Tổng quan về luận án

Luận án Tiến sĩ Âm nhạc học với đề tài "Hát Trống quân" (Mã số chuyên ngành: 62 21 02 01) do Nghiên cứu sinh Phạm Minh Hương thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thụy Loan tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam (bảo vệ năm 2018), là công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện và chuyên sâu đầu tiên về thể loại Hát Trống quân của người Việt ở Bắc Bộ dưới lăng kính âm nhạc học thuần túy kết hợp dân tộc nhạc học (Ethnomusicology).

Trong bối cảnh biến đổi văn hóa - xã hội sâu sắc cùng sự mai một của các hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian truyền thống, Hát Trống quân từng đối mặt với nguy cơ biến dạng hoặc thất truyền cấu trúc âm nhạc nguyên bản. Dù đã có nhiều bài viết sưu tầm, ghi chép văn học dân gian, khoảng trống nghiên cứu cốt lõi (research gap) nằm ở việc thiếu vắng một công trình phân tích hình thái học âm nhạc (morphological musicology) có khả năng xác lập các đặc trưng âm nhạc chung, phân lập phong cách âm nhạc địa phương, và giải mã mối quan hệ tương hỗ giữa thanh điệu ngôn ngữ tiếng Việt với tiến trình giai điệu của các làn điệu Trống quân.

Luận án xác lập ba câu hỏi nghiên cứu (Research Questions - RQ) và các giả thuyết tương ứng:

  1. RQ1: Diện mạo tổng thể của Hát Trống quân được cấu thành từ những mục đích diễn xướng và hệ thống bài bản nào trong đời sống văn hóa cộng đồng người Việt?
    • Giả thuyết 1: Hát Trống quân không chỉ tồn tại dưới dạng thức giao duyên, vui chơi giải trí mà còn tồn tại một phân nhánh độc lập mang chức năng nghi lễ - tín ngưỡng với các thuộc tính âm nhạc riêng biệt.
  2. RQ2: Những đặc trưng bản thể về thang âm, âm vực, cấu trúc - hình thức và mối quan hệ giữa giai điệu và ca từ của Hát Trống quân là gì?
    • Giả thuyết 2: Đường nét giai điệu Hát Trống quân được định hình bởi các nhóm cao độ nòng cốt tương ứng chặt chẽ với hệ thống thanh điệu tiếng Việt và mô hình tiết tấu lời ca độc lập.
  3. RQ3: Không gian âm nhạc Hát Trống quân ở Bắc Bộ có sự phân hóa địa phương như thế nào và dựa trên những tiêu chí âm nhạc học nào để định vị?
    • Giả thuyết 3: Tồn tại sự phân vùng âm nhạc rõ rệt giữa Hát Trống quân vùng Đất Tổ (Phú Thọ, Vĩnh Phúc) và vùng đồng bằng Bắc Bộ (Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nội/Hà Tây cũ, Bắc Ninh), trong đó đồng bằng Bắc Bộ tiếp tục phân hóa thành hai tiểu vùng âm nhạc đặc thù.

Khung lý thuyết của luận án tích hợp:

  • Lý thuyết phân tầng cấu trúc âm nhạc cổ truyền (Vĩ mô, Trung bình, Vi mô và Cấu trúc cơ sở) của PGS.TS Nguyễn Thụy Loan;
  • Lý thuyết thang âm - điệu thức âm nhạc truyền thống của PGS. Tô Vũ và quan điểm âm nhạc học quốc tế (The New Grove Dictionary of Music and Musicians);
  • Phương pháp luận dân tộc nhạc học của GS.TS Tô Ngọc Thanh và PGS. Tú Ngọc.

Phạm vi nghiên cứu bao quát nguồn tư liệu điền dã thực địa tại 5 tỉnh/thành phố trọng điểm (Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hưng Yên, Hà Tây/Hà Nội, Hải Dương) kết hợp khai thác tư liệu âm thanh lưu trữ lịch sử tại Viện Âm nhạc thuộc 3 địa phương bổ sung (Hải Phòng, Ninh Bình, Bắc Ninh), phân tích chi tiết 74 ví dụ âm nhạc và 11 bảng biểu đối sánh định lượng, tạo ra bước đột phá về dữ liệu học thuật cho ngành Dân tộc nhạc học Việt Nam.


