Luận án tham gia chuỗi cung ứng CNTT toàn cầu - Kinh nghiệm từ Đài Loan

Luận án nghiên cứu chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT, kinh nghiệm từ Đài Loan, phân tích mô hình và đề xuất cải tiến hiệu quả.

Tác giả

Luan An

Thể loại

luận án

Số trang

158

Thời gian đọc

24 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt của tác giả

Trích nguyên văn từ luận án

của đề tài nghiên cứu Công nghệ thông tin (CNTT) là ngành mũi nhọn hiện nay ở Việt Nam, chiếm tới 28,9% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước năm 2017 và đưa Việt Nam trở thành nước lớn thứ 14 trên thế giới về xuất khẩu sản phẩm điện từ lớn thứ 12 trên thế giới kể từ năm 2015 và lớn thứ 3 trong ASEAN. Tuy nhiên, 95% kim ngạch xuất khẩu của ngành CNTT Việt Nam đang thuộc về khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Doanh ngiệp trong nước chỉ chủ yếu dừng ở khâu gia công, lắp ráp. Sức lan toả và mối liên kết giữa doanh nghiệp ngành CNTT trong nước với các doanh nghiệp FDI còn rất yếu và vai trò của các doanh nghiệp trong nước thực sự mờ nhạt, kể cả các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghiệp phụ trợ cho ngành. Sự phụ thuộc rất lớn vào vốn và công nghệ nước ngoài đã khiến ngành CNTT Việt Nam sau nhiều năm phát triển vẫn tiếp tục như một “đứa trẻ chưa chịu lớn”, tiếp tục lệ thuộc vào các doanh nghiệp nước ngoài lớn như Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia, Singapore, từ khâu cung cấp kinh kiện đến các khâu có giá trị gia tăng khác. Mặc dù đang trở thành một trung tâm lắp ráp các sản phẩm CNTT trong khu vực Châu Á, nhưng Việt Nam vẫn chưa thể tiếp tục nâng cấp vị trí của mình trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Điều này đặt ra một câu hỏi lớn: Việt Nam đang đứng ở đâu trong chuỗi cung ứng CNTT toàn cầu và làm cách nào để cải thiện vị trí của mình trong chuỗi cung ứng? Ở

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
Vị thế Việt Nam trong chuỗi cung ứng CNTT toàn cầu hiện nay
Số trang:
158 trang
Chuyên ngành:
Công nghệ thông tin
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I.Vị thế Việt Nam trong chuỗi cung ứng CNTT toàn cầu hiện nay

Việt Nam là cường quốc xuất khẩu sản phẩm điện tử. Ngành CNTT đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu quốc gia. Tuy nhiên, tình hình không đồng đều. Doanh nghiệp FDI chiếm ưu thế tuyệt đối. Doanh nghiệp trong nước gặp nhiều thách thức. Vị thế của Việt Nam trong chuỗi cung ứng CNTT toàn cầu cần được đánh giá lại. Nhu cầu nâng cấp chuỗi giá trị là cấp thiết.

1.1. Thực trạng ngành CNTT Việt Nam Phụ thuộc FDI

95% kim ngạch xuất khẩu CNTT thuộc khối FDI. Điều này tạo ra sự phụ thuộc lớn. Vốn và công nghệ nước ngoài là trụ cột chính. Việt Nam trở thành trung tâm lắp ráp sản phẩm CNTT khu vực. Tuy nhiên, giá trị gia tăng nội địa còn thấp.

1.2. Hạn chế doanh nghiệp trong nước Gia công lắp ráp

Doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu dừng ở khâu gia công, lắp ráp. Mối liên kết với doanh nghiệp FDI yếu. Vai trò của họ mờ nhạt. Công nghiệp phụ trợ cũng chưa phát triển mạnh mẽ. Ngành vẫn chưa "trưởng thành" độc lập.

1.3. Nhu cầu nâng cấp chuỗi giá trị toàn cầu

Việt Nam cần cải thiện vị trí trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Chuỗi giá trị toàn cầu đòi hỏi sự chủ động hơn. Làm chủ công nghệ là yếu tố then chốt. Bài học từ các quốc gia đi trước rất quan trọng. Kinh nghiệm Đài Loan là một ví dụ điển hình.

II.Đài Loan Kinh nghiệm thành công chuỗi cung ứng CNTT toàn cầu

Đài Loan là trường hợp điển hình tham gia thành công vào chuỗi cung ứng CNTT toàn cầu. Quốc gia này đã chuyển đổi mạnh mẽ. Từ một trung tâm gia công, Đài Loan trở thành người khổng lồ công nghệ. Kinh nghiệm Đài Loan cung cấp nhiều bài học giá trị.

2.1. Đài Loan Từ gia công tới gã khổng lồ công nghệ cao

Đài Loan từng là "phân xưởng" cho các tập đoàn quốc tế. Hiện tại, quốc gia này sản xuất điện thoại thông minh và máy tính bảng hàng đầu. Đài Loan dẫn đầu nhiều mạng sản xuất toàn cầu. Đây là bước tiến vượt bậc trong chuỗi giá trị toàn cầu.

2.2. Điều kiện tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu hiệu quả

Đài Loan hội tụ đủ điều kiện cần thiết. Các giai đoạn phát triển đều được hoạch định rõ ràng. Từ lắp ráp sản phẩm đến cung ứng linh kiện nội địa. Điều này chứng tỏ chiến lược công nghiệp Đài Loan hiệu quả.

2.3. Các thương hiệu công nghệ cao Đài Loan nổi bật

Các tên tuổi như Quanta, Compal, Honhai, Inventec, Petatron, Wistron, Acer, Asus, HTC đều của Đài Loan. Những thương hiệu này khẳng định công nghệ cao Đài Loan. Vai trò Đài Loan trong chuỗi cung ứng được củng cố.

III.Chặng đường phát triển công nghiệp bán dẫn Đài Loan

Công nghiệp bán dẫn Đài Loan là xương sống cho sự phát triển. Quốc gia này đã thực hiện chuyển đổi chiến lược. Từ sản phẩm đơn giản sang sản phẩm phức tạp, công nghệ cao Đài Loan ngày càng được khẳng định.

3.1. Sự dịch chuyển trong sản xuất điện tử Đài Loan

Ban đầu, Đài Loan tập trung vào lắp ráp. Sau đó, chuyển sang sản xuất linh kiện. Sự dịch chuyển này rất quan trọng. Đây là tiền đề cho sản xuất điện tử Đài Loan vươn lên.

3.2. Từ linh kiện tiêu dùng đến sản phẩm công nghệ cao

Quá trình nâng cấp diễn ra liên tục. Từ linh kiện điện tử tiêu dùng, Đài Loan tiến lên sản phẩm hàng đầu thế giới. Chất bán dẫn, sợi quang, máy tính xách tay là những ví dụ. Chuỗi giá trị toàn cầu được tăng cường.

3.3. Vai trò Đài Loan trong chuỗi cung ứng chất bán dẫn

Đài Loan hiện giữ vai trò then chốt. Công nghiệp bán dẫn Đài Loan là động lực toàn cầu. Quốc gia này không chỉ sản xuất mà còn đổi mới công nghệ. Điều này củng cố khả năng phục hồi chuỗi cung ứng toàn cầu.

IV.Chiến lược công nghiệp Đài Loan nâng cấp chuỗi giá trị

Chiến lược công nghiệp Đài Loan là yếu tố quyết định. Các chính sách và biện pháp phù hợp đã được triển khai. Mục tiêu là nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

4.1. Chính sách và biện pháp chủ yếu của Đài Loan

Đài Loan đã áp dụng nhiều chính sách hỗ trợ. Đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D) là trọng tâm. Khuyến khích đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp. Môi trường kinh doanh được tạo thuận lợi.

4.2. Từ OEM ODM Đài Loan tới chuỗi cung ứng linh kiện

Ban đầu, OEM/ODM Đài Loan là mô hình chủ đạo. Các doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng. Sau đó, họ chuyển sang tự sản xuất linh kiện. Đây là bước quan trọng để kiểm soát chuỗi cung ứng CNTT toàn cầu.

4.3. Thúc đẩy công nghệ cao Đài Loan và R D nội địa

Đài Loan đầu tư mạnh vào công nghệ cao Đài Loan. Chính phủ hỗ trợ các dự án R&D. Mục tiêu là tạo ra sản phẩm độc quyền. Giảm sự phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài.

V.Vai trò Đài Loan trong chuỗi cung ứng toàn cầu Thành tựu

Vai trò Đài Loan trong chuỗi cung ứng toàn cầu rất đáng kể. Quốc gia này đã đạt được nhiều thành tựu lớn. Vị thế vững chắc được xây dựng thông qua nỗ lực liên tục.

5.1. Vị trí dẫn đầu trong các mạng sản xuất toàn cầu

Đài Loan đứng đầu một số mạng sản xuất toàn cầu. Sản xuất điện tử Đài Loan được công nhận trên thế giới. Đây là kết quả của chiến lược tập trung.

5.2. Công nghiệp bán dẫn Đài Loan Giá trị gia tăng

Công nghiệp bán dẫn Đài Loan mang lại giá trị gia tăng cao. Các công ty bán dẫn là trụ cột kinh tế. Họ không chỉ sản xuất mà còn đổi mới công nghệ. Chuỗi giá trị toàn cầu được tối ưu hóa.

5.3. Hạn chế còn tồn tại trong chuỗi giá trị toàn cầu

Đài Loan vẫn đối mặt với thách thức. Hầu hết doanh nghiệp là đối tác nhỏ. Họ sản xuất theo đơn đặt hàng. Vẫn chưa tiến tới khâu cuối cùng của chuỗi cung ứng toàn cầu một cách hiệu quả.

VI.Bài học cho Việt Nam từ kinh nghiệm Đài Loan phát triển

Kinh nghiệm Đài Loan cung cấp bài học quý giá cho Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam cần học hỏi. Mục tiêu là tham gia hiệu quả vào chuỗi cung ứng CNTT toàn cầu.

6.1. Làm chủ công nghệ và tự chủ sản xuất

Việt Nam cần tập trung làm chủ công nghệ. Không thể mãi phụ thuộc công nghệ nước ngoài. Đầu tư vào nghiên cứu và phát triển là bắt buộc. Điều này giúp nâng cao khả năng phục hồi chuỗi cung ứng.

6.2. Cải thiện vị thế trong chuỗi cung ứng CNTT

Việt Nam cần chuyển từ gia công sang các khâu giá trị cao hơn. Tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và FDI. Phát triển công nghiệp bán dẫn Đài Loan không thể sao chép, nhưng mô hình chuyển đổi thì có thể.

6.3. Nâng cao năng lực doanh nghiệp và chuỗi giá trị

Doanh nghiệp Việt Nam phải nâng cao năng lực cạnh tranh. Xây dựng thương hiệu và sở hữu trí tuệ. Đây là cách để nâng cấp vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu. Chiến lược công nghiệp Đài Loan cho thấy tầm nhìn dài hạn.

Mục lục chi tiết luận án

MỞ ĐẦU
1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU NGÀNH CNTT ĐÀI LOAN
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.1.1. Thứ nhất, nghiên cứu đến các vấn đề lý thuyết về chuỗi cung ứng toàn cầu và đặc điểm của chuỗi
1.1.2. Các nhà nghiên cứu nước ngoài cũng có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này
2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC THAM GIA CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU NGÀNH CNTT
3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN THAM GIA CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU NGÀNH CNTT ĐÀI LOAN
4. CHƯƠNG 4: TRIỂN VỌNG THAM GIA CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU NGÀNH CNTT VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành công nghệ thông tin kinh nghiệm của đài loan

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (158 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Công nghệ thông tin (CNTT) là ngành mũi nhọn hiện nay ở Việt Nam, chiếm tới 28,9% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước năm 2017 và đưa Việt Nam trở thành nước lớn thứ 14 trên thế giới về xuất khẩu sản phẩm điện từ lớn thứ 12 trên thế giới kể từ năm 2015 và lớn thứ 3 trong ASEAN. Tuy nhiên, 95% kim ngạch xuất khẩu của ngành CNTT Việt Nam đang thuộc về khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Doanh ngiệp trong nước chỉ chủ yếu dừng ở khâu gia công, lắp ráp. Sức lan toả và mối liên kết giữa doanh nghiệp ngành CNTT trong nước với các doanh nghiệp FDI còn rất yếu và vai trò của các doanh nghiệp trong nước thực sự mờ nhạt, kể cả các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghiệp phụ trợ cho ngành.

Sự phụ thuộc rất lớn vào vốn và công nghệ nước ngoài đã khiến ngành CNTT Việt Nam sau nhiều năm phát triển vẫn tiếp tục như một “đứa trẻ chưa chịu lớn”, tiếp tục lệ thuộc vào các doanh nghiệp nước ngoài lớn như Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia, Singapore, từ khâu cung cấp kinh kiện đến các khâu có giá trị gia tăng khác. Mặc dù đang trở thành một trung tâm lắp ráp các sản phẩm CNTT trong khu vực Châu Á, nhưng Việt Nam vẫn chưa thể tiếp tục nâng cấp vị trí của mình trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Điều này đặt ra một câu hỏi lớn: Việt Nam đang đứng ở đâu trong chuỗi cung ứng CNTT toàn cầu và làm cách nào để cải thiện vị trí của mình trong chuỗi cung ứng? Ở khu vực châu Á, Đài Loan là một trường hợp điển hình của việc tham gia thành công trong chuỗi cung ứng ngành CNTT toàn cầu. Với các thương hiệu nổi tiếng của ngành CNTT như Quanta, Compal, Honhai, Inventec, Petatron, Wistron, Acer, Asus, HTC… Đài Loan đang nỗ lực trở thành người khổng lồ công nghệ cao trên thế giới, thay đổi hình ảnh từ một phân xưởng chuyên gia công cho các tập đoàn CNTT quốc tế, thành một trong những quốc gia sản xuất điện thoại thông minh và máy tính bảng hàng đầu thế giới, đứng đầu một số mạng sản xuất toàn cầu ngành CNTT.

Để tham gia hiệu quả vào chuỗi cung ứng ngành CNTT toàn cầu, Đài Loan đã hội tụ đủ các điều kiện cần thiết trong từng giai đoạn phát triển, từ công đoạn cung 10 ứng các sản phẩm lắp ráp, sang công đoạn cung ứng các linh kiện được sản xuất trong nước, từ công đoạn cung ứng các linh kiện điện tử tiêu dùng sang các sản phẩm công nghệ cao hàng đầu thế giới với các sản phẩm như chất bán dẫn, sợi quang, máy tính xách tay, máy tính bảng… Tuy nhiên, trong quá trình tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, Đài Loan vẫn gặp phải nhiều hạn chế, đặc biệt là vẫn chưa tiến tới được khâu cuối cùng của chuỗi cung ứng một cách hiệu quả và bền vững. Hầu hết các doanh nghiệp Đài Loan mới chỉ là những đối tác nhỏ trong chuỗi cung ứng CNTT của thế giới và chỉ sản xuất những thứ do các doanh nghiệp khác đặt hàng, mặc dù đã có nhiều doanh nghiệp Đài Loan có thương hiệu và tên tuổi. Là một nước đi sau, Việt Nam cần thiết học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia và các nền kinh tế đi trước, trong đó có Đài Loan. Các doanh nghiệp Việt Nam với xuất phát điểm thấp, chưa có nhiều kinh nghiệm tham gia nhiều vào chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT, nên rất khó khăn trong việc làm chủ công nghệ và cải thiện vị trí của mình trong chuỗi cung ứng.

Thông qua kinh nghiệm của Đài Loan, Việt Nam có thể rút ra những bài học cụ thể, thiết thực để tham gia hiệu quả hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT. Do vậy, việc nghiên cứu đề tài "Tham gia chuỗi cung ứng toàn c̀u ngành công nghệ thông tin: Kinh nghiệm của Đài Loan" là mang tính cấp thiết và có giá trị khoa học và thực tiễn. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án Mục đích của nghiên cứu này là làm sáng tỏ cách thức mà Đài Loan đã thực hiện để tham gia thành công vào các chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận án triển khai một số nhiệm vụ nghiên cứu sau: + Hệ thống hoá và làm rõ luận cứ khoa học về chuỗi cung ứng toàn cầu, các điều kiện cần và đủ để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành CNTT.

+ Phân tích các đặc điểm, chính sách, công cụ để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành CNTT. 11 + Phân tích, đánh giá quá trình tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành CNTT Đài Loan; những chính sách biện pháp chủ yếu giúp ngành CNTT Đài Loan tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. + Nghiên cứu những thành tựu và hạn chế của ngành CNTT Đài Loan khi tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. + Rút ra bài học và kiến nghị chính sách cho Việt Nam.

Để đáp ứng được các mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận án cần trả lời được một số câu hỏi nghiên cứu chủ yếu sau: 1) Chuỗi cung ứng toàn cầu có đặc điểm gì? Câu hỏi này cần được xem xét dưới góc độ chuỗi cung ứng toàn cầu có đặc điểm và cơ chế hoạt động ra sao để các nước đang phát triển có thể tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. 2) Làm thế nào để tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu? Câu hỏi này cần được xem xét dưới góc độ các nước muốn tham gia cần có những điều kiện cần và đủ nào, dùng chính sách và biện pháp nào để tham gia và nâng cấp vị trí trong chuỗi cung ứng toàn cầu. 3) Đài Loan đã tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu trong ngành CNTT bằng cách nào và đã đạt được những thành công và hạn chế gì? Câu hỏi này được xem xét dưới góc độ Đài Loan đã thực hiện các biện pháp, chính sách như thế nào để ngành CNTT tham gia và nâng cấp vị trí trong chuỗi cung ứng toàn cầu. 4) Việt Nam học tập được gì từ kinh nghiệm Đài Loan trong việc tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT? Câu hỏi này được xem xét dưới góc độ các bài học kinh nghiệm từ phát triển ngành CNTT Đài Loan và từ quá trình tham gia chuỗi, nâng cấp vị trí chuỗi của ngành CNTT Đài Loan.

5) Có gợi ý chính sách gì cho Việt Nam thay đổi vị trí chuỗi cung ứng toàn cầu trong ngành CNTT? Câu hỏi này được xem xét dưới góc độ kiến nghị chính sách cho Việt Nam sau khi nghiên cứu kinh nghiệm tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành CNTT Đài Loan. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án - Đối tượng nghiên cứu của luận án này là ngành CNTT phần cứng của Đài 12 Loan trong quá trình tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Ngành công nghiệp CNTT bao gồm: CNTT phần cứng, CNTT phần mềm và quản lý số. Tuy nhiên, do tài liệu nước ngoài về CNTT Đài Loan hạn chế, khó đo đếm giá trị và các phân đoạn của chuỗi cung ứng; hơn nữa hàng hoá CNTT phần mềm là một loại hàng hoá đặc biệt, có các đặc điểm và cấu trúc, chủ thể tham gia chuỗi giá trị khác biệt hoàn toàn với hàng hoá CNTT phần cứng, nên tác giả luận án xin phép chỉ dừng lại đối tượng nghiên cứu là CNTT phần cứng của Đài Loan.

- Phạm vi nghiên cứu: + Thời gian: từ thập niên 1980 đến nay + Không gian: chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT ở Đài Loan, bao gồm: công nghiệp phần cứng, phần mềm, các dịch vụ khác. + Nội dung: Các điều kiện cần và đủ để Đài Loan tham gia chuỗi cung ứng, quá trình tham gia chuỗi cung ứng, cách thức tham gia, biện pháp chính quyền Đài Loan thực hiện để tham gia chuỗi cung ứng ngành CNTT, kết quả đạt được, bài học cho Việt Nam. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 4. Phương pháp luận: Xuất phát từ phần lý thuyết chuỗi cung ứng toàn cầu và cơ chế hoạt động của chuỗi cung ứng toàn cầu, đề tài sẽ chỉ ra cách thức tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu có thể có về mặt lý thuyết.

Áp dụng khung phân tích đó, đề tài sẽ tìm Đài Loan đã tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu trong ngành CNTT từ khâu nào, sự nâng cấp trong chuỗi cung ứng qua từng giai đoạn và giải thích nguyên nhân dẫn đến sự nâng cấp đó. Từ thực tiễn tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu trong ngành CNTT của Đài Loan, đề tài sẽ đánh giá triển vọng của ngành trong chuỗi cung ứng toàn cầu trong tương lai. Phương pháp nghiên cứu: - Phương pháp phân tích hệ thống: Luận án sẽ sử dụng phương pháp này để phân tích sự hình thành và phát triển của chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT của Đài Loan từ thập niên 1980 đến nay để làm rõ những chính sách, đặc trưng phát triển 13 của chuỗi trong từng giai đoạn, từng ngành, tạo cơ sở cho việc rút ra bài học và khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam. - Phương pháp phân tích tổng hợp: Luận án thu thập các công trình nghiên cứu có liên quan đến việc tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT Đài Loan để phân tích, đánh giá, từ đó thấy được những thiếu hụt và khoảng trống trong những công trình nghiên cứu trước đó, từ đó tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện.

- Phương pháp so sánh: Luận án sử dụng phương pháp so sánh giữa các tiểu ngành, các lĩnh vực, các giai đoạn trong phát triển chuỗi cung ứng ngành CNTT của Đài Loan. Đồng thời, luận án cũng sử dụng phương pháp so sánh để đối chiếu hiệu quả tham gia chuỗi cung ứng ngành CNTT của Đài Loan với các nước trong khu vực và trên thế giới nhằm làm rõ vai trò và vị trí của Đài Loan trong chuỗi cung ứng CNTT toàn cầu. - Phương pháp chuyên gia: Luận án sẽ tiến hành tìm hiểu và lấy ý kiến của một số chuyên gia Việt Nam chuyên nghiên cứu thương mại, xuất khẩu hàng hoá CNTT, các chuyên gia nghiên cứu về kinh tế Đài Loan, Trung Quốc để tìm hiểu các bài học kinh nghiệm có thể rút ra cho Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Tham gia chuỗi cung ứng CNTT toàn cầu: Kinh nghiệm Đài Loan (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/cong-nghe-thong-tin/tham-gia-chuoi-cung-ung-cong-nghe-thong-tin-kinh-nghiem-dai-loan

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Tham gia chuỗi cung ứng CNTT toàn cầu: Kinh nghiệm Đài Loan" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án nghiên cứu chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT, kinh nghiệm từ Đài Loan, phân tích mô hình và đề xuất cải tiến hiệu quả.

Luận án "Tham gia chuỗi cung ứng CNTT toàn cầu: Kinh nghiệm Đài Loan" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Tham gia chuỗi cung ứng CNTT toàn cầu: Kinh nghiệm Đài Loan" thuộc chuyên ngành Công nghệ thông tin. Danh mục: Công Nghệ Thông Tin.

Luận án "Tham gia chuỗi cung ứng CNTT toàn cầu: Kinh nghiệm Đài Loan" có bao nhiêu trang?

Luận án "Tham gia chuỗi cung ứng CNTT toàn cầu: Kinh nghiệm Đài Loan" có 158 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Tham gia chuỗi cung ứng CNTT toàn cầu: Kinh nghiệm Đài Loan" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter