Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ và hiệu quả của thông khí nhân tạo điều trị hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển ở bệnh nhân bỏng nặng

Luận án: Yếu tố nguy cơ và hiệu quả thông khí nhân tạo điều trị ARDS ở bệnh nhân bỏng nặng. Nghiên cứu cải thiện tiên lượng, cứu sống bệnh nhân.

Chuyên ngành
Ngoại bỏng
Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án tiến sỹ y học

Năm xuất bản

Số trang

190

Thời gian đọc

29 phút

Lượt xem

1

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Yếu tố nguy cơ gây hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển
Số trang:
190 trang
Trường:
Học viện Quân Y
Chuyên ngành:
Ngoại bỏng
Tác giả:
Năm:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Yếu tố nguy cơ gây hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển

Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS) là biến chứng cực kỳ nguy hiểm ở bệnh nhân bỏng nặng. Tỷ lệ tử vong do ARDS trong bỏng dao động từ 40% đến 70%. Bỏng diện rộng kèm bỏng sâu kích hoạt phản ứng viêm toàn thân dữ dội. Màng phế nang mao mạch bị phá hủy nhanh chóng. Dịch giàu protein tràn vào phế nang. Tình trạng giảm oxy máu tiến triển nhanh và kháng lại oxy liệu pháp thông thường. Nhận diện sớm các yếu tố nguy cơ đóng vai trò sống còn trong tiên lượng bệnh. Bệnh nhân có diện tích bỏng trên 40% diện tích cơ thể đối mặt nguy cơ ARDS cao gấp nhiều lần. Điểm độ nặng ban đầu cao cũng cảnh báo nguy cơ suy tạng sớm. Việc phân tầng nguy cơ giúp thiết lập phác đồ can thiệp hô hấp kịp thời.

1.1. Tác động của diện tích bỏng rộng và sốc bỏng nặng

Diện tích bỏng chung và diện tích bỏng sâu tương quan thuận với tỷ lệ mắc ARDS. Tổn thương mô da giải phóng hàng loạt chất trung gian hóa học gây viêm. Hội chứng đáp ứng viêm hệ thống bùng phát dữ dội. Thành mạch toàn thân tăng tính thấm nghiêm trọng. Sốc bỏng xuất hiện trong 48 giờ đầu làm giảm tưới máu phổi. Tế bào nội mô mao mạch phổi tổn thương hàng loạt. Tình trạng thoát dịch ồ ạt dẫn đến phù phổi cấp không do tim. Bệnh nhân bỏng nặng kèm tụt huyết áp kéo dài có nguy cơ suy hô hấp tiến triển rất cao. Hồi sức chống sốc ban đầu chuẩn xác giúp hạn chế tổn thương thứ phát tại nhu mô phổi.

1.2. Nhiễm khuẩn huyết và hội chứng rối loạn đa chức năng tạng

Thời kỳ tiêu mô hoại tử bỏng dễ dẫn đến nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn. Độc tố vi khuẩn làm tổn thương trực tiếp màng mao mạch phổi. Hội chứng rối loạn chức năng nhiều tạng (MODS) xuất hiện liên tiếp. Suy hô hấp cấp thường là mắt xích đầu tiên trong chuỗi suy đa tạng. Tình trạng toan chuyển hóa nặng càng làm chức năng thông khí suy giảm. Điểm APACHE và thang điểm suy tạng tăng cao báo hiệu nguy cơ ARDS đe dọa tính mạng. Bệnh nhân cần được kiểm soát nhiễm khuẩn tích cực và cắt lọc mô hoại tử sớm. Hồi sức hô hấp phải phối hợp chặt chẽ với điều trị kháng sinh toàn thân.

