậu tố xấu nghĩa tiếng Tây Ban Nha như -aco (libraco - cuốn sách cũ nát, pajarraco - con chim xấu xí) hay -ajo (trapajo - giẻ rách). Tương tự, Kinder & Savini trong Using Italian: A Guide to Contemporary Usage khảo cứu các biến thể hậu tố xấu nghĩa tiếng Ý như -accio hay -azzo (libraccio - cuốn sách tệ hại, ragazzaccio - cậu bé ngỗ ngược, coltellaccio - con dao bầu nguy hiểm).
Giai đoạn đương đại đánh dấu bước ngoặt khi tuyển tập chuyên khảo quốc tế Pejoration do Rita Finkbeiner, Jörg Meibauer và Heike Wiese chủ biên (Benjamins, Amsterdam/Philadelphia, 2016) tập hợp 14 công trình đột phá, khảo sát xấu nghĩa ở mọi bình diện: ngữ âm/ngôn điệu (Walter Sendlmeier, Ines Steffen & Astrid Bartels), cú pháp câu tổng loại (Franz d'Avis), hình thái láy (Heike Wiese & Nilgün Tanis Polat với hiện tượng láy m- trong tiếng Đức như Coca Mola), và lý thuyết ngữ dụng về từ phỉ báng (slurs) cùng sự mỉa mai (sarcastic irony của Marta Dynel).
TIẾN TRÌNH NGHIÊN CÚU HỌC THUẬT VỀ TỐT NGHĨA VÀ XẤU NGHĨA
┌──────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ 1. Trào lưu Lịch đại (Historical Linguistics) │
│ - McMahon (1994), Lehmann (1992), Trask (2000), Arlotto (1972) │
│ - Tiêu điểm: Biến đổi ngữ nghĩa qua thời gian (Semantic Change: cniht -> knight, sely -> silly)│
└────────────────────────────────┬─────────────────────────────────────────────────────────────────┘
│
▼
┌──────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ 2. Trào lưu Hình thái - Biểu cảm Quốc tế (Morpho-Expressive & Pejoration Studies) │
│ - Potts (2005): Expressive Content Theory │
│ - Finkbeiner, Meibauer, Wiese (2016): Đa bình diện (Prosody, Morphology, Slurs, Speech Acts) │
│ - Ralph Penny (2002), Kinder & Savini: Hậu tố xấu nghĩa trong tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ý │
└────────────────────────────────┬─────────────────────────────────────────────────────────────────┘
│
▼
┌──────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ 3. Nghiên cứu Thành phần Đánh giá trong Việt ngữ học │
│ - Nguyễn Ngọc Trâm (1991): 19 nhóm vị từ tâm lý - tình cảm │
│ - Chu Bích Thu (1996): Cấu trúc 3 thành tố nghĩa tính từ (Thuộc tính -> Cảm giác -> Đánh giá) │
│ - Nguyễn Thị Bảo (2003): Thành ngữ chỉ động vật đối chiếu Anh - Việt │
└────────────────────────────────┬─────────────────────────────────────────────────────────────────┘
│
▼
┌──────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ 4. Định vị Đột phá của Luận án (Tăng Thị Tuyết Mai, 2017) │
│ - Tổng hòa Đồng đại: Ngữ nghĩa học từ vựng (3 từ loại) x Ngữ nghĩa học dụng pháp (4 phát ngôn)│
│ - Thiết lập Quy trình thao tác hóa phân tích ngữ cảnh & Cơ chế giải mã nghĩa hàm ẩn đa tầng │
└──────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┘
Trong bức tranh học thuật đó, tồn tại hai cuộc tranh luận lý thuyết sâu sắc:
- Tranh luận về nội dung biểu cảm: Daniel Gutzmann & Eric McCready (2016) phản biện trực tiếp lý thuyết nội dung biểu cảm (expressive content) của Christopher Potts (2005), chỉ ra rằng khung phân tích của Potts không thể giải thích thỏa đáng các trường hợp xấu nghĩa phái sinh phức tạp (như beglorzen trong tiếng Đức) hay các cấu trúc phản tôn xưng (anti-honorifics) trong tiếng Nhật.
- Tranh luận về bản chất của từ phỉ báng (slurs): Maria Paola Tenchini & Aldo Frigerio (2016) đề xuất quan điểm đa hành động (multi-act perspective) cho rằng từ phỉ báng đồng thời thực hiện hành vi miêu tả và hành vi biểu cảm; ngược lại, Jörg Meibauer (2016) khẳng định từ phỉ báng thuần túy là một tiểu loại của hành vi chửi rủa thuộc chức năng biểu cảm chuyên biệt.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chỉ khảo sát cục bộ: Nguyễn Ngọc Trâm (1991) phân tích 19 nhóm vị từ tâm lý theo khung đánh giá tích cực/tiêu cực; Chu Bích Thu (1996) mô hình hóa tính từ qua 3 thành tố: (1) Thuộc tính khách quan tác động giác quan, (2) Cảm giác phát sinh, và (3) Thái độ đánh giá chủ quan; Nguyễn Thị Bảo (2003) phân loại biểu trưng tích cực/tiêu cực của tên gọi động vật trong thành ngữ.
Luận án của Tăng Thị Tuyết Mai định vị chính xác khoảng trống học thuật này, tạo bước nhảy vọt khi vượt thoát khỏi phạm vi từ vựng hẹp để kiến tạo một hệ hình nghiên cứu đồng đại toàn diện, kết nối trực tiếp cấu trúc phân bố ngữ cảnh của từ loại với cơ chế dụng học điều khiển phát ngôn trong tiếng Việt.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án đóng góp vào hệ thống lý thuyết ngữ nghĩa - ngữ dụng học thông qua bốn trụ cột học thuật:
MÔ HÌNH HÓA ĐÓNG GÓP LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN
┌─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ TÍNH LIÊN CHỦ QUAN CỦA SẮC THÁI NGỮ NGHĨA │
│ (Intersubjective Semantic Nuance Model) │
└────────────────────────────────┬───────────────────────────────┬────────────────────────────────┘
│ │
┌────────────────┴──────────────┐ ┌──────────────┴──────────────┐
▼ ▼ ▼ ▼
┌──────────────────────────────┐ ┌──────────────────────────────┐ ┌──────────────────────────────┐
│ Mở rộng Sebastian Löbner │ │ Tái định vị H.P. Grice │ │ Làm sâu sắc Cao Xuân Hạo │
│ (2002) │ │ (1957, 1975) │ │ (2007) │
│ - Tách bạch nghĩa miêu tả │ │ - Mô hình hóa hiện tượng │ │ - Phân lập 3 cơ chế tiền │
│ khách quan và nghĩa biểu │ │ "dùng chệch chuẩn sắc thái"│ │ giả định: Bất chấp, Phủ │
│ cảm/xã hội liên chủ quan. │ │ tạo hàm ngôn hội thoại. │ │ nhận, Lợi dụng thông báo. │
└──────────────────────────────┘ └──────────────────────────────┘ └──────────────────────────────┘
- Mở rộng lý thuyết thành phần nghĩa từ vựng của Sebastian Löbner (2002): Luận án luận chứng xuất sắc luận điểm: Sắc thái ngữ nghĩa không thuộc về nghĩa miêu tả (descriptive meaning) mà thuộc về nghĩa biểu cảm (expressive meaning) và nghĩa xã hội (social meaning), đồng thời chịu sự tương tác sâu sắc của nghĩa liên tưởng (connotation). Bằng việc dẫn chiếu định nghĩa kinh điển của Löbner: "The descriptive meaning of a content word is a concept for its potential referents" (Löbner 2002: 23), tác giả chứng minh rằng sắc thái ngữ nghĩa của từ mang tính liên chủ quan (intersubjective). Nó phản ánh những chuẩn mực đánh giá quy ước của cộng đồng ngôn ngữ dân tộc chứ không phải là cảm xúc tâm lý đơn lẻ của từng cá nhân.
- Tái định vị lý thuyết nghĩa phát ngôn của H.P. Grice (1957, 1975): Luận án tích hợp mô hình phân biệt giữa nghĩa tự nhiên (natural meaning) và nghĩa không tự nhiên (nonnatural meaning / meaning-nn), làm rõ mối quan hệ giữa nghĩa người nói (speaker meaning), nghĩa mã hóa ngôn ngữ (linguistically encoded meaning) và nghĩa suy ra (inferred meaning). Công trình giải thích trọn vẹn hiện tượng "dùng chệch chuẩn sắc thái ngữ nghĩa" (đặt từ tích cực vào ngữ cảnh tiêu cực và ngược lại) như một thao tác tu từ có chủ đích nhằm sản sinh hàm ngôn hội thoại mang tính mỉa mai, châm biếm.
- Phát triển lý thuyết tiền giả định của Cao Xuân Hạo (2007): Bám sát định nghĩa bản lề: "Tiền giả định của một câu nói là một điều gì phải được giả định là đã có trước khi nói câu nói đó, vì nếu không có điều này thì không thể nói câu nói đó được (câu đó sẽ trở thành phi lý hoặc không thể hiểu được)" (Cao Xuân Hạo 2007: 470), luận án hệ thống hóa 3 cơ chế dụng học thao túng tiền giả định: (a) Bất chấp tiền giả định xưng hô để đe dọa thể diện hoặc mỉa mai; (b) Phủ nhận tiền giả định để chê trách/chửi rủa gián tiếp; (c) Lợi dụng tiền giả định để thông báo ngầm thông tin tiêu cực.
- Xác lập ranh giới ngôn ngữ học thuần túy: Phân lập dứt khoát khái niệm tốt nghĩa/xấu nghĩa ngôn ngữ học (trên trục quan hệ người nói - người nghe) khỏi các phán đoán của đạo đức học, thẩm mỹ học hay tâm lý học. Các hành vi thực tại mang tính bạo lực như giết, bắn chết, đâm chết về mặt ngôn ngữ học thuần túy là trung hòa về sắc thái ngữ nghĩa, trong khi các thuộc tính hình thể như béo, gầy chỉ trở thành xấu nghĩa khi chuyển hóa thành các kết hợp đánh giá tiêu cực như béo ục, béo núc ních, béo xù, gầy gò, gầy guộc, gầy rộc.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án được thiết kế như một ma trận đa chiều, kết hợp giữa trục phân tích ngữ nghĩa học từ vựng (hệ thống kết hợp và biến đổi ngữ cảnh) và trục ngữ nghĩa học dụng pháp (hành vi ngôn từ và cơ chế tạo nghĩa hàm ẩn):
MA TRẬN KHUNG PHÂN TÍCH NGỮ NGHĨA - NGỮ DỤNG CỦA LUẬN ÁN
┌─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ TRỤC 1: NGỮ NGHĨA HỌC TỪ VỰNG ĐỒNG ĐẠI (Lexical Semantics Axis) │
├─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┤
│ Phân loại 3 Từ loại: Danh từ đơn vị (DTĐV) | Vị từ trạng thái (VTTT) | Vị từ hành động (VTHĐ) │
│ │
│ ┌───────────────────────────────┬───────────────────────────────┐ │
│ ▼ ▼ ▼ │
│ Nhóm Tốt nghĩa (T) Nhóm Trung hòa (TH) Nhóm Xấu nghĩa (X) │
│ ├── T trong toàn bộ NC ├── TH trong toàn bộ NC ├── X trong toàn bộ NC │
│ └── T biến đổi STNN trong NC └── TH biến đổi STNN trong NC └── X biến đổi STNN trong NC │
└────────────────────────────────────────────────┬────────────────────────────────────────────────┘
│
▼
┌─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ TRỤC 2: NGỮ NGHĨA HỌC DỤNG PHÁP (Pragmatic Semantics Axis) │
├─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┤
│ Phân tích 4 Loại Phát ngôn: Khen ngợi | Chê trách | Chửi rủa | Mắng yêu │
│ │
│ Nghĩa Tường minh (Explicit) Cơ chế Tương tác Ngữ dụng Nghĩa Hàm ẩn (Implicit) │
│ ├── Tích cực ├── Thao túng Tiền giả định ├── Tích cực │
│ ├── Trung hòa ───────► ├── Vi phạm Phương châm Grice ─► ├── Trung hòa │
│ └── Tiêu cực └── Ẩn dụ, So sánh, Chơi chữ └── Tiêu cực │
└─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┘
Khung phân tích này bao hàm các điều kiện biên (boundary conditions) chặt chẽ: sắc thái ngữ nghĩa của từ vựng chỉ được xác lập khi đối chiếu trên một tập hợp chu cảnh phân bố đầy đủ; khi xuất hiện xung đột giữa nghĩa tường minh và ngữ cảnh tình huống, giá trị dụng học của phát ngôn luôn bị chi phối tối thượng bởi tầng nghĩa hàm ẩn được người nghe suy ý.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án vận hành trên nền tảng phương pháp luận thực chứng chức năng (functional positivism) kết hợp với diễn giải luận ngữ dụng (pragmatic interpretivism). Thiết kế nghiên cứu đa tầng được tổ chức chặt chẽ:
- Tầng vi mô (Micro-level): Khảo sát đặc tính ngữ nghĩa hạt nhân và phân tích thành tố nghĩa vị (sememe/seme) của từng mục từ đơn lẻ.
- Tầng trung mô (Meso-level): Khảo sát năng lực kết hợp ngữ pháp - từ vựng (combinatorial distribution) trong cấu trúc ngữ đoạn và cụm từ (như cấu trúc lượng từ + DTĐV + danh từ khối; cấu trúc phụ từ mức độ + VTTT; cấu trúc VTTT + từ chỉ hướng biểu thị quá trình).
- Tầng vĩ mô (Macro-level): Phân tích ngữ cảnh hội thoại thực tế và diễn ngôn giao tiếp chứa đựng các phát ngôn khen, chê, chửi rủa, mắng yêu.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình nhận diện và xác lập sắc thái ngữ nghĩa của từ vựng được chuẩn hóa qua ba giai đoạn thao tác nghiêm ngặt:
QUY TRÌNH THAO TÁC XÁC LẬP SẮC THÁI NGỮ NGHĨA
┌─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ BƯỚC 1: THU THẬP NGỮ CẢNH (Context Harvesting) │
│ - Trích xuất tối đa các chu cảnh phân bố từ Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê 2002) và văn bản. │
│ - Thu thập dữ liệu thực nghiệm đa phong cách chức năng (văn bản thành văn & khẩu ngữ hội thoại). │
└────────────────────────────────┬────────────────────────────────────────────────────────────────┘
│
▼
┌─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ BƯỚC 2: PHÂN LOẠI NHÓM NGỮ CẢNH ĐỒNG LOẠI (Contextual Clustering) │
│ - Ánh xạ các nhóm ngữ cảnh tương ứng với mạng cấu trúc đa nghĩa của từ. │
│ - Ví dụ: Khảo sát mục từ "béo" qua 11 ngữ cảnh phân thành 5 nhóm nghĩa thường trực. │
└────────────────────────────────┬────────────────────────────────────────────────────────────────┘
│
▼
┌─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ BƯỚC 3: PHÂN TÍCH VÀ XÁC LẬP SẮC THÁI NGỮ NGHĨA (Nuance Verification) │
│ ├── Trường hợp 1: Biểu hiện 1 STNN duy nhất trên toàn bộ ngữ cảnh -> STNN toàn bộ. │
│ └── Trường hợp 2: Biến đổi STNN trong loạt ngữ cảnh đặc thù -> STNN biến đổi có điều kiện. │
└─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┘
Phương pháp tam giác hóa dữ liệu (data triangulation) được thiết lập giữa: (1) Hệ thống định nghĩa chuẩn mực từ các từ điển học uy tín (Từ điển tiếng Việt 2002, Từ điển từ đồng nghĩa, Từ điển từ láy); (2) Ngữ liệu trích xuất từ tác phẩm văn học của các tác giả hiện thực phê phán kinh điển (Nguyễn Công Hoan, Nam Cao...); và (3) Ngữ liệu giao tiếp dân gian, khẩu ngữ đời sống tự nhiên.
Data và phân tích
Nguồn tư liệu nghiên cứu của luận án được cấu trúc hóa với độ tin cậy học thuật cao:
- Nguồn từ điển trục tâm: Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (2002) làm chuẩn quy chiếu định nghĩa và chính tả, kết hợp hệ thống từ điển chuyên ngành từ láy và từ đồng nghĩa.
- Dữ liệu phân loại Danh từ đơn vị: Khảo cứu toàn diện hai phân lớp theo quan điểm của Cao Xuân Hạo (2007), Diệp Quang Ban (1996) và Nguyễn Thị Ly Kha (2001): Danh từ đơn vị không chất liệu (DTĐVKCL) và Danh từ đơn vị chất liệu (DTĐVCL), dựa trên tiêu chí tính đếm được và tính đơn vị (khả năng kết hợp với phân lượng từ như nửa).
- Kỹ thuật phân tích mẫu điển hình: Khảo cứu trường hợp mục từ béo qua 11 ngữ cảnh phân bố thực tế: (1) Con gà béo, (2) Cô gái béo, (3) Nó béo bệu, (4) Không nên ăn nhiều chất béo!, (5) Miếng mồi có vẻ béo bở đấy!, (6) Đất béo, (7) Chỉ béo bọn con buôn, (8) Gà rán béo ngậy, (9) Trông nó béo phè, (10) Ông ấy béo phệ, (11) Nó bị béo phì. Dữ liệu được gom thành 5 nhóm nghĩa thường trực để bóc tách nét nghĩa cơ bản ("có nhiều mỡ của cơ thể động vật") và xác định các biến thể phân hóa sắc thái ngữ nghĩa.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
- Phát hiện 1 - Nhị phân hóa mô hình sắc thái ngữ nghĩa từ vựng: Luận án chứng minh từ vựng tiếng Việt không chỉ tồn tại 3 cực tĩnh tại (Tốt nghĩa - Trung hòa - Xấu nghĩa) mà vận hành theo hai phương thức: ổn định trong toàn bộ ngữ cảnh và biến đổi trong loạt ngữ cảnh nhất định. Minh chứng điển hình: DTĐV chàng, trang luôn mang sắc thái tốt nghĩa trong mọi kết hợp (trang hào kiệt, trang nam nhi, trang thanh niên); ngược lại, DTĐV mớ vốn mang sắc thái trung hòa khi kết hợp với danh từ chỉ vật (mớ cá, mớ rau, mớ khoai, mớ tóc), nhưng tự động biến đổi thành xấu nghĩa (coi thường, hạ thấp) khi kết hợp với danh từ chỉ người (mớ đàn ông, mớ đàn bà, mớ con gái, mớ người).
- Phát hiện 2 - Quy luật tương quan ngữ âm - ngữ nghĩa ở yếu tố phụ sau vị từ trạng thái: Phân tích thực nghiệm chứng minh mối quan hệ giữa vỏ ngữ âm của các từ chỉ mức độ cao đi sau VTTT với sắc thái ngữ nghĩa tiêu cực/tích cực, mở ra hướng tiếp cận ngữ âm biểu trưng (sound symbolism) trong ngữ nghĩa học tiếng Việt.
- Phát hiện 3 - Nghịch lý dụng học trong phát ngôn mắng yêu và chửi rủa: Luận án phát hiện cơ chế phân kỳ hoàn toàn giữa nghĩa hiển ngôn bề mặt và nghĩa hàm ẩn đích thực:
- Trong phát ngôn chửi rủa: Có thể mang nghĩa tường minh tích cực nhưng hàm ý triệt tiêu thể diện và hạ nhục đối tượng.
- Trong phát ngôn mắng yêu: Sử dụng các đơn vị từ vựng chuyên dùng để chửi rủa, mang nghĩa tường minh tiêu cực nặng nề ("Thằng cha mày!", "Thằng chó!"), nhưng trong ngữ cảnh tương tác thân mật (lời bà nói với cháu nhỏ), nghĩa hàm ẩn lại chuyển hóa hoàn toàn thành sắc thái biểu cảm yêu thương, âu yếm, gắn kết quan hệ.
- Phát hiện 4 - Cơ chế thao túng hội thoại để tạo sắc thái châm biếm: Chứng minh người bản ngữ liên tục vi phạm có chủ đích 4 phương châm hội thoại Grice (Lượng, Chất, Quan hệ, Cách thức) và thao túng tiền giả định để sản sinh sắc thái xấu nghĩa tinh tế (như chê món ăn mặn bằng cách vi phạm phương châm về lượng: "Chắc đầu bếp đã cho một kí muối vào đây", vi phạm phương châm quan hệ: "Em mới mua muối hả?", hoặc sử dụng thủ pháp chơi chữ nói lái: "Càng hiện đại càng hại điện", "Thủ tục hành chính - hành là chính").
MA TRẬN ĐẢO CHIỀU SẮC THÁI NGHĨA TRONG PHÁT NGÔN
┌──────────────────────┬────────────────────────┬────────────────────────┬────────────────────────┐
│ Loại Phát ngôn │ Nghĩa Tường minh │ Cơ chế Ngữ dụng │ Nghĩa Hàm ẩn (Đích) │
├──────────────────────┼────────────────────────┼────────────────────────┼────────────────────────┤
│ Khen ngợi mỉa mai │ Tích cực (Đậm đà quá) │ Dùng chệch chuẩn STNN │ Tiêu cực (Chê mặn chát)│
│ Chê trách gián tiếp │ Trung hòa (Bố đây con) │ Đổi vai/Bất chấp TGĐ │ Tiêu cực (Mỉa mai/Xúc │
│ │ │ │ phạm) │
│ Chửi rủa thâm sâu │ Tích cực/Trung hòa │ Phủ nhận Tiền giả định │ Tiêu cực cực đoan │
│ Mắng yêu │ Tiêu cực (Thằng chó!) │ Ngữ cảnh thân mật │ Tích cực (Yêu thương) │
└──────────────────────┴────────────────────────┴────────────────────────┴────────────────────────┘
Implications đa chiều
- Về mặt lý luận học thuật: Hoàn thiện và chuẩn hóa khung phân tích ngữ nghĩa - ngữ dụng học cho tiếng Việt, đặt nền móng lý thuyết vững chắc cho các nghiên cứu ngữ nghĩa học đồng đại trong khu vực Đông Nam Á.
- Về công nghệ ngôn ngữ và AI: Cung cấp mô hình phân loại sắc thái ngữ nghĩa chi tiết, hỗ trợ đắc lực cho việc gán nhãn dữ liệu (data labeling), phát triển thuật toán phân tích cảm xúc (Sentiment Analysis), xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) và nhận diện mỉa mai/châm biếm (Sarcasm Detection) cho các mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) tiếng Việt.
- Về thực tiễn giáo dục ngôn ngữ: Đột phá hóa phương pháp giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ (VFL/VSL), giúp học viên quốc tế thấu hiểu và sử dụng chuẩn xác các đơn vị từ vựng tinh tế (DTĐV, từ láy, vị từ) cũng như các cấu trúc phát ngôn nhạy cảm về mặt ngữ cảnh.
Limitations và Future Research
Nhìn nhận một cách khách quan trên tiêu chuẩn học thuật nghiêm ngặt, luận án tồn tại một số giới hạn nghiên cứu:
- Giới hạn về từ loại: Công trình tập trung giải quyết chuyên sâu ba bộ phận từ loại thực từ (DTĐV, VTTT, VTHĐ), chưa bao quát toàn diện hệ thống hư từ, trợ từ, tình thái từ cuối câu – những yếu tố có tần suất chi phối sắc thái biểu cảm rất cao trong tiếng Việt.