Literature Review và Positioning

Tiến trình nghiên cứu Hát Trống quân trong lịch sử được luận án tổng thuật và phân kỳ thành 3 giai đoạn then chốt dựa trên tổng phổ 45 tài liệu văn bản giấy (tiếp cận trực tiếp 33 tài liệu, tiếp cận gián tiếp 12 tài liệu):

                        TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU HÁT TRỐNG QUÂN (45 TÀI LIỆU)
                                                │
         ┌──────────────────────────────┼──────────────────────────────┐
         ▼                              ▼                              ▼
Giai đoạn trước 1950           Giai đoạn 1950 - trước 1980     Giai đoạn 1980 đến nay
(12/45 tài liệu ~ 26.7%)       (10/45 tài liệu ~ 22.2%)        (23/45 tài liệu ~ 51.1%)
- Khảo tả sơ lược thực dân     - Mở rộng góc nhìn nội sinh     - Nở rộ chuyên khảo âm nhạc
- A. Chéon (1889)              - Lê Văn Hảo (1963)             - Nguyễn Hữu Thu (1980-1991)
- H. Dumoutier (1890)          - Trần Văn Khê (1958)           - Tú Ngọc (1983, 1994)
- Nguyễn Văn Huyên (1934)      - Vũ Ngọc Phan (1957, 1977)     - Đề tài Bộ VHTTDL (2009)

1. Giai đoạn trước năm 1950 (12/45 tài liệu, chiếm 26.7%)

Các công trình phương Tây của A. Chéon (Notes sur l’origine des chants Annamites, 1889), H. Dumoutier (Les chants et les traditions des Annamites, 1890), Nordemann (Chrestomathie Annamite, 1914) hay G. Cordier (1920) tiếp cận Hát Trống quân như một "sự lạ" dân tộc học ngoại vi. Tài liệu kinh điển của học giả Nguyễn Văn Huyên (Les chants alternés des garçons et des filles en Annam, Paris, 1934) xem Trống quân như một dữ liệu dân tộc học, phong tục học và ngôn ngữ học xã hội, song dung lượng trực tiếp chỉ chiếm 3/149 trang (tương đương 2% công trình) và chủ yếu dừng lại ở việc mô tả cơ học nhạc cụ trống đất.

2. Giai đoạn 1950 đến trước năm 1980 (10/45 tài liệu, chiếm 22.2%)

Giai đoạn này ghi nhận sự tham gia của các học giả Việt Nam như Phạm Duy (1952), Trần Văn Khê (1958), Vũ Ngọc Phan (1957, 1977), Thân Đức Thu (1977). Đáng chú ý, Lê Văn Hảo (Sơ khảo về hát Trống quân, dân ca Bắc Việt, 1963) đã phác thảo diện mạo văn hóa, kết nối Trống quân với nguồn gốc cổ xưa qua nhạc cụ trống đất và tục Hát trông giăng/thưởng giăng thời nguyên thủy.

3. Giai đoạn từ năm 1980 đến nay (23/45 tài liệu, chiếm 51.1%)

Các công trình bắt đầu đi sâu vào từng thành tố chuyên biệt. Tiêu biểu là chuỗi nghiên cứu của Nguyễn Hữu Thu (1980, 1983, 1987, 1991) về tư duy Việt cổ từ nhạc khí trống quân, thang âm và lề lối; nghiên cứu của Tú Ngọc (1983, 1994, 1997) về bài hát giao duyên và phong tục; Bùi Trọng Hiền (1999) về Trống quân Dạ Trạch; Đề tài cấp Bộ do Lê Văn Toàn chủ nhiệm (2009); và chuyên khảo cấp cơ sở của Phạm Minh Hương (2004) về Trống quân Đức Bác.

Định vị học thuật và các cuộc tranh luận lý thuyết

Luận án chỉ ra ba luồng quan điểm đối lập sâu sắc về nguồn gốc thể loại:

  • Luồng 1 (Điển tích văn học Trung Hoa): G. Cordier và một số nhà nho cho rằng "Trống quân" bắt nguồn từ "Tống quân" (tiễn bạn); hoặc do thi phẩm Nguyệt xuất trong Kinh Thi ảnh hưởng sang.
  • Luồng 2 (Nguồn gốc quân sự/lịch sử): Phan Kế Bính (Việt Nam phong tục) và Phạm Duy cho rằng thể loại phát sinh từ thời vua Quang Trung đánh giặc Thanh cuối thế kỷ XVIII hoặc thời Trần Hưng Đạo đánh quân Nguyên (Vũ Ngọc Phan).
  • Luồng 3 (Cội nguồn văn hóa nông nghiệp bản địa cổ sơ): Lê Văn Hảo và Nguyễn Hữu Thu khẳng định Hát Trống quân gắn liền với nghi thức phồn thực cầu mưa, thờ mặt trăng của nền văn minh lúa nước sông Hồng thời Tiền Mã-lai / Đông Sơn.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế về nhạc cụ dây - hố đất như trống đất tại Madagascar hay các tộc người tại Đông Nam Á lục địa và hải đảo, luận án định vị Hát Trống quân là một thể loại dân ca diễn xướng nghi lễ - giao duyên đặc thù của người Việt, xác lập chỗ đứng bằng việc phân tích cấu trúc âm nhạc nội tại thay vì chỉ dừng lại ở suy đoán dân tộc học thuần túy.


Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng và kiểm chứng thực nghiệm các mô hình lý thuyết âm nhạc học truyền thống:

  • Thực chứng lý thuyết phân tầng cấu trúc của PGS.TS Nguyễn Thụy Loan: Luận án áp dụng thành công hệ thống khái niệm gồm cấu trúc vĩ mô (toàn thể tác phẩm), cấu trúc trung bình (các chặng/bộ phận lớn), cấu trúc vi mô (câu, vế, tiết nhạc) và cấu trúc cơ sở (trổ hát/đoạn đơn) vào việc giải mã toàn diện các bản ghi Hát Trống quân.
  • Phát triển lý thuyết thang âm - điệu thức phương Đông (PGS. Tô Vũ): Định nghĩa thang âm trong luận án không chỉ là chuỗi cao độ trừu tượng mà là hệ thống cao độ thực tế xuất hiện trong tác phẩm (bao gồm cả âm hoa mỹ đóng vai trò tạo màu sắc bản địa), đồng thời phản ánh trực tiếp âm vực (ambitus) và trục âm nòng cốt.
  • Xác lập mô hình quan hệ hai chiều giữa Thanh điệu tiếng Việt và Tiến trình giai điệu: Luận án mô hình hóa quy luật tương ứng giữa 6 thanh điệu tiếng Việt (bằng, không dấu, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng) với các bước nhảy (melodic leaps) và bước đi bình ổn (stepwise progressions), làm sáng tỏ bản chất ngữ điệu - nhạc điệu trong dân ca người Việt.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp ba trục phương pháp luận:

                      KHUNG PHÂN TÍCH LIÊN NGÀNH CỦA LUẬN ÁN
                                        │
        ┌───────────────────────────────┼───────────────────────────────┐
        ▼                               ▼                               ▼
Trục Hình thái Âm nhạc         Trục Ngôn ngữ - Âm luật         Trục Chức năng Văn hóa
- Thang âm & Điệu thức          - Tiết tấu lời ca (TTLC)        - Diễn xướng Giao duyên
- Nhóm cao độ nòng cốt          - Quy luật phối thanh ca từ     - Diễn xướng Tín ngưỡng
- Cấu trúc vĩ mô / vi mô        - Thủ pháp đảo ca từ            - Nghi lễ thờ Thánh
  1. Trục hình thái âm nhạc: Khảo sát thang âm, âm vực, các bước nhảy quãng (quãng 4 Đúng, 5 Đúng, quãng 2 Trưởng/thứ, quãng 3 Trưởng/thứ), các motif mở đầu và nét láy kết trổ (cadence).
  2. Trục ngôn ngữ - âm luật: Tách biệt khái niệm "Tiết tấu lời ca" (sự phân bố trường độ tự nhiên giữa các ca từ chính trong thể thơ lục bát) với "Tiết tấu giai điệu" và "Tiết tấu trống đệm". Phân tích kỹ thuật gieo vần, từ phụ, từ đưa hơi và hiện tượng đảo vay trả ca từ.
  3. Trục chức năng văn hóa diễn xướng: Phân lập ranh giới âm nhạc theo hai nhánh chức năng: Diễn xướng thế tục (giao duyên, vui chơi giải trí, thi tài) và Diễn xướng thiêng (nghi lễ, tín ngưỡng thờ Thành hoàng/Thánh thần).

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu vận hành theo hệ hình thực chứng kết hợp diễn giải (interpretivism), sử dụng phương pháp liên ngành Âm nhạc học - Dân tộc học - Văn hóa học. Thiết kế đa tầng phân tích từ cấp độ vĩ mô (vùng văn hóa) đến vi mô (từng nốt nhạc, từng âm hoa mỹ trong dị bản).

                            QUY TRÌNH PHÂN TÍCH ĐA TẦNG
                                         │
 ┌───────────────────────────────────────┴───────────────────────────────────────┐
 ▼                                                                               ▼
ĐIỀN DÃ DÂN TỘC NHẠC HỌC                                        PHÂN TÍCH ÂM NHẠC HỌC
- Khảo sát thực địa 5 tỉnh                                      - Ký âm chuẩn xác 74 bài bản
- Phỏng vấn sâu 12+ nghệ nhân                                   - Phân tích Thang âm & Cao độ nòng cốt
- Thu thanh hồi cố & phục dựng                                  - Thống kê tiến trình quãng & Điệu thức
 └───────────────────────────────────────┬───────────────────────────────────────┘
                                         │
                                         ▼
                   TỔNG HỢP, ĐỐI SÁNH & XÂY DỰNG BẢNG NHẬN DIỆN

Quy trình nghiên cứu rigorous

  1. Khai thác và đối sánh văn bản học: Rà soát, thẩm định toàn bộ 45 tài liệu lịch sử trong và ngoài nước từ 1889 đến 2017.
  2. Điền dã, phỏng vấn sâu và hồi cố: Thực hiện các đợt điền dã trực tiếp từ năm 2004 đến 2013 tại các làng Trống quân cổ truyền:
    • Thôn Đào Quạt (Bãi Sậy, Ân Thi, Hưng Yên) - phỏng vấn nghệ nhân Đào Hà Lưu (sinh 1929), Đào Thị Két (sinh 1915), Đặng Thị Gái (sinh 1942);
    • Thôn Thọ Vực, Nhân Thục (Nghĩa Trụ, Văn Giang, Hưng Yên) - phỏng vấn nghệ nhân Đào Văn Thảo (sinh 1929);
    • Thôn Khúc Lộng (Vĩnh Khúc, Văn Giang, Hưng Yên) - phỏng vấn nghệ nhân Phạm Thị Khuê (sinh 1934);
    • Thôn Kênh Cầu (Đồng Than, Yên Mỹ, Hưng Yên) - phỏng vấn cụ Vũ Thị Thơi (sinh 1911), Đặng Đình Thản (sinh 1926), Lương Bá Phẩm (sinh 1936);
    • Thôn Lưu Xá (Đức Giang, Hoài Đức, Hà Nội) - phỏng vấn nghệ nhân Đỗ Thị Thu (sinh 1930);
    • Thôn Đỗ Hà (Khánh Hà, Thường Tín, Hà Nội) - phỏng vấn cụ Nguyễn Thị Xế (sinh 1920), Dương Xuân Các (sinh 1944);
    • Làng Kinh Kệ (Lâm Thao, Phú Thọ) - phỏng vấn cụ Bùi Văn Kiệm (sinh 1916);
    • Làng Hiền Quan (Tam Nông, Phú Thọ) - phỏng vấn cụ Bùi Thị Dục (sinh 1919), Bùi Thị Thủy (sinh 1929);
    • Làng Đức Bác (Sông Lô, Vĩnh Phúc).
  3. Tam giác đạc dữ liệu (Data Triangulation): Kiểm chứng chéo giữa lời kể hồi cố của nghệ nhân cao tuổi, băng ghi âm lưu trữ tại Thư viện Viện Âm nhạc và các bản ký âm xuất bản chính thức.

Data và phân tích

  • Phân tích dữ liệu âm nhạc: Ký âm chi tiết các bản thu thanh, trích xuất cấu trúc giai điệu, tần suất xuất hiện cao độ để xác lập Nhóm cao độ nòng cốt dựa trên 3 tiêu chuẩn định lượng:
    • Cao độ có tần suất xuất hiện dày đặc nhất;
    • Cao độ xuất hiện ở các vị trí kết cấu cố định (từ thứ 2, 4 câu 6; từ thứ 3, 6 câu 8; âm kết trổ; motif mở đầu);
    • Cao độ tạo điểm nhấn âm hưởng độc đáo cho bài hát.
  • Phân tích nhịp trùng khớp: Đánh giá mối quan hệ giữa tiết tấu gõ của trống đất (hoặc trống da, mõ tre, sênh tiền) với tiết tấu lời ca theo ba mô hình: Trùng khớp, Giữ nhịp độc lập, hoặc Có mô hình tiết tấu cụ thể.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

┌─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│                       4 PHÁT HIỆN ĐỘT PHÁ CỦA LUẬN ÁN                           │
├───────────────────────────────────┬─────────────────────────────────────────────┤
│ 1. TÍNH NHỊ NGUYÊN CHỨC NĂNG      │ Tách biệt Trống quân Giao duyên (mùa thu)   │
│                                   │ và Trống quân Tín ngưỡng (mùa xuân).        │
├───────────────────────────────────┼─────────────────────────────────────────────┤
│ 2. PHÂN VÙNG ÂM NHẠC ĐỊNH LƯỢNG   │ Phân lập rõ nét: Vùng Đất Tổ (3 nốt lõi) vs.│
│                                   │ Đồng bằng Bắc Bộ (5-7 nốt, 2 tiểu vùng).    │
├───────────────────────────────────┼─────────────────────────────────────────────┤
│ 3. DỊ BIỆT DIỄN XƯỚNG HIỀN QUAN   │ Đội hình 5 nữ (1 cái 4 con), múa quạt/sênh, │
│                                   │ không dùng trống đất, có quan làng gõ điểm. │
├───────────────────────────────────┼─────────────────────────────────────────────┤
│ 4. CÔNG THỨC KẾT CẤU CA TỪ        │ Mô hình hóa thủ pháp "Đảo vay trả ca từ" và │
│                                   │ tiếng đệm định vị "Kia hỡi trống quân".     │
└───────────────────────────────────┴─────────────────────────────────────────────┘
  1. Phát hiện tính nhị nguyên về chức năng diễn xướng: Luận án phá vỡ định kiến cho rằng Hát Trống quân thuần túy là dân ca giao duyên mùa thu (tháng 7 - tháng 8 âm lịch). Tác giả chứng minh sự tồn tại vững chắc của nhánh Hát Trống quân mang mục đích tín ngưỡng, phục vụ lễ hội mùa xuân (tháng Giêng đến tháng 3 âm lịch) gắn với tục thờ Thành hoàng, thần linh tại vùng trung du Đất Tổ (như Trống quân Đức Bác thờ Thánh, hát trao trống và giã bạn thiêng).
  2. Xác lập ranh giới âm nhạc học giữa vùng Đất Tổ và vùng Đồng bằng Bắc Bộ:
    • Vùng Đất Tổ (Phú Thọ, Vĩnh Phúc): Giai điệu xây dựng trên kết cấu 3 cao độ nòng cốt (hạt nhân), âm vực hẹp, tiến trình giai điệu lặp đi lặp lại mang tính ngâm ngợi, sử dụng câu kết trổ cố định điệp lại bộ phận câu 8 hoặc cụm từ phụ "Kia hỡi trống quân".
    • Vùng Đồng bằng Bắc Bộ (Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nội, Bắc Ninh...): Sử dụng thang âm rộng hơn (từ 5 đến 7 cao độ), kết cấu quãng phong phú với các bước nhảy quãng 4 Đúng, 5 Đúng xen kẽ bước đi bình ổn.
  3. Phân lập hai tiểu vùng âm nhạc tại Đồng bằng Bắc Bộ:
    • Tiểu vùng 1 (Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh...): Phổ biến mô hình tiết tấu lời ca đồng độ, sử dụng thủ pháp đảo 2 ca từ cuối câu 6 mở đầu, câu kết bài có cấu trúc mở rộng đặc thù.
    • Tiểu vùng 2 (Hà Tây cũ/Hà Nội, Ninh Bình...): Nét láy kết trổ đặc trưng, nét luyến cao độ mềm mại và công thức kết trổ cố định khi từ kết thúc mang thanh không dấu.
  4. Phát hiện dị bản diễn xướng độc nhất vô nhị tại làng Hiền Quan (Tam Nông, Phú Thọ): Không diễn xướng đối đáp nam nữ, không sử dụng trống đất mà lập đội hình 5 nữ gồm một người "cái" hát chính đứng giữa và bốn người "con" đứng hai hàng vừa hát đế vừa múa sênh tiền hoặc múa quạt; quan chức làng (lý trưởng, chánh tổng) ngồi thưởng thức và đánh trống cái điểm nhịp.
  5. Mô hình hóa các thủ pháp cấu trúc lời ca và âm nhạc: Làm rõ thủ pháp "đảo cụm 4 ca từ", "đảo vay trả ca từ thứ 8 của vế 8 cuối trổ" và các mô hình tiết tấu trống đất từ cơ bản (mô hình 1, 2, 3, 4) đến mở rộng và rút gọn.

Trích dẫn dữ liệu tiêu biểu từ văn bản luận án

  • Về hình thức diễn xướng cổ: Luận án trích dẫn ghi chép của A. Chéon (1905):

    "Trai gái ngồi ra hai bên cách nhau chừng hai mươi thước, trai hát xướng lấy que tre đánh vào dây kêu bình bình, gái hát đáp gõ cái sênh kêu cách cách làm nhịp" (Chương 2, tr. 40).

  • Về khái niệm thang âm chuyên ngành: Luận án trích dẫn định nghĩa quốc tế từ The New Grove Dictionary of Music and Musicians (Tập 16, tr. 547):

    "Scale... A sequence of notes in ascending or descending order of pitch. As a musicological concept, a scale is long enough to define unambiguously a mode, tonality, or some special linear construction..." (Chương 1, tr. 32).

  • Về diễn xướng độc đáo tại Hiền Quan: Nghệ nhân Bùi Thị Thủy (sinh 1929) khẳng định:

    "Hát Trống quân không có trống, chỉ múa quạt với sênh tiền. Đến điệu nào sẽ phải múa điệu ấy. Nếu là điệu Sênh tiền thì phải múa sênh tiền, nếu là điệu Quạt thì phải múa quạt. Đấy là thời xa xưa" (Băng phỏng vấn điền dã ngày 24/11/2005; Chương 2, tr. 41).

Implications đa chiều

  • Về mặt lý luận âm nhạc: Bổ sung cơ sở dữ liệu thực chứng chuẩn xác cho việc xây dựng lý thuyết âm nhạc truyền thống Việt Nam, đặc biệt là hệ thống thang âm - điệu thức và thi pháp âm nhạc dân gian người Việt.
  • Về mặt phương pháp luận: Cung cấp khung phân tích cấu trúc - hình thức âm nhạc liên ngành, có thể chuyển giao để nghiên cứu các thể loại hát đối đáp giao duyên khác như Quan họ, Hát Xoan, Hát Ghẹo, Ca trù.
  • Về thực tiễn bảo tồn: Cung cấp bảng nhận diện âm nhạc chuẩn xác theo từng địa phương, giúp các cơ quan quản lý văn hóa và câu lạc bộ nghệ nhân phục dựng đúng làn điệu gốc, tránh hiện tượng "Quan họ hóa" hoặc đồng nhất hóa âm nhạc Trống quân giữa các vùng miền.

Limitations và Future Research

Hạn chế nghiên cứu

  1. Phạm vi điền dã chưa bao phủ toàn bộ: Chưa khảo sát trực tiếp tại chỗ thể loại Trống quân ở miền Trung (như điệu Trống quân tại Quảng Trị) do giới hạn địa lý và nguồn lực, mà chỉ tập trung vào địa bàn Bắc Bộ.
  2. Tính đứt gãy của nguồn tư liệu sống: Nhiều nghệ nhân gạo cội sinh từ thập niên 1910 - 1920 đã qua đời trước thời điểm điền dã, khiến việc thẩm tra một số phong tục diễn xướng cổ phải dựa vào phương pháp hồi cố gián tiếp.
  3. Chưa ứng dụng phân tích âm học thực nghiệm: Việc phân tích cao độ và thang âm vẫn dựa trên hệ thống ký âm 5 dòng kẻ phương Tây kết hợp tai nghe âm nhạc học, chưa có điều kiện đo đạc tần số âm thanh cơ bản (fundamental frequency - F0) bằng phần mềm âm học chuyên dụng (như Praat) để xác định các thang âm phi bình quân (non-equal temperament).

Hướng nghiên cứu tương lai

  1. Mở rộng địa bàn khảo sát so sánh đối chiếu Hát Trống quân Bắc Bộ với các làn điệu mang tên Trống quân ở Bắc Trung Bộ (Quảng Trị, Thanh Hóa).
  2. Ứng dụng công nghệ xử lý tín hiệu âm thanh và âm học tính toán (computational musicology) để định lượng hóa các vi quãng (microtones) và âm hoa mỹ trong giọng hát nghệ nhân cổ truyền.
  3. Nghiên cứu cơ chế tiếp nhận và biến đổi của Hát Trống quân trong không gian sân khấu hóa đương đại và giáo dục âm nhạc học đường.

Tác động và ảnh hưởng

                                  MA TRẬN TÁC ĐỘNG HỌC THUẬT & XÃ HỘI
 ┌───────────────────────────────────┬───────────────────────────────────┐
 │ VIỆN HÀN LÂM & ĐÀO TẠO            │ CHÍNH SÁCH VĂN HÓA & DI SẢN       │
 │ - Chuẩn hóa giáo trình Dân ca VN  │ - Hồ sơ Di sản văn hóa phi vật thể│
 │ - Nguồn trích dẫn cho luận án     │ - Bản đồ hóa phong cách âm nhạc   │
 ├───────────────────────────────────┼───────────────────────────────────┤
 │ BẢO TỒN CỘNG ĐỒNG                 │ HỢP TÁC HỌC THUẬT QUỐC TẾ         │
 │ - Định hướng CLB nghệ nhân        │ - Đối sánh nhạc khí Đông Nam Á    │
 │ - Ngăn chặn "Quan họ hóa"         │ - Dữ liệu Dân tộc nhạc học quốc tế│
 └───────────────────────────────────┴───────────────────────────────────┘
  • Giá trị học thuật hàn lâm: Trở thành tài liệu tham khảo chuẩn mực tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam và Viện Âm nhạc; cung cấp hệ thống 74 bản ký âm mẫu làm nguồn dữ liệu cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Âm nhạc học.
  • Tác động chính sách và bảo tồn di sản: Cung cấp luận cứ khoa học vững chắc phục vụ việc xây dựng hồ sơ khoa học công nhận Hát Trống quân ở các địa phương (Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Hà Nội) là Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia.
  • Hiệu quả thực hành cộng đồng: Bảng nhận diện âm nhạc địa phương của luận án trở thành "cẩm nang" chuyên môn giúp các nghệ nhân và nhà nghiên cứu địa phương chỉnh đốn lề lối hát, bảo tồn nguyên vẹn tính bản địa độc đáo.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và Giảng viên Âm nhạc học: Tiếp cận khung phân tích cấu trúc - hình thức âm nhạc dân gian chặt chẽ, phương pháp điền dã dân tộc nhạc học và nguồn thư mục 45 tài liệu lịch sử được khảo cứu kỹ lưỡng.
  • Cơ quan Quản lý Văn hóa (Sở VHTTDL các tỉnh): Nắm vững tiêu chí nhận diện phong cách Hát Trống quân của từng vùng/tiểu vùng để xây dựng đề án bảo tồn chính xác, tránh áp đặt mô hình đồng nhất.
  • Nghệ nhân và Câu lạc bộ Dân ca cơ sở: Hiểu rõ giá trị thang âm, kỹ thuật gieo vần, lề lối đối đáp và cách sử dụng nhạc khí truyền thống (trống đất, mõ tre, sênh tiền) để truyền dạy cho thế hệ trẻ.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?

Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất là việc ứng dụng và hoàn thiện hệ thống Lý thuyết phân tầng cấu trúc âm nhạc cổ truyền của PGS.TS Nguyễn Thụy Loan (bao gồm 4 cấp độ: Vĩ mô, Trung bình, Vi mô và Cấu trúc cơ sở) vào việc giải mã toàn diện một thể loại dân ca đối ca. Luận án đã chứng minh trổ hát chính là cấu trúc cơ sở linh hoạt, có thể biến đổi từ cấu trúc đoạn đơn cân phương sang không cân phương (2 câu hoặc 3 câu) dưới tác động của kỹ thuật gieo vần và mở rộng ca từ.

2. Tính đổi mới về phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây?

So với các nghiên cứu văn học dân gian (như Nguyễn Văn Huyên 1934; Vũ Ngọc Phan 1957) chỉ chú trọng ca từ, hoặc các khảo tả âm nhạc đơn lẻ (như Bùi Trọng Hiền 1999 tại Dạ Trạch; Phạm Khương 1984 tại Vĩnh Phú), luận án đã kết hợp phương pháp điền dã Dân tộc nhạc học đa địa bàn với phương pháp phân tích hình thái học âm nhạc học định lượng. Việc xây dựng hệ thống Bảng nhận diện âm nhạc với 3 tiêu chí chọn lọc nhóm cao độ nòng cốt là phương pháp luận hoàn toàn mới chưa từng có trước đây.

3. Phát hiện bất ngờ và phản trực giác nhất từ dữ liệu điền dã?

Phát hiện bất ngờ nhất là sinh hoạt Hát Trống quân tại làng Hiền Quan (Tam Nông, Phú Thọ). Trái ngược với định nghĩa kinh điển xem Hát Trống quân là "hát đối đáp nam nữ có đánh trống đất đệm nhịp", Trống quân Hiền Quan là diễn xướng của đội hình thuần nữ (5 người), múa hát với sênh tiền hoặc quạt tại sân chùa vào mùa xuân, hoàn toàn không có trống đất, và người đánh trống cái điểm nhịp lại là quan chức làng (lý trưởng, chánh tổng).

4. Luận án có cung cấp quy trình tái lặp (Replication Protocol) rõ ràng không?

Có. Luận án xây dựng quy trình phân tích âm nhạc học 4 bước hoàn chỉnh có thể tái lặp:

  1. Thu thanh và phiên âm ca từ kèm xác định bối cảnh diễn xướng;
  2. Ký âm 5 dòng kẻ chi tiết cả cao độ chính lẫn âm hoa mỹ;
  3. Xác định thang âm, âm vực và lọc 3 tiêu chí nhóm cao độ nòng cốt;
  4. Đối chiếu tương quan giữa 6 thanh điệu tiếng Việt với các bước nhảy quãng và lập bảng nhận diện làn điệu.

5. Lộ trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được vạch ra như thế nào?

Lộ trình học thuật 10 năm gồm 3 trọng tâm:

  1. Mở rộng điều tra điền dã điệu Trống quân tại khu vực miền Trung (Quảng Trị, Thừa Thiên Huế) để so sánh diện mạo âm nhạc xuyên Việt;
  2. Thiết lập cơ sở dữ liệu số hóa âm thanh chuẩn xác cao và phân tích quang phổ âm học cho các thang âm dân ca cổ;
  3. Biên soạn bộ giáo trình chuẩn hóa về Dân ca Trống quân đưa vào giảng dạy tại các bậc đào tạo chuyên nghiệp của Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam.

Kết luận

Luận án Tiến sĩ Âm nhạc học của NCS Phạm Minh Hương đã tạo nên một dấu ấn học thuật xuất sắc với 5 đóng góp cốt lõi:

  1. Xác lập công trình chuyên khảo toàn diện đầu tiên nghiên cứu Hát Trống quân từ góc độ âm nhạc học hệ thống và liên ngành.
  2. Làm sáng tỏ tính nhị nguyên trong diện mạo thể loại: Phân định ranh giới giữa Hát Trống quân giao duyên/thi tài mùa thu và Hát Trống quân tín ngưỡng/thờ Thần mùa xuân.
  3. Đề xuất và xây dựng thành công hệ thống tiêu chí phân vùng âm nhạc học Hát Trống quân tại Bắc Bộ (vùng Đất Tổ và hai tiểu vùng thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ).
  4. Khám phá và mô hình hóa các quy luật tương tác giữa thanh điệu tiếng Việt, tiết tấu lời ca và tiến trình giai điệu, cùng các thủ pháp cấu trúc ca từ đặc thù.
  5. Cung cấp hệ thống bảng nhận diện âm nhạc và 74 bản ký âm chuẩn xác, tạo cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc cho sự nghiệp bảo tồn di sản âm nhạc truyền thống của dân tộc.