II. Tổn thương đường thở do hít khói và bỏng hô hấp nặng

Bỏng hô hấp kết hợp làm tăng vọt tỷ lệ xuất hiện hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS). Tổn thương đường thở do hít khói độc gây phù nề niêm mạc cấp tính. Nhiệt độ cao và khí độc phá hủy biểu mô phế quản. Lớp surfactant phế nang bị bất hoạt nhanh chóng. Tình trạng xẹp phổi lan tỏa diễn ra chỉ sau vài giờ. Khí đạo hẹp gây tắc nghẽn thông khí nghiêm trọng. Tỷ lệ tử vong tăng gấp đôi khi bỏng da diện rộng kèm tổn thương đường thở. Chẩn đoán sớm tổn thương qua nội soi phế quản có giá trị tiên lượng quyết định. Can thiệp bảo vệ đường thở sớm giúp ngăn chặn suy hô hấp cấp đe dọa tính mạng.

2.1. Cơ chế bệnh sinh của tổn thương đường thở do hít khói

Khói cháy chứa nhiều hóa chất độc hại như carbon monoxide, xyanua và acid aldehyde. Hóa chất bám dính gây bỏng hóa chất trực tiếp lên niêm mạc hô hấp. Bạch cầu đa nhân trung tính tập trung dày đặc giải phóng gốc tự do. Niêm mạc phế quản bong tróc tạo thành các nút nhầy hoại tử. Đờm đặc và cặn muội than gây bít tắc đường thở nhỏ. Phản ứng co thắt phế quản làm thông khí phế nang suy sụp. Mất hoạt tính chất diện hoạt surfactant khiến phế nang xẹp hoàn toàn. Quá trình trao đổi khí bị đình trệ nghiêm trọng. Bệnh nhân nhanh chóng rơi vào tình trạng thiếu oxy mô sâu sắc.

2.2. Chỉ định can thiệp đường thở và đặt nội khí quản sớm

Phù nề thanh môn tiến triển rất nhanh trong 24 giờ đầu sau bỏng nhiệt hô hấp. Chỉ định đặt nội khí quản sớm phải được ưu tiên trước khi đường thở biến dạng hoàn toàn. Khàn tiếng, thở rít thanh quản và nuốt nghẹn là dấu hiệu cảnh báo đỏ. Đặt ống nội khí quản kích thước phù hợp giúp kiểm soát thông khí hiệu quả. Kỹ thuật này tạo điều kiện hút sạch đờm dãi, muội than và dị vật đường thở qua ống soi mềm. Khai thông đường thở kịp thời giúp duy trì oxy hóa máu và tạo đường thở xâm nhập an toàn.

III. Chiến lược thông khí nhân tạo bảo vệ phổi chuẩn ARDS

Thông khí nhân tạo bảo vệ phổi là nền tảng điều trị cốt lõi cho bệnh nhân ARDS do bỏng nặng. Thở máy xâm nhập cần được thiết lập ngay khi có suy hô hấp cấp kháng trị. Mục tiêu chính là duy trì trao đổi khí đủ cho cơ thể và phòng ngừa tổn thương phổi do máy thở. Chiến lược này giảm thiểu tình trạng căng giãn phế nang quá mức. Hiện tượng xẹp mở phế nang theo chu kỳ cũng được hạn chế tối đa. Áp dụng thông khí đúng chuẩn giúp cải thiện rõ rệt chỉ số oxy hóa máu (PaO2/FiO2). Tỷ lệ tử vong của bệnh nhân ARDS giảm đáng kể khi tuân thủ nghiêm ngặt phác đồ thông khí bảo vệ mô phổi.

3.1. Chỉ định và thời điểm bắt đầu thở máy xâm nhập

Thở máy xâm nhập được chỉ định khi liệu pháp oxy qua mặt nạ không đạt đích oxy hóa. Bệnh nhân có biểu hiện co kéo cơ hô hấp nặng và thở nhanh nông liên tục. Khí máu động mạch cho thấy chỉ số oxy hóa máu (PaO2/FiO2) tụt sâu dưới 200 mmHg. PaCO2 tăng cao kèm toan hô hấp mất bù đe dọa ngừng tuần hoàn. Bắt đầu thở máy xâm nhập sớm giúp giảm công thở cho cơ hoành kiệt sức. Cài đặt các thông số thở máy ban đầu cần bám sát mức độ tổn thương phổi thực tế. Theo dõi liên tục cơ học phổi giúp điều chỉnh mode thở kịp thời.

