Luận án: Phát triển năng lực trực giác toán học cho học sinh THPT - Võ Xuân Mai
Luận án: Phát triển năng lực trực giác toán học cho học sinh THPT trong dạy học toán. Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả học tập.
Luan An
Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục
Năm xuất bản
Số trang
170
Thời gian đọc
26 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Vai trò phát triển trực giác toán học cho học sinh THPT
- Số trang:
- 170 trang
- Trường:
- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
- Chuyên ngành:
- Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán
- Tác giả:
- Võ Xuân Mai
- Năm:
- 2020
Tóm tắt nội dung luận án
I. Vai trò phát triển trực giác toán học cho học sinh THPT
Dạy học môn Toán ở cấp trung học phổ thông đang chuyển dịch mạnh mẽ. Trọng tâm chuyển từ truyền thụ kiến thức sang phát triển phẩm chất và năng lực toàn diện. Năng lực toán học bao gồm tư duy logic, khả năng giải quyết vấn đề và trực giác toán học. Trực giác giữ vai trò mở đường cho những ý tưởng đột phá. Khả năng suy đoán giúp học sinh định hướng nhanh cách giải bài toán. Chương trình giáo dục phổ thông mới đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực tự học và tư duy sáng tạo. Giáo viên không còn giữ vai trò truyền đạt thụ động. Người dạy trở thành người tổ chức, định hướng các hoạt động học tập. Học sinh chủ động khám phá tri thức và tự mình rút ra kết luận. Việc phát triển trực giác giúp tiết kiệm thời gian tiếp cận vấn đề. Năng lực này tạo nền tảng vững chắc cho quá trình học tập nâng cao.
1.1. Định hướng đổi mới trong giáo dục toán học phổ thông
Nghị quyết đổi mới giáo dục yêu cầu chuyển từ việc nhồi nhét lý thuyết sang phát triển năng lực cá nhân. Giáo dục gắn liền lý luận với thực tiễn đời sống. Môn Toán giữ vai trò nòng cốt trong việc rèn luyện tư duy cho học sinh. Nhà trường cần tạo môi trường học tập linh hoạt và sáng tạo. Giáo viên chuyển giao quyền chủ động cho người học thông qua các hoạt động nhóm, dự án học tập. Học sinh cần rèn luyện khả năng phát hiện vấn đề và đề xuất giải pháp. Năng lực giải quyết vấn đề và năng lực mô hình hóa toán học là những đích đến quan trọng. Quá trình tiếp thu kiến thức trở nên sinh động hơn khi gắn với ứng dụng thực tế. Tinh thần tự học và nghiên cứu khoa học được khơi dậy mạnh mẽ. Sự đổi mới này đặt nền móng vững chắc cho nền giáo dục hiện đại.
1.2. Kết hợp hài hòa giữa trực giác và tư duy logic
Tư duy toán học hoàn chỉnh đòi hỏi sự song hành giữa logic và trực giác. Logic cung cấp công cụ suy diễn, lập luận chặt chẽ và chứng minh chính xác. Trực giác mang lại sự nhạy bén, khả năng dự đoán kết quả và tìm tòi hướng đi mới. Việc chỉ chú trọng logic khiến tư duy trở nên khô khan, máy móc. Ngược lại, chỉ dựa vào trực giác dễ dẫn đến sai lầm thiếu căn cứ khoa học. Do đó, giáo viên cần kết hợp cân đối hai yếu tố này trong mỗi bài giảng. Trực giác giúp hình thành giả thuyết ban đầu, còn logic hoàn thiện chứng minh. Sự hòa quyện này tạo nên phong cách tư duy linh hoạt và sắc bén. Học sinh THPT sẽ tự tin hơn trước các bài toán mở và những thử thách phức tạp.