- Giới hạn nguồn ngữ liệu: Dữ liệu nghiên cứu chủ yếu trích xuất từ từ điển chuẩn mực và văn bản văn học/khẩu ngữ truyền thống, chưa tích hợp ngữ liệu số quy mô lớn (Big Data/Web Corpus) từ mạng xã hội đương đại.
- Phương pháp kiểm chứng: Bản chất liên chủ quan của sắc thái ngữ nghĩa chưa được đo lường bằng các phương pháp thực nghiệm tâm lý ngôn ngữ học thần kinh (Neurolinguistics / ERP) hay thí nghiệm thời gian phản xạ tri giác (reaction time experiments).
Chương trình nghiên cứu tương lai được đề xuất với 4 hướng phát triển:
- Ứng dụng ngôn ngữ học khối liệu (Corpus Linguistics) để lượng hóa tần suất kết hợp và độ mạnh liên kết (collocation strength) của các từ phân cực nghĩa.
- Khảo sát hệ thống tiểu từ tình thái (à, ư, nhỉ, nhé, cơ, mà) trong việc điều biến sắc thái ngữ nghĩa phát ngôn.
- Nghiên cứu đối chiếu liên văn hóa về sắc thái xấu nghĩa và từ phỉ báng (slurs) giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ đơn lập trong khu vực.
- Triển khai thí nghiệm hành vi tâm lý ngôn ngữ học để kiểm chứng tốc độ xử lý não bộ đối với phát ngôn dùng chệch chuẩn sắc thái ngữ nghĩa.
Tác động và ảnh hưởng
Luận án tạo lập ảnh hưởng học thuật và ứng dụng thực tiễn sâu rộng:
- Tác động học thuật: Trở thành công trình tham chiếu kinh điển tại Việt Nam về phân tích sắc thái ngữ nghĩa từ vựng và ngữ dụng, mở đường cho hàng loạt luận văn, luận án và bài báo khoa học chuyên ngành ngôn ngữ học ứng dụng.
- Chuyển đổi công nghiệp và công nghệ số: Định hình khung phân tích cho các kỹ sư AI trong việc xây dựng bộ từ điển cảm xúc tiếng Việt (Vietnamese Sentiment Lexicon), tối ưu hóa các hệ thống chatbot dịch vụ khách hàng và giám sát truyền thông xã hội.
- Bảo tồn giá trị văn hóa giao tiếp: Làm sáng tỏ bản sắc tư duy tinh tế, trọng sự hòa hợp nhưng giàu tính biểu cảm của người Việt thông qua nghệ thuật sử dụng uyển ngữ, mắng yêu và hàm ngôn châm biếm trong đời sống thường nhật.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và Giới học giả Ngôn ngữ học: Tiếp cận một khung lý thuyết tích hợp chuẩn mực và quy trình thao tác hóa phân tích ngữ cảnh có độ chính xác cao.
- Kỹ sư Xử lý Ngôn ngữ Tự nhiên (NLP/AI): Sở hữu tập luật ngữ nghĩa và mô hình giải mã hàm ý phục vụ phát triển các hệ thống hiểu ngôn ngữ tự nhiên (NLU).
- Giảng viên và Học viên Tiếng Việt (VFL/VSL): Nắm bắt cẩm nang phân biệt các đơn vị từ vựng đồng nghĩa nhưng dị biệt về sắc thái biểu cảm và chuẩn mực xã hội.
- Chuyên gia Biên phiên dịch và Biên tập viên: Nâng cao năng lực chuyển ngữ tương đương động (dynamic equivalence), bảo toàn trọn vẹn sắc thái tích cực/tiêu cực của văn bản nguồn.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào? Trả lời: Đóng góp độc đáo nhất là việc xác lập bản chất liên chủ quan của sắc thái ngữ nghĩa và mô hình hóa cơ chế phân đôi: STNN ổn định trong toàn bộ ngữ cảnh đối lập với STNN biến đổi theo chu cảnh phân bố. Luận án mở rộng trực tiếp lý thuyết thành phần nghĩa từ vựng của Sebastian Löbner (2002), định vị chính xác sắc thái ngữ nghĩa nằm ở vùng giao thoa giữa nghĩa biểu cảm, nghĩa xã hội và nghĩa liên tưởng của cộng đồng bản ngữ.
2. Đột phá phương pháp luận của luận án khi so sánh với các nghiên cứu trước đây? Trả lời: So với các công trình cục bộ của Nguyễn Ngọc Trâm (1991) hay Chu Bích Thu (1996), luận án tạo đột phá khi xây dựng quy trình phân tích phân bố 3 bước thao tác hóa kết hợp kiểm tra tính trực giao ngữ cảnh. Phương pháp này cho phép nhận diện chính xác ranh giới chuyển hóa sắc thái của từ khi tham gia vào các khung kết hợp cú pháp khác nhau.
3. Phát hiện thực nghiệm nào bất ngờ và phản trực giác nhất? Trả lời: Phát hiện về hiện tượng "nghịch đảo cực tính ngữ nghĩa" trong phát ngôn mắng yêu. Bề mặt câu chữ sử dụng toàn bộ các đơn vị xấu nghĩa cực đoan, mang tính xúc phạm thể diện thuộc lớp từ chửi rủa ("Thằng cha mày!", "Thằng chó!"), nhưng qua bộ lọc ngữ cảnh thân mật và quy ước văn hóa, nghĩa hàm ẩn tiếp nhận lại mang giá trị đánh giá tích cực tuyệt đối, biểu thị sự âu yếm sâu sắc.
4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập thực nghiệm (replication protocol) không? Trả lời: Có. Luận án cung cấp quy trình 3 bước tường minh: (1) Thu thập ngữ cảnh toàn diện, (2) Phân loại nhóm ngữ cảnh đồng loại tương ứng với mạng nghĩa, (3) Phân tích nét nghĩa thường trực để xác lập STNN toàn bộ hoặc biến đổi. Quy trình này có thể áp dụng đồng bộ cho bất kỳ từ loại nào trong tiếng Việt.