3.2. Cải thiện chỉ số oxy hóa máu PaO2 FiO2 và độ giãn nở phổi

Chỉ số oxy hóa máu (PaO2/FiO2) phản ánh trực tiếp mức độ tổn thương màng phế nang mao mạch. Tỷ lệ PaO2/FiO2 dưới 300 mmHg xác lập chẩn đoán ARDS từ nhẹ đến nặng. Thông khí nhân tạo bảo vệ phổi giúp huy động các vùng phế nang bị đông đặc. Độ giãn nở tĩnh của phổi dần được phục hồi theo thời gian điều trị. Phân đoạn shunt trong phổi giảm giúp nâng cao nồng độ oxy hòa tan trong máu động mạch. Đánh giá PaO2/FiO2 mỗi 12 đến 24 giờ giúp kiểm định tính hiệu quả của thông khí nhân tạo.

IV. Cài đặt thể tích lưu thông thấp và áp lực dương PEEP

Chiến lược thông khí chuẩn cho ARDS dựa trên thể tích lưu thông thấp (Low tidal volume) kết hợp áp lực dương cuối thì thở ra (PEEP). Phổi bệnh nhân ARDS chỉ còn một phần nhỏ phế nang lành hoạt động. Giảm thể tích khí bơm vào giúp tránh chấn thương do thể tích và áp lực. Đồng thời, PEEP tối ưu giữ cho các phế nang tổn thương không bị xẹp lại ở cuối thì thở ra. Sự kết hợp này bảo tồn tính toàn vẹn của nhu mô phổi còn lại. Áp lực đỉnh đường thở và áp lực cao nguyên được kiểm soát trong ngưỡng an toàn dưới 30 cmH2O.

4.1. Ứng dụng thể tích lưu thông thấp Low tidal volume

Thể tích lưu thông thấp (Low tidal volume) được tính toán theo cân nặng dự đoán từ 4 đến 6 ml/kg. Giảm thể tích lưu thông giúp hạ thấp áp lực đẩy lên nhu mô phổi mong manh. Hiện tượng tăng CO2 máu cho phép được chấp nhận nếu pH máu duy trì trên 7,20. Phương pháp này ngăn ngừa tình trạng vỡ phế nang và tràn khí màng phổi do áp lực cao. Bệnh nhân thích nghi tốt với máy thở khi kết hợp an thần giãn cơ hợp lý. Áp dụng thể tích thấp đã được chứng minh giảm tỷ lệ tử vong đáng kể trong điều trị ARDS.

4.2. Chuẩn độ áp lực dương cuối thì thở ra PEEP tối ưu

Áp lực dương cuối thì thở ra (PEEP) được cài đặt từ 8 đến 15 cmH2O tùy theo độ nặng của ARDS. PEEP giúp mở lại các đơn vị phế nang bị xẹp và tăng dung tích cặn chức năng. Mức PEEP thích hợp phân bố lại dòng khí đều khắp hai trường phổi. Quá trình trao đổi khí tại màng phế nang mao mạch diễn ra thuận lợi hơn. Tuy nhiên, PEEP quá cao có thể cản trở máu hồi lưu về tim và gây hạ huyết áp. Chuẩn độ PEEP cần dựa trên bảng PEEP/FiO2 hoặc đo độ giãn nở phổi tốt nhất.