II. Đặc điểm cơ bản của trực giác toán học cho học sinh THPT
Trực giác toán học là năng lực nhận thức đặc biệt mang tính trực tiếp và nhanh chóng. Năng lực này cho phép nhận ra chân lý toán học mà không cần trải qua suy luận trung gian đầy đủ. Học sinh có trực giác tốt thường nắm bắt cấu trúc bài toán chỉ trong khoảnh khắc. Quá trình này không phải là đoán mò ngẫu nhiên hay may rủi. Trực giác hình thành dựa trên vốn hiểu biết phong phú và trải nghiệm toán học tích lũy. Năng lực này thể hiện qua sự nhạy bén về hình ảnh không gian, cảm giác số học và mối liên hệ đại số. Khi đứng trước các bài toán khó, trực giác giúp định vị điểm then chốt để tháo gỡ khó khăn. Đây là yếu tố phân biệt tư duy thụ động với tư duy sáng tạo đỉnh cao.
2.1. Khả năng phát hiện vấn đề và suy đoán nhanh chóng
Khả năng phát hiện vấn đề là biểu hiện rõ nét nhất của trực giác toán học. Học sinh có thể nhìn thấu bản chất ẩn sau vỏ bọc hình thức phức tạp của đề bài. Nhờ trực giác, học sinh nhanh chóng đưa ra các phỏng đoán hợp lý về kết quả. Cảm nhận toán học dẫn dắt việc chọn lọc các phương pháp giải tối ưu nhất. Thay vì thử nghiệm mù quáng, trực giác chỉ ra con đường ngắn nhất dẫn đến đáp án. Quá trình này giảm bớt các bước thử sai không cần thiết trong quá trình làm bài. Tốc độ xử lý thông tin toán học tăng lên rõ rệt. Khả năng suy đoán cũng thúc đẩy sự tò mò khoa học và mong muốn kiểm chứng chân lý. Điều này giúp nâng cao hiệu suất học tập của học sinh trung học phổ thông.
2.2. Nguồn gốc thúc đẩy sáng tạo trong giải toán
Nhiều nhà toán học vĩ đại khẳng định trực giác là cội nguồn của mọi sáng tạo khoa học. Sáng tạo không xuất phát thuần túy từ các công thức có sẵn. Sự bứt phá nảy sinh từ những tia sáng trực giác bất ngờ và độc đáo. Trong chương trình phổ thông, học sinh thường gặp các dạng toán đòi hỏi phương pháp biến đổi khác lạ. Trực giác giúp vượt qua lối mòn tư duy thông thường để tìm ra lời giải độc đáo. Trí tưởng tượng không gian và sự liên tưởng phong phú là bệ phóng cho trực giác thăng hoa. Khi được khuyến khích phát triển trực giác, học sinh trở nên hứng thú hơn với việc khám phá môn Toán. Niềm say mê học tập được nuôi dưỡng và duy trì lâu dài.
III. Phương pháp bồi dưỡng trực giác toán học cho học sinh THPT
Trực giác toán học hoàn toàn có thể đào tạo và bồi dưỡng thông qua phương pháp dạy học phù hợp. Giáo viên cần thiết kế hệ thống bài tập đa dạng, kích thích tư duy dự đoán của học sinh. Thay vì cung cấp ngay thuật toán chuẩn, hãy để người học tự tìm tòi con đường đi. Việc sử dụng hình ảnh trực quan, sơ đồ và biểu đồ hình học giúp củng cố linh cảm toán học. Giáo viên nên đặt ra những câu hỏi gợi mở, khuyến khích học sinh đưa ra phán đoán ban đầu. Môi trường học tập cởi mở giúp người học không sợ mắc lỗi khi phát biểu suy nghĩ trực giác. Việc phân tích sai lầm từ trực giác cũng là bài học quý giá để hoàn thiện tư duy logic.