5. Lộ trình phát triển học thuật 10 năm tiếp theo được định hình như thế nào? Trả lời: Lộ trình chuyển tiếp từ phân tích cấu trúc sang ngôn ngữ học khối liệu điện toán (Computational Corpus Linguistics), xây dựng đồ thị tri thức ngữ nghĩa (Semantic Knowledge Graph) và tích hợp các phương pháp tâm lý ngôn ngữ học thực nghiệm để giải mã cơ chế tri giác sắc thái biểu cảm trong thời gian thực.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Tăng Thị Tuyết Mai xác lập năm đóng góp cốt lõi:
- Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tốt nghĩa và xấu nghĩa trên lập trường ngôn ngữ học đồng đại, phân lập ranh giới với các ngành khoa học lân cận.
- Thiết lập quy trình 3 bước chuẩn hóa dựa trên phân tích phân bố và ngữ cảnh để nhận diện sắc thái ngữ nghĩa từ vựng.
- Miêu tả và phân loại thấu đáo thực trạng phân cực sắc thái ngữ nghĩa của ba từ loại then chốt: Danh từ đơn vị, Vị từ trạng thái và Vị từ hành động.
- Phát hiện và mô hình hóa quy luật tương quan giữa vỏ ngữ âm với sắc thái ngữ nghĩa của các yếu tố chỉ mức độ cao đi sau vị từ trạng thái.
- Giải mã thành công cơ chế ngữ dụng (tiền giả định, phương châm hội thoại, chuyển di tu từ) điều khiển sự vận động của sắc thái nghĩa trong 4 loại phát ngôn tương tác xã hội.
Công trình tạo nên bước tiến hệ hình quan trọng, mở ra ba nhánh nghiên cứu mới: Ngữ nghĩa học phân tích cảm xúc điện toán, Ngữ dụng học đối chiếu liên văn hóa, và Giảng dạy ngữ dụng học tiếng Việt ứng dụng, để lại di sản học thuật bền vững cho nền Việt ngữ học đương đại.
Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HÒ CHÍ MINH TĂNG THỊ TUYẾT MAI LUẬN AN TIEN SĨ NGON NGU VA VAN HOA NƯỚC NGOÀI Thành phô Hồ Chi Minh — 2017 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HÒ CHÍ MINH TĂNG THỊ TUYẾT MAI Chuyên ngành: Ngôn ngữ hoc Mã số: 62 22 02 40 LUẬN ÁN TIEN SĨ NGÔN NGỮ VA VAN HOÁ NƯỚC NGOÀI NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. HOÀNG DŨNG Thành phô Hồ Chí Minh — 2017 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các sô liệu, kêt quả trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bồ trong bat kỳ công trình nào khác. Hồ Chi Minh — 2017 Tăng Thị Tuyết Mai MỤC LỤC BANG QUY UGC TRÌNH BAY. Lý do chọn đề tải. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Phương pháp nghiên CỨU. Tư liệu nghiÊn CỨU. Đóng góp của luận AN .- -- 5c + S11 ng ng ng nếp 17 1.
Bố cục của luận án.---cc:-+c2xvttttEktrrrtrrtrrtrtrtrrrrrrrirrrrrrrrriio 17 CHƯƠNG MỘT )J2i00)/€01. Giới thiệu chung về tốt nghĩa, xấu nghĩa. Khai niệm tốt nghĩa, xấu nghĩa .Tốt nghĩa, xấu nghĩa dưới góc độ ngữ nghĩa học từ vựng và dưới góc độ ngữ dụng hỌC.-- óc c1 11111 ng ng nếp 20 1. Sắc thái ngữ nghĩa của từ và quy trình xác lập STNN của từ.
Sắc thái ngữ nghĩa của thr eee essessessessessesessestsstssessessessesseasens 21 1. Quy trình xác lập sắc thai ngữ nghĩa của từ. Sắc thái ngữ nghĩa của phát ngôn và cơ chế tạo ra sắc thái tốt nghĩa, xấu nghĩa của phát ngôn. Sắc thái ngữ nghĩa của phát ngôn.
Cơ chế tao ra sắc thái tốt nghĩa, xấu nghĩa của phát ngôn. 37 CHƯƠNG HAI TOT NGHĨA VÀ XÁU NGHĨA TRONG DANH TU DON VỊ TIENG VIỆT.-2¿ 52+ E+zE+EE+EE+EEzEtzxszsez 45 2. Danh từ đơn vị tốt nghĩa .---2-2¿©52++E+EE+EE£E2EEEEEEEErrrrrkerkeeg 51 2. DTDV tốt nghĩa trong toàn bộ ngữ cảnh.
DTĐV tốt nghĩa biến đổi STNN trong loạt ngữ cảnh nhất định. Danh từ đơn vị trung hòa về nghĩa. DTĐV trung hoà về nghĩa trong toàn bộ ngữ cảnh. DTĐV trung hoa biến đổi STNN trong loạt ngữ cảnh nhất định.
Danh từ đơn vị xấu nghĩa. DTĐV xấu nghĩa trong toàn bộ ngữ cảnh. DTĐV xấu nghĩa biến đổi STNN trong loạt ngữ cảnh nhất định. 76 CHƯƠNG BA TOT NGHĨA VÀ XAU NGHĨA TRONG VỊ TỪ TRẠNG THÁI TIENG VIỆT.
Vị từ trạng thái tốt nghĩa.---¿- 2-52 SE+SE+EcEEEEEEEeEEEEkEEkerkrrrrrrrei 82 3. VTTT tốt nghĩa trong toàn bộ ngữ cảnh. VTTT tốt nghĩa biến đổi STNN trong loạt ngữ cảnh nhất định. Vị từ trạng thái trung hòa về nghĩa.---2- 2 2 +£xz+zz+zz+cxzex 9] 3.
VTTT trung hoà về nghĩa trong toàn bộ ngữ cảnh. VTTT trung hoà biến đổi STNN trong loạt ngữ cảnh nhất định. Vị từ trạng thái xấu nghĩa .VTTT xấu nghĩa trong toàn bộ ngữ cảnh.VTTT xấu nghĩa biến đổi STNN trong loạt ngữ cảnh nhất định. Sắc thái ngữ nghĩa của kết hop lay xuất phát từ vi từ trang thái.
Mối quan hệ giữa vỏ ngữ âm va sắc thái ngữ nghĩa của các từ chỉ mức độ cao theo sau vi từ trạng thái. Sắc thái ngữ nghĩa của kết hợp chứa vị từ trạng thái biểu thị một quá trÌnhh.--- - s- s E+SE+EE+EE+EE+EEEeEEEEEEEEEEEEEEEEkrrkrrerreeg 120 CHƯƠNG BON TOT NGHĨA VÀ XAU NGHĨA. TRONG VỊ TU HANH ĐỘNG TIENG VIỆT. Vị từ hành động tốt nghĩa .- 2-2 2 ©E+EE+EE+EE+EE+EEzEEzErrerree 131 4.
VTHĐ tốt nghĩa trong toàn bộ ngữ cảnh. VTHD tốt nghĩa biến đổi STNN trong loạt ngữ cảnh nhất định. Vị từ hành động trung hòa về nghĩa .---- 2-2 225z+sz+sz>se2 135 4. VTHD trung hoà về nghĩa trong toàn bộ ngữ cảnh.
VTHĐ trung hoà biến đổi STNN trong loạt ngữ cảnh nhất định. Vị từ hành động xấu nghĩa.- 2-2 2© E+EE+EE+EE+EE+E+zEzErrerxee 147 4. VTHD xấu nghĩa trong toàn bộ ngữ cảnh.VTHĐ xau nghĩa biến đổi STNN trong loạt ngữ cảnh nhất định. 151 CHƯƠNG NĂM TOT NGHĨA VÀ XAU NGHĨA TRONG PHAT NGÔN KHEN NGỢI, CHE TRÁCH, CHUI RUA, MĂNG YÊU.
Sắc thái ngữ nghĩa của phát ngôn khen ngợi. Phát ngôn khen ngợi có nghĩa tường minh tích cực. Phát ngôn khen ngợi có nghĩa tường minh trung hoà. Phát ngôn khen ngợi có nghĩa tường minh tiêu cực.
Sắc thái ngữ nghĩa của phát ngôn chê trách. Phát ngôn chê trách có nghĩa tường minh tiêu cực. Phát ngôn chê trách có nghĩa tường minh trung hoà. Phát ngôn chê trách có nghĩa tường minh tích cực.
Sắc thái ngữ nghĩa của phát ngôn chửi rủa. Phát ngôn chửi rua có nghĩa tường minh tiêu cực. Phát ngôn chửi rua có nghĩa tường minh trung hoà. Phát ngôn chửi rua có nghĩa tường minh tích cực.
Sắc thái ngữ nghĩa của phát ngôn mang yêu.1111 11011011111 1 cyt 171 TÀI LIEU THAM KHẢO.-¿- c2 St SEEEESEEEEEEEEEEEEEEEEEEErkerkrkerkrree 181 NGUON NGỮ LIBU oo.cececcscsccsccscsscsessesscsessesesatsscsesacssatsecstsassesatseeetsaesseaseees 193 DANH MỤC CONG TRINH DA CONG BỒ.22 522cc ct2EvErxsreree 194 BANG QUY UOC TRÌNH BAY 1. Quy ước về tài liệu trích dẫn Năm xuất bản và số trang của tài liệu trích dẫn được đặt trong dau ngoac đơn (), ngăn cách nhau bang dau hai cham (:). Nếu đoạn trích dan gồm nhiều trang liên tục thì giữa trang đầu và trang cuối có ghi thêm dấu gạch nối (-), ví dụ (2007: 2-11); nếu đoạn trích dẫn gồm nhiều trang không liên tục thì ở giữa các trang này có chữ “và”, ví dụ (2010: 1 và 2). Quy ước về chú thích nghĩa của từ Tất cả các định nghĩa không ghi nguồn trong luận án đều được trích từ Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê (2002) chủ biên.
Cách viêt của các từ cũng được sao từ tài liệu này. Quy ước viết tắt DK: Danh từ khối DTDV: Danh từ đơn vi DTĐVCL: Danh từ đơn vi chất liệu DTPVKCL: Danh từ đơn vị không chất liệu KNKH: Khả năng kết hợp NC: Ngữ cảnh SL: Số lượng STNN: Sắc thái ngữ nghĩa T: Tốt nghĩa TH: Trung hoà về nghĩa THX: Khả năng kết hợp với yếu tổ trung hoà về nghĩa và xấu nghĩa TTH: Khả năng kết hợp với yếu tổ tốt nghĩa và trung hoà về nghĩa TTHX: Khả năng kết hợp với yếu tố tốt nghĩa, trung hoà và xau nghĩa TX: Khả năng kết hợp với yếu tố tốt nghĩa và xấu nghĩa VTHD: VỊ từ hành động VTTT: VỊ từ trạng thái X: Xấu nghĩa MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Khi nói về màu trắng của da người, trdng hồng, trắng tươi. được xem là những từ biểu thị thái độ đánh giá tích cực trong khi trang héu, trắng béch, trang nhon.
biêu thị điều ngược lại. Bằng chứng là trang hồng, trắng tươi. không thé dùng dé chê va trang héu, trắng bệch. không thé dùng dé khen làn da của một người nào đó.
Như vậy, rõ ràng trong tiếng Việt tồn tại những sự biểu đạt tốt nghĩa (amelioratives) và xấu nghĩa (pejoratives). Tuy nhiên, một từ tốt nghĩa như dep, tot. không phải bao giờ cũng dùng dé khen (chang hạn như trong câu: “Dep lắm day!”, “Dep lắm day à?”) và ngược lại, các từ ngữ chuyên dùng để chửi rua như “Thằng cha may!”, “Thang chó!”. cũng có lúc được dùng như một lời mắng yêu (lời của người bà nói với đứa cháu nhỏ của mình).
Các từ như đá, nước, núi, sông. hoàn toàn trung hoà về sắc thái ngữ nghĩa (STNN) nhưng nếu đó là các tên riêng của người thì “Đá”, “Nước”, “Núi”, “Sông”. sẽ kém trang trọng hơn nhiều so với các từ Hán Việt đồng nghĩa: “Thạch”, “Thuỷ”, “Sơn”, “Hà”. Đây không phải là vấn đề của ngữ nghĩa học từ vựng mà là câu chuyện ngữ dụng học.
Tốt nghĩa và xấu nghĩa được giới ngôn ngữ học quan tâm dưới nhiều phương diện, có thé là dưới quan điểm ngôn ngữ học lịch đại hay ngôn ngữ học đồng đại, cũng có thé là dưới cái nhìn ngữ âm học, ngữ nghĩa học, ngữ pháp học hay ngữ dụng học. Trong luận án này, người viết sẽ trình bày những vấn đề chung của hiện tượng tốt nghĩa và xấu nghĩa trong tiếng Việt từ hai góc độ: ngữ nghĩa học từ vựng và ngữ nghĩa học dụng pháp với mục đích đem đến cho người đọc một hình dung trọn vẹn về vấn đề này. Từ góc độ ngữ nghĩa học từ vựng, theo quan điểm ngôn ngữ học đồng đại, luận án nghiên cứu tốt nghĩa và xấu nghĩa ở ba loại đơn vị từ vựng: danh từ đơn vi (DTDV), vi từ trạng thái (VTTT), vi từ hành động (VTHĐ). Từ góc độ ngữ dụng học, luận án tập trung miêu tả sắc thái ngữ nghĩa của các loại phát ngôn khen ngợi, chê trách, chửi rủa, mắng yêu.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề Tốt nghĩa và xâu nghĩa là những khái niệm không xa lạ trong giới ngôn ngữ học. Chúng thường được chú ý dưới dạng danh từ: sự biến đổi tốt nghĩa (amelioration) và sự biến đổi xấu nghĩa (pejoration). Nói đến sự biến đổi tốt nghĩa và sự biến đổi xấu nghĩa, trước hết là nói đến những quá trình chuyển nghĩa mang tính chất lịch đại. Trong các công trình nghiên cứu ngôn ngữ học lịch sử, các tác giả thường đề cập đến hai quá trình này khi bàn về sự biến đổi ngữ nghĩa (semantic change).
Hầu như không một công trình nào bàn về ngôn ngữ học lịch sử lại không bàn về quá trình chuyền nghĩa, và nếu đã bàn về quá trình này thì nhất định sẽ không bỏ qua quá trình biến đổi tốt nghĩa và biến đổi xấu nghĩa dưới hai dạng thức: mở rộng và thu hẹp nghĩa. Chúng ta có thé nhận ra điều này qua các công trình nghiên cứu theo quan điểm lich dai: Introduction to Historical Linguistics (1972) cua Anthony Arlotto, Historical Linguistics (1979) cua Theodora Bynon, Historical Linguistics: An Introduction (1992) cua Winfred Lehmann, Understanding Language Change (1994) cua April M. McMahon, An Introduction to Historical Linguistics (1997) cua Terry Crowley, Language History — An Introduction (2000) cua Andrew L. Sihler, An Approach to Semantic Change (2003) cua Brian D.
Joseph va Richard D. Về sự biến đối xấu nghĩa, April M. McMahon đã lay một vi dụ tiếng Pháp maitresse (bà chủ nha), từng có nghĩa là “cô dâu”. Tương tự, sely (thiêng liêng) đã biến đổi nghĩa thành “ngớ ngân”, và từ tiếng Pháp crétin đã chuyền nghĩa từ “sùng đạo Cơ Đốc” thành “ngu ngốc”.
Tác giả cũng đã lấy từ tiếng Anh cổ cniht làm vi dụ cho sự biến đổi tốt nghĩa. Nghĩa gốc của nó là “người hầu”, nhưng tiếng Anh hiện đại có nghĩa là “hiệp sĩ”. Tốt nghĩa và xấu nghĩa mang tính phố quát cho mọi ngôn ngữ chứ không giới hạn ở một ngôn ngữ nào. Có lẽ vì vậy mà van dé này được nghiên cứu trong một phạm vi rộng ở nhiều ngôn ngữ: tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nga, tiếng Italia.
Trong công trình A History of the Spanish Language (2002), Ralph Penny có ban vé những hau tố xấu nghĩa trong tiếng Tây Ban Nha kèm theo những vi dụ thú vi. Chăng hạn hậu tố -aco trong các từ libraco (cuốn sách cũ mục nát), pajarraco (con chim xấu xi).
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Tăng Thị Tuyết Mai (2017). Tốt nghĩa và xấu nghĩa trong tiếng Việt - Luận án [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh]. LuanAn.net. https://luanan.net/khoa-hoc-giao-duc/luan-an-tien-si-ngon-ngu-hoc-tot-nghia-va-xau-nghia-trong-tieng-viet-cac-binh-dien-ngu-nghia-va-ung-dung
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Tốt nghĩa và xấu nghĩa trong tiếng Việt - Luận án" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án tiến sĩ phân tích tốt nghĩa và xấu nghĩa trong tiếng Việt qua các bình diện ngữ nghĩa, đề xuất ứng dụng thực tiễn trong giảng dạy.
Luận án "Tốt nghĩa và xấu nghĩa trong tiếng Việt - Luận án" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh. Năm bảo vệ: 2017.
Luận án "Tốt nghĩa và xấu nghĩa trong tiếng Việt - Luận án" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Tốt nghĩa và xấu nghĩa trong tiếng Việt - Luận án" thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học. Danh mục: Khoa Học Giáo Dục.
Luận án "Tốt nghĩa và xấu nghĩa trong tiếng Việt - Luận án" có bao nhiêu trang?
Luận án "Tốt nghĩa và xấu nghĩa trong tiếng Việt - Luận án" có 197 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Tốt nghĩa và xấu nghĩa trong tiếng Việt - Luận án" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.