V. Kiểm soát quá tải dịch và viêm phổi liên quan thở máy

Điều trị bệnh nhân bỏng nặng bị ARDS đòi hỏi sự cân bằng tinh tế giữa hồi sức tuần hoàn và bảo vệ phổi. Quá tải dịch trong hồi sức bỏng làm nặng thêm tình trạng phù phổi thẩm thấu. Ngược lại, thiếu dịch làm trầm trọng thêm tình trạng suy tưới máu tạng. Thêm vào đó, nguy cơ viêm phổi liên quan thở máy (VAP) luôn đe dọa sinh mạng người bệnh bỏng thở máy dài ngày. Áp dụng các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn và chiến lược quản lý dịch chặt chẽ là yếu tố sống còn. Tối ưu hóa chăm sóc điều dưỡng và rút ống nội khí quản sớm giúp cải thiện tiên lượng sống còn.

5.1. Ngăn ngừa quá tải dịch trong hồi sức bỏng nặng

Bệnh nhân bỏng diện rộng cần lượng dịch truyền khổng lồ để chống sốc trong 24 giờ đầu. Lượng dịch thừa tích tụ nhanh chóng thấm qua màng mao mạch phổi bị tổn thương. Quá tải dịch trong hồi sức bỏng làm tăng áp lực thủy tĩnh mao mạch và làm ARDS diễn tiến tồi tệ hơn. Theo dõi huyết động nâng cao bằng các chỉ số động giúp ước lượng chính xác nhu cầu dịch. Chuyển sang chiến lược truyền dịch hạn chế ngay sau khi qua giai đoạn sốc bỏng. Sử dụng thuốc vận mạch sớm giúp duy trì huyết áp mà không cần truyền dịch quá mức.

5.2. Dự phòng và xử trí viêm phổi liên quan thở máy VAP

Viêm phổi liên quan thở máy (VAP) là biến chứng nhiễm trùng thứ phát phổ biến và nguy hiểm nhất. Bệnh nhân bỏng bị suy giảm miễn dịch nghiêm trọng kèm vết thương hở lớn. Vi khuẩn bệnh viện dễ dàng xâm nhập qua ống nội khí quản xuống đường hô hấp dưới. Gói dự phòng VAP bao gồm nâng cao đầu giường 30 đến 45 độ, vệ sinh khoang miệng bằng chlorhexidine và hút dịch dưới thanh môn liên tục. Đánh giá cai thở máy hàng ngày giúp rút ngắn thời gian đặt ống nội khí quản. Khi có biểu hiện nhiễm khuẩn phổi, cấy dịch phế quản và điều trị kháng sinh nhạy cảm sớm là điều bắt buộc.

Mục lục chi tiết luận án

ĐẶT VẤN ĐỀ
1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. ĐẠI CƯƠNG BỆNH BỎNG
1.2. HỘI CHỨNG SUY HÔ HẤP CẤP TIẾN TRIỂN TRONG BỎNG
1.2.1. Khái niệm hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển
1.2.2. Chẩn đoán ARDS
1.2.3. Tỷ lệ mắc, kết quả điều trị hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển
1.2.3.1. Trên thế giới
1.2.3.2. Ở Việt Nam
1.2.4. Các yếu tố nguy cơ gây ARDS
1.2.5. Cơ chế bệnh sinh hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển trong bỏng
1.2.5.1. Tổn thương tế bào nội mạch và biểu mô phế nang
1.2.5.2. Phản ứng viêm
1.2.5.3. Các cơ chế tổn thương khác
1.2.5.4. Viêm phế nang xơ hoá
1.2.5.5. Các giai đoạn tiến triển của tổn thương phổi trong ARDS
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ và hiệu quả của thông khí nhân tạo điều trị hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển ở bệnh nhân bỏng nặng

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (190 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

1 BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÕNG HỌC VIỆN QUÂN Y HỒ THỊ VÂN ANH NGHI£N CøU MéT Sè YÕU Tè NGUY C¥ Vµ HIÖU QU¶ CñA TH¤NG KHÝ NH¢N T¹O §IÒU TRÞ HéI CHøNG SUY H¤ HÊP CÊP TIÕN TRIÓN ë BÖNH NH¢N BáNG NÆNG Chuyên ngành: Ngoại Bỏng Mã số: 62 72 01 28 LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC Giáo viên hƣớng dẫn: 1.TS Nguyễn Gia Bình 2.TS Nguyễn Nhƣ Lâm HÀ NỘI - 2014 2 ĐẶT VẤN ĐỀ Chấn thƣơng bỏng rộng, độ sâu nhiều làm rối loạn toàn bộ chức năng cơ quan trong cơ thể, tạo nên bệnh bỏng. Trạng thái suy giảm miễn dịch, nhiễm khuẩn nhiễm độc, suy mòn, hội chứng đáp ứng viêm hệ thống, rối loạn chức năng nhiều tạng (Multiple Organ Dysfuction Syndrome – MODS), suy đa tạng (Multiple Organ Failure – MOF)(trong đó có suy hô hấp) tạo vòng luẩn quẩn làm diễn biến bệnh bỏng càng nặng thêm. Bệnh bỏng luôn tồn tại các nguy cơ xuất hiện các biến chứng, nếu không phát hiện và điều trị kịp thời có thể dẫn tới tử vong [7], [8]. Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS) là hội chứng lâm sàng thƣờng gặp trong các khoa Hồi sức cấp cứu và có tỷ lệ tử vong cao.

Nhiều công trình đã công bố cho thấy tỷ lệ tử vong do ARDS khoảng 40 – 70% [48], [56]. Ở Việt Nam, Trần Thị Oanh (2006), thông báo tỷ lệ tử vong của ARDS tại khoa Điều trị tích cực và Trung tâm chống độc Bệnh viện Bạch Mai là 61,1% [5]. ARDS là một trong các biến chứng nặng ở bệnh nhân bỏng nặng [42], làm tăng tỷ lệ tử vong trong bỏng, đặc biệt trên bệnh nhân có bỏng hô hấp kết hợp. Điều trị ARDS trong bỏng vẫn là thách thức lớn đối với các nhà lâm sàng.

Theo các nghiên cứu, tỷ lệ ARDS ở bệnh nhân bỏng 20% - 56% tùy theo mức độ nặng của bệnh bỏng [32], [35]. Việc xác định các yếu tố nguy cơ gây ARDS trong bỏng là cần thiết giúp cho công tác chẩn đoán sớm và điều trị. Một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến các yếu tố nguy cơ hiển nhiên của ARDS trong bỏng nhƣ diện tích bỏng chung, diện tích bỏng sâu, bỏng hô hấp kết hợp [80]. Thêm vào đó, các yếu tố nhƣ tuổi, tình trạng nhiễm khuẩn, sốc nhiễm khuẩn, điểm APACHE III, khối lƣợng máu và chế phẩm máu truyền cũng là một trong các yếu tố nguy cơ quan trọng của ARDS trong bỏng [35].

3 Cơ chế sinh bệnh học chính của ARDS là hậu quả của tổn thƣơng màng phế nang – mao mạch kết hợp với hiện tƣợng tăng tính thấm màng phế nang - mao mạch, thoát dịch phù chứa nhiều protein vào khoảng kẽ phổi và trong lòng các phế nang gây suy hô hấp cấp nặng[115],[116], giảm oxy máu trơ với liệu pháp oxy. Chính vì vậy, thông khí nhân tạo có ý nghĩa quan trọng trong hồi sức và điều trị bệnh nhân ARDS[49]. Việc chọn đƣợc phƣơng thức thông khí nhân tạo hợp lý góp phần làm giảm tỷ lệ tử vong và cải thiện kết quả điều trị [70]. Hiện nay, phƣơng thức thông khí nhân tạo bảo vệ phổi đƣợc chứng minh làm cải thiện tình trạng oxy máu và giảm tỷ lệ tử vong [56].

Ở Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực chuyên ngành bỏng hiện nay chƣa có nghiên cứu nào đề cập đến các yếu tố nguy cơ và hiệu quả của thông khí bảo vệ phổi điều trị hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển ở bệnh nhân bỏng nặng. Xuất phát từ những nhận xét trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với hai mục tiêu sau: 1. Xác định một số yếu tố nguy cơ của hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển ở bệnh nhân bỏng nặng. Đánh giá hiệu quả của thông khí nhân tạo điều trị hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển ở bệnh nhân bỏng nặng.

4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. ĐẠI CƢƠNG BỆNH BỎNG Chấn thƣơng bỏng gây ra các rối loạn chức phận trong cơ thể và các phản ứng toàn thân để tự bảo vệ, phục hồi. Nếu bị bỏng rộng, diện tích độ sâu lớn sẽ gây rối loạn toàn bộ các cơ quan trong cơ thể tạo nên bệnh bỏng. Bệnh bỏng là những phản ứng bệnh lý chung xuất hiện có tính chất quy luật với chấn thƣơng bỏng [7], [8].

Bệnh bỏng diễn biến qua 4 thời kỳ: Thời kỳ thứ nhất: (2-3 ngày sau bỏng), thời kỳ các phản ứng bệnh lý cấp, đặc trƣng là trạng thái sốc bỏng. Sốc bỏng là trạng thái suy sụp đột ngột toàn bộ chức năng của cơ thể do chấn thƣơng bỏng gây nên. Ngoài ra, trong thời kỳ này còn gặp những rối loạn khác nhƣ: rối loạn tuần hoàn, hô hấp trong bỏng điện, nhiễm độc khí carbon monoxide (CO), suy hô hấp cấp trong bỏng hô hấp, rối loạn tuần hoàn chi thể, hoặc rối loạn hô hấp do hoại tử khô [7],[9]. Thời kỳ thứ hai: (từ ngày thứ 3-4 tới ngày 30 – 45 – 60 sau bỏng) còn gọi là thời kỳ nhiễm khuẩn nhiễm độc.

Đối với bỏng nông đây là thời kỳ liền sẹo, khỏi bệnh. Đối với bỏng sâu đây là thời kỳ viêm mủ, rụng hoại tử, tan rã mô hoại tử bỏng. Cơ thể hấp phụ các thành phẩm của sự thoái biến và tan rã của tổ chức hoại tử bỏng, mủ dịch viêm các độc tố vi khuẩn, hỗn hợp chất béo – protein (Lipid protein complex - LPC): là sản phẩm của sự thoái biến các mô tế bào và sự polyme hoá các sản phẩm phân rã từ da bị bỏng nhiệt, là nguồn gốc quá trình bệnh lý của bệnh bỏng với bệnh cảnh lâm sàng chính của thời kỳ này[7]. Thời kỳ thứ ba: Thời kỳ suy mòn, biến đổi bệnh lý nổi bật trong thời kỳ này là các rối loạn chuyển hoá và dinh dƣỡng của các cơ quan toàn cơ thể.

Nếu không đƣợc điều trị đúng và sớm, các triệu chứng suy mòn bỏng sẽ nặng 5 lên, xuất hiện các biến chứng tại chỗ và các vùng lân cận vết thƣơng bỏng, sự hình thành các vết loét điểm tỳ, rối loạn bệnh lý các nội tạng do nhiễm độc nhiễm khuẩn. đều làm nặng lên tình trạng suy mòn bỏng[7]. Thời kỳ thứ tƣ: Thời kỳ hồi phục, khi vết bỏng đã đƣợc liền sẹo, các rối loạn chức phận nội tạng sẽ dần đƣợc hồi phục. Trong 4 thời kỳ thì thời kỳ thứ hai là thời kỳ có tỷ lệ tử vong cao nhất do tình trạng nhiễm khuẩn tại chỗ, biến chứng nhiễm khuẩn vùng lân cận và trạng thái nhiễm khuẩn toàn thân với các biến chứng nhiễm khuẩn nội tạng.

Trong đó ARDS là biến chứng nguy hiểm xuất hiện trong thời kỳ này, ARDS làm tăng tỷ lệ tử vong ở BN bỏng và tỷ lệ xuất hiện cao ở BN có bỏng hô hấp kết hợp[67]. HỘI CHỨNG SUY HÔ HẤP CẤP TIẾN TRIỂN TRONG BỎNG 1. Khái niệm hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển Khởi đầu từ việc quan sát thấy nhiều bệnh binh có biểu hiện suy hô hấp cấp, không đáp ứng với liệu pháp oxy và cuối cùng dẫn tới tử vong.Trong chiến tranh thế giới thứ II gọi là “hội chứng phổi sốc", ngoài ra nó còn có nhiều tên gọi khác nhƣ: hội chứng phổi ƣớt, hội chứng phổi trắng [22]. Cho tới năm 1967, Ashbaugh D.

theo dõi 12 bệnh nhân (BN) đã mô tả tình trạng suy hô hấp cấp nặng tiến triển, trơ với liệu pháp thở oxy, giảm độ đàn hồi của phổi và trên phim XQuang là hình ảnh tổn thƣơng thâm nhiễm lan toả hai bên phổi.Tác giả gọi hội chứng này là "Hội chứng suy hô hấp tiến triển ở ngƣời lớn" (Adult Respiratory Distress Syndrome - ARDS) [16]. Trong thập kỷ 80, nhiều tác giả trên thế giới vẫn cho rằng phổi của bệnh nhân ARDS bị „cứng‟ (phổi cứng – stiff lung). Nhờ có sự phát triển của kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính lồng ngực ngƣời ta phát hiện thấy thể tích phổi giảm, một số vùng phổi đông đặc do nhu mô phổi ở vùng này không có không khí, hoặc thông khí kém do xẹp phổi. Do đó quan niệm về phổi trẻ nhỏ „baby lung‟ dần thay thế cho quan niệm phổi cứng trƣớc đây [108].

6 Đến năm 1994, tiêu chuẩn chẩn đoán ALI/ARDS đƣợc đƣa ra tại hội nghị thống nhất Châu Mỹ và Châu Âu về ARDS và thống nhất đổi tên hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển ở ngƣời lớn (Adult Respiratory Distress Syndrome - ARDS) thành hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (Acute Respiratory Distress Syndrome - ARDS) [21] Theo định nghĩa mới nhất về ARDS đƣợc ra ở Hội nghị Berlin năm 2012 thì tổn thƣơng phổi cấp (ALI) chính là ARDS mức độ nhẹ [15]. Chẩn đoán ARDS * Hội nghị thống nhất của Châu Mỹ và Châu Âu về ARDS năm 1994 (AECC) đã đƣa ra tiêu chuẩn chẩn đoán ARDS nhƣ sau [21],[56],[60], [99]. - ARDS khởi phát cấp tính. - Tỷ số PaO2/FiO2 < 200 (với bất kỳ mức PEEP) – ARDS.

- Hình ảnh thâm nhiễm lan toả hai bên phổi trên phim XQuang - Áp lực mao mạch phổi bít ≤ 18mmHg hoặc không có các dấu hiệu lâm sàng của tăng áp lực nhĩ trái. * Chẩn đoán ARDS dựa theo định nghĩa mới của thế giới (The Berlin Definition of Acute Respiratory Distress Syndrome), năm 2012 [15]. - Khởi phát: trong vòng 1 tuần sau bệnh lý nền. - XQuang phổi: Hình ảnh thâm nhiễm lan tỏa hai bên phổi (hình ảnh mờ hai bên phổi) – không phải do tràn dịch, tràn máu, xẹp phổi, xẹp thùy phổi, hay do u phổi.