3.1. Thiết kế hoạt động trải nghiệm và khám phá tri thức
Hoạt động trải nghiệm đóng vai trò then chốt trong việc rèn luyện trực giác toán học. Học sinh cần được tham gia vào quá trình tự xây dựng định lý và công thức mới. Giáo viên tổ chức các trò chơi toán học, thí nghiệm số và phân tích hình học động. Những công cụ trực quan như phần mềm vẽ hình hay đồ thị trực tuyến hỗ trợ quan sát biến thiên kỳ diệu. Qua việc trực tiếp tương tác, học sinh cảm nhận được quy luật ẩn sâu trong các đối tượng toán học. Cảm giác toán học tự nhiên dần hình thành và phát triển qua từng tiết học. Tự mình tìm ra kiến thức giúp học sinh ghi nhớ lâu và hiểu bản chất sâu sắc hơn. Trải nghiệm thực hành biến kiến thức trừu tượng thành nhận thức sinh động.
3.2. Rèn luyện kỹ năng mô hình hóa các tình huống thực tiễn
Mô hình hóa toán học là cầu nối quan trọng giữa lý thuyết toán học và thế giới thực tiễn. Khi đối mặt với tình huống thực tế, học sinh phải dùng trực giác để đơn giản hóa vấn đề. Việc loại bỏ các yếu tố phụ giúp nhận diện cấu trúc toán học cốt lõi nhanh chóng. Học sinh chuyển đổi ngôn ngữ đời sống thành các phương trình, bất đẳng thức hoặc hình vẽ toán học. Trực giác định hướng việc lựa chọn mô hình phù hợp nhất để giải quyết bài toán đặt ra. Sau khi tìm ra nghiệm số, học sinh đánh giá lại tính hợp lý trong hoàn cảnh thực tế. Kỹ năng này rèn luyện tư duy thực tế và khả năng ứng biến linh hoạt. Đây là năng lực cốt lõi cho học sinh trong thời đại mới.
IV. Giá trị cốt lõi của trực giác toán học cho học sinh THPT
Phát triển trực giác toán học mang lại giá trị bền vững cho sự trưởng thành trí tuệ của học sinh. Năng lực này không chỉ phục vụ cho các kỳ thi hay điểm số trước mắt. Trực giác trang bị cho người học bản lĩnh tự tin khi đối diện các vấn đề chưa từng biết trước. Khả năng nhìn nhận tổng thể vấn đề giúp học sinh đưa ra quyết định nhanh chóng và chuẩn xác. Tư duy trực giác kết hợp với tư duy phản biện tạo nên phẩm chất của người nghiên cứu hiện đại. Năng lực toán học này mở rộng sang nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật và đời sống hàng ngày. Đây là hành trang quý báu cho học sinh trên con đường học tập và nghiên cứu tương lai.
4.1. Nâng cao năng lực giải quyết vấn đề toán học phức tạp
Các bài toán khó trong chương trình THPT thường đòi hỏi sự phối hợp nhiều đơn vị kiến thức. Việc áp dụng các công thức rập khuôn khó đem lại kết quả trong thời gian giới hạn. Trực giác toán học giúp học sinh định hình bức tranh tổng thể và tìm ra điểm đột phá. Học sinh nhận ra các mối liên hệ tiềm ẩn giữa đại số, giải tích và hình học không gian. Trực giác rút ngắn khoảng cách từ việc hiểu đề bài đến việc xác lập phương án giải. Sau khi có hướng đi trực giác, học sinh sử dụng lập luận logic để hoàn thiện lời giải trọn vẹn. Khả năng giải quyết các vấn đề phức tạp nhờ đó được nâng tầm rõ rệt. Học sinh sẵn sàng chinh phục các kỳ thi quan trọng.
4.2. Phát triển tư duy toàn diện và phẩm chất học sinh
Mục tiêu cao nhất của giáo dục là đào tạo những con người có tư duy toàn diện và phẩm chất tốt. Trực giác toán học nuôi dưỡng óc tò mò, trí tưởng tượng và niềm đam mê khám phá chân lý. Học sinh học được tính kiên trì khi theo đuổi những linh cảm toán học độc đáo. Quá trình kiểm chứng trực giác rèn luyện sự cẩn trọng, trung thực và tôn trọng sự thật khoa học. Học sinh không còn sợ hãi trước những bài toán lạ hay những thách thức mới. Thay vào đó, tinh thần dám nghĩ, dám thử thách được bồi đắp mạnh mẽ. Sự kết hợp giữa tư duy trực giác sắc bén và năng lực logic tạo nên nhân cách vững vàng. Học sinh tự tin bước vào môi trường đại học và hội nhập quốc tế.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (170 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI VÕ XUÂN MAI PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TRỰC GIÁC TOÁN HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC TOÁN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán Mã số: 9.11 LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Người hướng dẫn khoa học: 1. NGUYỄN PHƯƠNG CHI HÀ NỘI – 2020 luan an 1 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của GS. Đào Tam và TS. Nguyễn Phương Chi cùng sự giúp đỡ tận tình của nhiều nhà khoa học.
Tất cả số liệu và kết quả nghiên cứu được nêu trong luận án là trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác. Tác giả luận án Võ Xuân Mai luan an 2 MỞ ĐẦU 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1. Phát triển năng lực tư duy toán học là một trong những yêu cầu cần thiết trong dạy học Toán ở trường trung học phổ thông Một trong những định hướng của Nghị quyết Hội nghị lần thứ VIII, Ban chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế là “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện NL và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lí luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” [1], giáo dục theo định hướng phát triển NL cá nhân người học đã trở thành một mục tiêu thiết yếu của giáo dục Việt Nam trong giai đoạn đổi mới hiện nay. Trong bối cảnh đó, giáo dục môn Toán có sứ mệnh và ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển tư duy nói riêng và sự phát triển toàn diện của người học nói chung. Vì vậy, vai trò của người GV cũng có những thay đổi theo hướng đảm nhận nhiều chức năng, trách nhiệm hơn, GV phải chuyển từ cách truyền thụ tri thức sang cách tổ chức các HĐ cho HS chiếm lĩnh tri thức.
Qua những HĐ dạy học, người GV cần thông qua dạy tri thức để dạy cho người học cách phát hiện, ý tưởng đề xuất cách thức, giải pháp GQVĐ, dạy cách suy nghĩ, tư duy sáng tạo, rèn luyện khả năng giải thích, chứng minh, sử dụng các phương pháp lập luận để giải quyết các tình huống của đời sống thực tiễn giúp người học tự hình thành kiến thức thức, kĩ năng, phát triển năng lực và phẩm chất. Vấn đề phát triển tư duy cho HS đã trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng của dạy học môn Toán trong nhà trường. Theo Chương trình giáo dục phổ thông môn Toán của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2018 [2] đã xác định việc hình thành và phát triển NLTH cho HS là một trong những mục tiêu cần đạt qua dạy học môn Toán, mà trong đó có NL GQVĐ và NL tư duy, lập luận toán học. Đặc biệt, trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học phát triển NL nghề nghiệp GV Toán phổ thông Việt Nam của Hội giảng dạy Toán phổ thông và Chương trình phát triển Giáo dục trung học [4], tác giả Trần Kiều cho rằng các NL cần hình thành và phát triển cho người học qua dạy học môn Toán trong trường phổ thông gồm có NL tư duy toán học, NL GQVĐ, NL mô hình hóa toán học, NL giao tiếp, NL sử dụng các công cụ, phương tiện học toán và NL tự học toán.
Trong đó NL tư duy toán học và NL GQVĐ cần được chú trọng, chiếm ưu thế hơn luan an 3 so với các NL còn lại. Để phát triển NL tư duy toán học, ông cho rằng “đặc biệt cần lưu ý đến NL tư duy logic trong suy diễn, lập luận; đồng thời coi trọng tư duy phê phán, sáng tạo, cũng như các yếu tố dự đoán, tìm tòi, trực giác toán học, tưởng tượng không gian” [4, tr. Tác giả Nguyễn Bá Kim cũng nhấn mạnh “tác dụng phát triển tư duy của môn Toán không phải chỉ hạn chế ở sự rèn luyện tư duy logic mà còn ở sự phát triển khả năng suy đoán và tưởng tượng” [19, tr. Như vậy, trong quá trình dạy học Toán cùng với việc hình thành NL tư duy logic, khả năng lập luận rõ ràng cần chú trọng phát triển cho HS các NL trí tuệ, trí tưởng tượng, hình thành khả năng TGTH, khả năng tìm tòi, khám phá sáng tạo một cách cân đối, hài hòa với nhau giúp HS phát triển NL, phẩm chất một cách toàn diện.
Nhận định về vai trò của trực giác và tình hình nghiên cứu trong lĩnh vực liên quan đến trực giác Vấn đề về TG đã được nghiên cứu nhiều trên thế giới, hầu hết những tài liệu đều liên quan đến những cuộc tranh luận về ý nghĩa, vai trò đa dạng của TG, những biểu hiện đặc trưng cơ bản. Một số tác giả xem TG là nguồn gốc của đổi mới sáng tạo và là một bước đầu tiên và cần thiết cho giáo dục; có thể thấy qua các công trình của các tác giả: Wild (1938), Henri Poincaré (1958), Bruner (1960), Bunge (1962), Descartes và Spinoza (1967), Westcott (1968), Andrea DiSessa (1982). Một số nhà giáo dục cho rằng TG có thể đào tạo được và đã vận dụng TG vào quá trình giáo dục như Tall và Vinner (1980), Fischbein (1987), Tieszen (1989), Jagla (1994), Hogarth (2001), Giardino (2010), Young Hoan Cho và Seo Yon Hong (2015). Mặc dù trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về TG và TGTH, thế nhưng ở Việt Nam vấn đề này chỉ trình bày về khái niệm trong các tác phẩm về phát triển tư duy toán học cho HS của tác giả như Phạm Văn Hoàn, Nguyễn Gia Cốc, Trần Thúc Trình (1981), Nguyễn Văn Lộc (1997), Phạm Gia Đức và Phạm Đức Quang (2005), Nguyễn Phú Lộc (2014).
Cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ và hệ thống về TGTH, chưa làm sáng tỏ và bước đầu vận dụng TGTH vào trong thực tiễn dạy học ở trường THPT Việt Nam. TG có vai trò to lớn trong sáng tạo khoa học cũng như có ý nghĩa quan trọng trong dạy học Toán học. Nhà nghiên cứu người Pháp Edouard Le Roy từng nói “Nhà phát minh trước hết là một người giàu trực giác, một nhà thơ”, còn nhà toán học Henri Poincaré, người đầu tiên nêu lý thuyết về sáng tạo toán học, nhận định trong quá trình sáng tạo toán học của mình, ông cho rằng “Óc logic chỉ là cằn cỗi nếu không được tắm nhuần bằng trực giác”. Trong quá trình lịch sử, xuất hiện ngày càng nhiều những phát hiện thiên tài đột xuất, chính bản thân của các nhà thiên tài cũng công nhận TG đóng vai trò then chốt trong luan an 4 quá trình hình thành các phát minh khoa học.
Chẳng hạn, Albert Einstein từng nói “Tôi tin vào trực giác và cảm hứng. Trí tưởng tượng quan trọng hơn kiến thức. Đối với kiến thức còn hạn chế, trong khi trí tưởng tượng bao trùm toàn bộ thế giới, kích thích tiến bộ, khai sinh ra quá trình tiến hóa. Nói đúng ra, đó là một yếu tố thực trong nghiên cứu khoa học” [14].
Theo tác giả Koliagin, một trong những thành phần cơ bản của tư duy toán học là tư duy trực giác, ông cho rằng “TG là phương pháp đặc biệt của nhận thức, đặc trưng bởi việc tìm ra chân lý một cách trực tiếp, liên quan đến TG đó là những hiện tượng như việc giải quyết vấn đề một cách bất ngờ, chớp nhoáng, không tuân thủ theo các yêu cầu logic của bài toán, kết quả tìm được bằng phương pháp này rất nhanh chóng” [80]. Trong dạy học, nếu quan tâm đến việc hình thành và phát triển TDTG cho người học có thể giúp họ biết đưa ra những phán đoán đột phá về chiến lược giải quyết cho những vấn đề không quen thuộc, tạo điều kiện cho người học biết cách phát hiện và giải quyết vấn đề, cách suy nghĩ, tư duy sáng tạo, rèn luyện khả năng giải quyết các tình huống của đời sống thực tiễn. Thực trạng dạy học Toán ở trường trung học phổ thông còn chú trọng dạy những kiến thức mang tính quy trình, chưa quan tâm đến việc dạy học theo hướng phát triển năng lực trực giác toán học cho học sinh Trong dạy học Toán ở trường THPT hiện nay, khi HS phải đối mặt với một bài toán mới hay một tình huống không quen thuộc, GV thường dành nhiều thời gian để trang bị cho HS những kiến thức mang tính quy trình, phần lớn các em có ít cơ hội được nỗ lực tư duy, khám phá để tự tìm tòi con đường GQVĐ. Điều này dẫn đến nhiều HS có thái độ ỷ lại, trông chờ vào kiến thức GV cung cấp, HS chỉ học những kiến thức một cách hình thức, rập khuôn, chủ yếu sử dụng kiến thức đó để giải các bài toán cùng dạng, mà không biết hoặc ít vận dụng được kiến thức toán học vào GQVĐ trong cuộc sống thực tiễn.
Hơn nữa, những giờ học như vậy thật sự cũng chưa gợi được động cơ học tập, tạo niềm tin, gây hứng thú, và thái độ học tập tích cực với các em. Mặt khác, trong dạy học Toán, hầu hết cách dạy của GV và cách trình bày của phần lớn nội dung trong sách giáo khoa cho HS thấy rằng toán học chỉ có các chứng minh, suy luận diễn dịch và bài tập vận dụng. Các định lí, quy tắc, hệ quả và chứng minh của chúng thường được giới thiệu, trình bày như là các sản phẩm có sẵn. Tuy nhiên, cần chú ý rằng Toán học có thể xét theo hai phương diện.
“Nếu chỉ trình bày lại những kết quả đã đạt thì Toán học là khoa học chặt chẽ với phương pháp suy diễn và tính logic nổi bật, còn nếu nhìn Toán học trong quá trình hình thành và phát triển thì phương pháp của nó vẫn có tìm tòi , suy đoán, quy nạp” [19]. Vì vậy, các tác giả Phạm Gia Đức và Phạm Đức Quang đã đề cập việc “nhấn mạnh quá đáng sẽ đi chệch khỏi con đường đúng đắn nếu coi luan an 5 những yếu tố kiến thiết, phương pháp quy nạp, trực giác, tưởng tượng cũng như quá trình tư duy tiền logic chỉ đóng vai trò thứ yếu”, “Phép suy diễn cần được bổ sung bằng trực quan, khát vọng KQH; cần được hạn chế và cân bằng nhờ trân trọng đến cái riêng” [15, tr.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Võ Xuân Mai (2020). Phát triển trực giác toán học cho học sinh THPT [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội]. LuanAn.net. https://luanan.net/giao-duc-hoc/phuong-phap-giang-day/phat-trien-truc-giac-toan-hoc-hoc-sinh-thpt
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Phát triển trực giác toán học cho học sinh THPT" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án: Phát triển năng lực trực giác toán học cho học sinh THPT trong dạy học toán. Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả học tập.
Luận án "Phát triển trực giác toán học cho học sinh THPT" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Năm bảo vệ: 2020.
Luận án "Phát triển trực giác toán học cho học sinh THPT" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Phát triển trực giác toán học cho học sinh THPT" thuộc chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán. Danh mục: Phương Pháp Giảng Dạy.
Luận án "Phát triển trực giác toán học cho học sinh THPT" có bao nhiêu trang?
Luận án "Phát triển trực giác toán học cho học sinh THPT" có 170 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Phát triển trực giác toán học cho học sinh THPT" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.