- Nguồn gốc phù: Suy hô hấp không đƣợc giải thích do suy tim hoặc truyền quá nhiều dịch. - Giảm oxy máu: + Mức độ nhẹ: 200mmHg <PaO2/FiO2 ≤ 300mmHg với PEEP hoặc CPAP ≥ 5cmH2O. + Mức độ trung bình: 100mmHg <PaO2/FiO2 ≤ 200mmHg với PEEP ≥ 5cmH2O. + Mức độ nặng: PaO2/FiO2 ≤ 100mmHg với PEEP ≥ 5cmH2O.

Tỷ lệ mắc, kết quả điều trị hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển 1. Trên thế giới 7 Tỷ lệ mắc ARDS đƣợc công bố rất khác nhau trong nhiều công trình nghiên cứu. Theo tài liệu của Viện sức khoẻ Quốc Gia Hoa kỳ năm 1970, tỷ lệ ARDS hàng năm ở quốc gia này khoảng 75 trƣờng hợp/100. Một vài công trình nghiên cứu có kết quả thấp hơn: 22 – 64/100.

(1999) khi áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán của hội nghị thống nhất Châu Âu – Châu Mỹ về ARDS đã công bố, tỷ lệ ARDS là 13,5 trƣờng hợp/100.000 dân, với tỷ lệ tử vong là 41,2%[69]. Trong bỏng, tỷ lệ ARDS dao động trong khoảng 20 – 56% tùy thuộc vào mức độ nặng của bệnh bỏng. ARDS vẫn là một thách thức lớn cho các nhà lâm sàng vì tính chất bệnh nặng cũng nhƣ tỷ lệ tử vong cao, có thể lên tới 70% [48], [56]. Trong bỏng, tỷ lệ tử vong do ARDS cao hơn 40 – 90%.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Hồ Thị Vân Anh (2014). Nghiên cứu yếu tố nguy cơ và hiệu quả thông khí nhân tạo điều trị suy hô hấp cấp tiến triển ở bệnh nhân bỏng nặng [Luận án tiến sĩ, Học viện Quân y]. LuanAn.net. https://luanan.net/y-hoc/luan-an-tien-si-nghien-cuu-mot-so-yeu-to-nguy-co-va-hieu-qua-cua-thong-khi-nhan-tao-dieu-tri-hoi-chung-suy-ho-hap-cap-tien-trien-o-benh-nhan-bong-nang

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Nghiên cứu yếu tố nguy cơ và hiệu quả thông khí nhân tạo điều trị suy hô hấp cấp tiến triển ở bệnh nhân bỏng nặng" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án: Yếu tố nguy cơ và hiệu quả thông khí nhân tạo điều trị ARDS ở bệnh nhân bỏng nặng. Nghiên cứu cải thiện tiên lượng, cứu sống bệnh nhân.

Luận án "Nghiên cứu yếu tố nguy cơ và hiệu quả thông khí nhân tạo điều trị suy hô hấp cấp tiến triển ở bệnh nhân bỏng nặng" được bảo vệ tại trường nào?

Luận án này được bảo vệ tại Học viện Quân y. Năm bảo vệ: 2014.

Luận án "Nghiên cứu yếu tố nguy cơ và hiệu quả thông khí nhân tạo điều trị suy hô hấp cấp tiến triển ở bệnh nhân bỏng nặng" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Nghiên cứu yếu tố nguy cơ và hiệu quả thông khí nhân tạo điều trị suy hô hấp cấp tiến triển ở bệnh nhân bỏng nặng" thuộc chuyên ngành Ngoại Bỏng. Danh mục: Y Học.

Luận án "Nghiên cứu yếu tố nguy cơ và hiệu quả thông khí nhân tạo điều trị suy hô hấp cấp tiến triển ở bệnh nhân bỏng nặng" có bao nhiêu trang?

Luận án "Nghiên cứu yếu tố nguy cơ và hiệu quả thông khí nhân tạo điều trị suy hô hấp cấp tiến triển ở bệnh nhân bỏng nặng" có 190 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Nghiên cứu yếu tố nguy cơ và hiệu quả thông khí nhân tạo điều trị suy hô hấp cấp tiến triển ở bệnh nhân bỏng nặng" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter