Luận án: Báo chí truyền thông tái cơ cấu ngành nông nghiệp ĐBSCL hiện nay
Luận án TS Báo chí nghiên cứu truyền thông tại Đồng bằng sông Cửu Long về tái cơ cấu nông nghiệp Việt Nam hiện nay. Phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp.
Truyền thông báo chí
Luan An
Đồ án/Luận văn
Số trang
168
Thời gian đọc
26 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Mục lục chi tiết
Tóm tắt nội dung
I. Vai trò và thách thức nông nghiệp Việt Nam ĐBSCL
Nông nghiệp giữ vai trò nền tảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định tầm quan trọng này từ năm 1946. Nền kinh tế Việt Nam lấy canh nông làm gốc. Nông dân thịnh vượng thì đất nước phát triển. Đảng và Nhà nước luôn ưu tiên nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đây là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Ngành nông nghiệp góp phần ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng-an ninh. Nông nghiệp còn giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái. Qua 35 năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đạt nhiều thành tựu to lớn. Ngành đóng góp 18,38% GDP cả nước. Nông thôn là thị trường rộng lớn, chiếm 67,64% dân số. Nông nghiệp giúp xóa đói giảm nghèo hiệu quả. Việt Nam từ nước thiếu ăn đã trở thành nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới. Nhiều mặt hàng chủ lực giữ vị thế cao trên thị trường quốc tế.
1.1. Tầm quan trọng của nông nghiệp Việt Nam
Nông nghiệp là trụ cột của kinh tế Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tầm quan trọng này. Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế lấy canh nông làm gốc vững chắc. Chính phủ trông cậy lớn vào nông dân và ngành nông nghiệp. Nông dân giàu thì nước giàu, nông dân thịnh thì nước thịnh. Tư tưởng này được quán triệt xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng. Nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn được đặt lên hàng đầu. Đây là cơ sở và lực lượng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Nó cũng góp phần ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng-an ninh. Việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái cũng được chú trọng. Sau 35 năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đạt nhiều thành tựu lớn. Ngành đóng góp đáng kể vào GDP cả nước. Nông thôn tạo ra thị trường rộng lớn với đa số dân số. Nông nghiệp giúp xóa đói giảm nghèo hiệu quả. Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới. Các sản phẩm như tiêu, cà phê, hạt điều, gạo, cao su, thủy sản giữ vị thế quan trọng trên thị trường.
1.2. Hạn chế và thách thức của ngành nông nghiệp
Nông nghiệp Việt Nam chưa phát huy hết tiềm năng. Ngành vẫn bộc lộ nhiều hạn chế và yếu kém. Kinh tế nông thôn nhìn chung mang nặng tính thuần nông. Quy mô sản xuất nhỏ, manh mún. Sản xuất nông nghiệp lấy kinh tế hộ làm động lực chính. Tuy nhiên, các hộ sản xuất nhỏ lẻ, thiếu liên kết. Điều này dẫn đến tình trạng nông sản phân tán. Không có sự gắn kết giữa vùng nguyên liệu với chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy, thường xuyên xảy ra tình trạng được mùa rớt giá. Lúc thì trồng ồ ạt, khi thì ùn ùn phá bỏ. Ngành nông nghiệp còn phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Nguồn tài nguyên, đặc biệt là nước ngọt, có nguy cơ cạn kiệt. Nguồn lợi thủy sản cũng bị đe dọa. Tình trạng xâm nhập mặn sâu vào nội đồng, phèn hóa cục bộ gia tăng. Mưa lũ, hạn hán diễn biến phức tạp. Biến đổi khí hậu ngày càng diễn ra gay gắt. Những yếu kém này cản trở việc phát huy tiềm năng to lớn của sản xuất. Khả năng sáng tạo của người nông dân chưa được khai thác triệt để.
1.3. Biến đổi khí hậu ảnh hưởng ĐBSCL
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) chịu tác động nặng nề từ biến đổi khí hậu. Vùng này là trọng điểm sản xuất nông nghiệp của Việt Nam. Biến đổi khí hậu gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng. Xâm nhập mặn là vấn đề cấp bách, ảnh hưởng sâu rộng vào nội đồng. Nước biển dâng làm tăng nguy cơ ngập lụt. Hạn hán kéo dài gây thiếu nước cho sản xuất. Nguồn nước ngọt suy giảm đáng kể. Hệ sinh thái nông nghiệp vùng ĐBSCL đang bị phá vỡ. Để ứng phó, nông nghiệp bền vững là mục tiêu quan trọng. Vùng cần chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện mới. Việc ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao trở nên cấp thiết. Tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp giúp ĐBSCL thích ứng hiệu quả. Điều này đảm bảo sinh kế cho nông dân và giữ vững vai trò vùng lương thực chủ lực của đất nước.
II. Tái cơ cấu ngành nông nghiệp cấp thiết và thành tựu
Tái cơ cấu ngành nông nghiệp (TCCNNN) là giải pháp chiến lược. Nông nghiệp Việt Nam đang đối mặt nhiều yếu kém. Sản xuất nhỏ lẻ, manh mún hạn chế hiệu quả. Giá trị gia tăng thấp, sức cạnh tranh yếu. Biến đổi khí hậu và cạn kiệt tài nguyên gây áp lực lớn. Thị trường thế giới ngày càng đòi hỏi khắt khe về chất lượng nông sản. Yêu cầu sản phẩm an toàn, thân thiện môi trường, chi phí sản xuất thấp. Tất cả đòi hỏi một mô hình tăng trưởng mới. Quyết định 899/QĐ-TTg của Chính phủ năm 2013 đã phê duyệt Đề án TCCNNN. Mục tiêu chính là nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp giúp khắc phục yếu kém hiện tại. Ngành nông nghiệp chuyển dịch theo hướng hiệu quả hơn.
2.1. Sự cần thiết của tái cơ cấu nông nghiệp
Sự cần thiết của tái cơ cấu ngành nông nghiệp là không thể phủ nhận. Ngành nông nghiệp Việt Nam phát triển chưa xứng với tiềm năng. Nhiều hạn chế như quy mô sản xuất nhỏ, manh mún. Kinh tế nông thôn vẫn thuần nông, thiếu liên kết chuỗi giá trị. Sản xuất manh mún khiến nông sản thường xuyên được mùa rớt giá. Ngoài ra, ngành còn đối mặt với biến đổi khí hậu phức tạp. Tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là nguồn nước, cạn kiệt. Yêu cầu về chất lượng và an toàn nông sản từ thị trường quốc tế ngày càng cao. Xu hướng nông nghiệp thế giới ngày càng hiện đại. Để nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, tái cơ cấu là cấp bách. Nó giúp chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Từ dựa vào số lượng sang chất lượng và hiệu quả.
2.2. Kết quả bước đầu tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp
Hơn 8 năm thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp đã đạt kết quả đáng phấn khởi. Cơ cấu các lĩnh vực sản xuất đã có sự chuyển dịch hiệu quả. Cơ cấu kinh tế ngành chuyển đổi tích cực. Tăng trưởng không còn dựa vào số lượng mà chuyển sang chất lượng. Giá trị gia tăng là mục tiêu phấn đấu chính. Các ngành hàng và sản phẩm có lợi thế thị trường được ưu tiên phát triển. Trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp, tỷ trọng giá trị sản xuất thủy sản tăng. Từ 22,48% năm 2012 lên 24,95% năm 2017. Giá trị sản xuất lâm nghiệp cũng tăng từ 2,69% lên 3,79%. Tỷ trọng giá trị gia tăng thủy sản tăng từ 18,8% lên 20,5%. Lâm nghiệp tăng từ 3,8% lên 4,5%. Các nông sản lớn, chủ lực tiếp tục khẳng định vị thế. Khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới được duy trì. Sản lượng tiếp tục tăng, chất lượng ngày càng được cải thiện. Những kết quả này khẳng định chủ trương TCCNNN của Đảng và Nhà nước là rất đúng đắn và cấp thiết.
2.3. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng ngành hàng chủ lực
Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tập trung vào chuyển đổi cơ cấu cây trồng và vật nuôi. Các ngành hàng có lợi thế cạnh tranh được ưu tiên. Ví dụ, tỷ trọng thủy sản và lâm nghiệp đã tăng đáng kể. Điều này cho thấy sự chuyển dịch đúng hướng. Mục tiêu là tăng giá trị gia tăng nông sản. Hướng tới xuất khẩu nông sản chất lượng cao, có giá trị kinh tế. Việt Nam tự hào có 12 loại cây trồng, vật nuôi năng suất sinh học cao. Bao gồm hạt điều, tiêu, cà phê, nho, dừa, cao su, gạo, chè, đay, thuốc lá, cá tra và bò sữa. Tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp giúp khai thác tối đa lợi thế này. Phát triển nông nghiệp bền vững là trọng tâm. Chú trọng ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp thông minh. Các giải pháp này tăng cường sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam. Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
III. ĐBSCL tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp phát triển bền vững
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp Việt Nam. Vùng đang tập trung thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Các địa phương trong ĐBSCL tích cực chuyển đổi mô hình sản xuất. Mục tiêu chính là thích ứng với biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt. Đồng thời, nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp. Vùng cần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Từ độc canh lúa sang đa canh, nuôi trồng kết hợp. Việc này nâng cao chất lượng nông sản. Đẩy mạnh liên kết chuỗi giá trị là cần thiết. ĐBSCL hướng tới một nền nông nghiệp bền vững. Phát triển kinh tế nông thôn gắn với du lịch sinh thái. Tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp là yếu tố then chốt. Nó đảm bảo an ninh lương thực và thúc đẩy xuất khẩu nông sản.
3.1. ĐBSCL tiên phong tái cơ cấu ngành nông nghiệp
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là khu vực tiên phong trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm quốc gia, ĐBSCL đối mặt nhiều thách thức. Biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, hạn hán là các vấn đề cấp bách. Vùng đang chủ động chuyển đổi mô hình sản xuất. Từ việc chú trọng số lượng sang chất lượng và giá trị gia tăng. Tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp giúp ĐBSCL thích ứng tốt hơn. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện mới. Đặc biệt là các mô hình lúa-tôm, lúa-cá. Nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản. Mục tiêu là xây dựng một nền nông nghiệp hiệu quả. Phát triển nông nghiệp bền vững, thân thiện với môi trường. Điều này cũng giúp cải thiện sinh kế cho hàng triệu nông dân trong vùng.
3.2. Hướng tới hệ sinh thái nông nghiệp bền vững
Tái cơ cấu nông nghiệp ĐBSCL hướng đến xây dựng hệ sinh thái nông nghiệp bền vững. Điều này bao gồm sử dụng tài nguyên thiên nhiên hiệu quả và tiết kiệm. Bảo vệ môi trường sinh thái là ưu tiên hàng đầu. Giảm thiểu tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. ĐBSCL xây dựng các mô hình sản xuất thông minh. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng thích ứng với mặn, hạn. Phát triển thủy sản nước lợ, nước mặn có giá trị cao. Ưu tiên các giống cây trồng, vật nuôi có khả năng chống chịu tốt. Áp dụng các quy trình canh tác hữu cơ, VietGAP. Điều này giúp tạo ra nông sản sạch, an toàn. Hướng tới xuất khẩu nông sản có giá trị cao và thương hiệu vững chắc. Phát triển nông nghiệp bền vững không chỉ tăng thu nhập cho nông dân. Còn bảo tồn đa dạng sinh học và cảnh quan tự nhiên. Góp phần xây dựng một ĐBSCL thịnh vượng, xanh sạch.
3.3. Thúc đẩy nông nghiệp công nghệ cao xuất khẩu nông sản
ĐBSCL đang đẩy mạnh ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao vào sản xuất. Công nghệ tự động hóa, công nghệ sinh học được tích hợp rộng rãi. Công nghệ thông tin được ứng dụng để phát triển nông nghiệp thông minh. Điều này giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất, giảm chi phí. Năng suất và chất lượng nông sản được nâng cao đáng kể. Vùng tập trung phát triển các vùng nguyên liệu quy mô lớn. Xây dựng thương hiệu mạnh cho nông sản ĐBSCL. Tăng cường chế biến sâu nhằm gia tăng giá trị. Mục tiêu chính là thúc đẩy xuất khẩu nông sản chất lượng cao. ĐBSCL có nhiều sản phẩm chủ lực được thị trường quốc tế ưa chuộng. Gạo, thủy sản, trái cây là những mặt hàng tiềm năng. Tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp giúp gia tăng lợi thế cạnh tranh của vùng. Nông nghiệp công nghệ cao đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe từ thị trường quốc tế.
IV. Truyền thông hỗ trợ tái cơ cấu nông nghiệp ĐBSCL
Báo chí khu vực ĐBSCL đóng vai trò rất quan trọng. Báo chí là công cụ truyền thông chủ yếu. Việc tuyên truyền về tái cơ cấu ngành nông nghiệp được xem là nhiệm vụ chính trị hàng đầu. Báo chí cổ vũ các mô hình sản xuất hiệu quả, bền vững. Phản ánh những mặt tích cực của quá trình tái cơ cấu. Đồng thời, báo chí cũng chỉ ra những tồn tại, bất cập. Các yêu cầu đặt ra trong TCCNNN được đưa tin kịp thời. Báo chí giúp nông dân, doanh nghiệp tiếp cận thông tin chính sách. Nâng cao nhận thức về nông nghiệp bền vững. Góp phần tạo đồng thuận xã hội. Thúc đẩy các chính sách phát triển nông nghiệp. Vai trò của truyền thông là không thể thiếu. Nó giúp định hướng dư luận, khích lệ hành động và sự tham gia của cộng đồng.
4.1. Vai trò của báo chí trong tái cơ cấu nông nghiệp
Báo chí ĐBSCL có vai trò then chốt trong quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Từ tháng 6/2013, truyền thông về TCCNNN đã được đẩy mạnh. Báo chí là kênh thông tin quan trọng. Báo chí cổ vũ, phản ánh những mô hình sản xuất hiệu quả. Chia sẻ những kinh nghiệm tốt trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Đồng thời, báo chí cũng chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại. Các yêu cầu mới đặt ra trong quá trình TCCNNN cũng được đề cập. Báo chí giúp các cơ quan quản lý nhà nước nắm bắt thực trạng. Giúp nông dân và doanh nghiệp hiểu rõ hơn về chủ trương. Từ đó, khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế khác. Vai trò truyền thông giúp tạo đồng thuận xã hội. Thúc đẩy tiến độ tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp toàn vùng.
4.2. Phản ánh thực trạng tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp
Báo chí đã phản ánh sâu sắc thực trạng tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp tại ĐBSCL. Các bài viết, phóng sự đi sâu vào đời sống nông dân. Thông tin về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi được cập nhật thường xuyên. Các mô hình nông nghiệp công nghệ cao được giới thiệu rộng rãi. Những khó khăn trong liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cũng được nêu bật. Báo chí hoạt động như một kênh thông tin đa chiều. Giúp các nhà quản lý nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ. Từ đó, đưa ra các giải pháp chính sách phù hợp. Truyền thông giúp công chúng hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của nông nghiệp bền vững. Về thách thức từ biến đổi khí hậu và yêu cầu chuyển đổi số nông nghiệp. Báo chí thúc đẩy sự tham gia chủ động của cộng đồng. Đóng góp vào việc hoàn thiện chính sách phát triển nông nghiệp.
4.3. Nâng cao nhận thức về nông nghiệp bền vững
Truyền thông báo chí có vai trò then chốt trong việc giáo dục và nâng cao nhận thức. Nhận thức về nông nghiệp bền vững cho người dân và doanh nghiệp. Các thông tin về kỹ thuật canh tác mới được phổ biến rộng rãi. Các chính sách hỗ trợ nông dân được công bố kịp thời. Kiến thức về bảo vệ môi trường, sử dụng tài nguyên hiệu quả được truyền đạt. Báo chí giúp nông dân hiểu rõ lợi ích của việc chuyển đổi. Từ phương thức canh tác truyền thống sang hiện đại, ứng dụng công nghệ. Khuyến khích áp dụng mô hình nông nghiệp thông minh. Nhận thức đúng đắn là nền tảng vững chắc. Giúp tái cơ cấu ngành nông nghiệp thành công bền vững. Truyền thông hiệu quả tạo động lực mạnh mẽ. Thúc đẩy toàn bộ hệ sinh thái nông nghiệp phát triển theo hướng tích cực.
V. Định hướng truyền thông tái cơ cấu nông nghiệp thông minh
Công tác truyền thông tái cơ cấu ngành nông nghiệp cần được đánh giá định kỳ. Hơn 8 năm qua, tác động của truyền thông vẫn chưa được nghiên cứu toàn diện. Cần có các cuộc điều tra, nghiên cứu xã hội học. Mục tiêu là tìm hiểu mức độ tiếp nhận thông tin của nông dân. Đánh giá sự thay đổi trong nhận thức, hành vi của các đối tượng. Xác định tác động đến các cơ quan quản lý nhà nước. Ảnh hưởng đến doanh nghiệp và các thành phần kinh tế khác. Đánh giá hiệu quả giúp tối ưu hóa chiến lược truyền thông. Cải thiện chất lượng nội dung và phương thức truyền tải. Đảm bảo thông tin đến đúng đối tượng. Hỗ trợ cho tái cơ cấu ngành nông nghiệp hiệu quả. Nghiên cứu sâu hơn về khoảng trống này là cần thiết.
5.1. Đánh giá hiệu quả truyền thông tái cơ cấu
Việc đánh giá hiệu quả truyền thông tái cơ cấu ngành nông nghiệp là vô cùng cần thiết. Đã hơn 8 năm triển khai chủ trương TCCNNN và truyền thông về nó. Tuy nhiên, chưa có một cuộc điều tra, nghiên cứu xã hội học nào. Nghiên cứu để tìm hiểu và đánh giá về công tác truyền thông đã tác động ra sao. Các cơ quan quản lý nhà nước, nông dân, doanh nghiệp chịu ảnh hưởng như thế nào? Các thành phần kinh tế khác có thay đổi trong nhận thức và hành động không? Việc đánh giá này giúp xác định những điểm mạnh và yếu của truyền thông. Từ đó, đưa ra các điều chỉnh phù hợp. Nâng cao chất lượng truyền thông, đảm bảo thông tin hiệu quả. Đánh giá cũng giúp tối ưu hóa nguồn lực. Góp phần thúc đẩy tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp thành công hơn.
5.2. Yêu cầu của công chúng về thông tin nông nghiệp
Công chúng đang có những yêu cầu mới và cụ thể về truyền thông tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Họ cần thông tin rõ ràng, dễ hiểu và mang tính thực tiễn cao. Các giải pháp cụ thể cho vấn đề của nông dân được ưu tiên. Thông tin về thị trường, giá cả nông sản, tiêu chuẩn xuất khẩu rất quan trọng. Các công nghệ mới trong nông nghiệp thông minh, nông nghiệp công nghệ cao cần được giới thiệu. Thông tin về nông nghiệp bền vững, bảo vệ môi trường cần được nhấn mạnh. Công chúng mong muốn được nghe những câu chuyện thành công, điển hình. Đồng thời, cần những phân tích sâu sắc về thách thức. Đặc biệt, thông tin phải minh bạch, kịp thời và đáng tin cậy. Báo chí cần nắm bắt những yêu cầu này. Để nâng cao chất lượng nội dung và hình thức truyền tải. Góp phần thúc đẩy chuyển đổi số nông nghiệp và tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp.
5.3. Phát triển truyền thông chuyển đổi số nông nghiệp
Trong thời gian tới, truyền thông cần phát triển mạnh mẽ hơn. Đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số nông nghiệp. Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác truyền thông là xu thế tất yếu. Sử dụng đa dạng các kênh truyền thông số như mạng xã hội, ứng dụng di động, nền tảng trực tuyến. Cung cấp thông tin tùy chỉnh cho từng đối tượng nông dân và doanh nghiệp. Xây dựng các cổng thông tin nông nghiệp thông minh, dễ tiếp cận. Kết nối nông dân với nhà khoa học, chuyên gia và doanh nghiệp. Hỗ trợ truy xuất nguồn gốc nông sản, tạo niềm tin cho người tiêu dùng. Quảng bá thương hiệu nông sản Việt Nam ra thị trường quốc tế. Truyền thông chuyển đổi số nông nghiệp giúp nâng cao hiệu quả TCCNNN. Tăng cường kết nối hệ sinh thái nông nghiệp. Đảm bảo thông tin nhanh chóng, chính xác. Thúc đẩy nông nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp thông minh phát triển mạnh mẽ.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (168 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộTính cấp thiết của đề tài Không đầy một năm sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã viết bài “Gửi nông gia Việt Nam” đăng trên báo “Tấc đất” (nay là báo Nông Nghiệp) ngày 11/4/1946 khẳng định vai trò, tầm quan trọng của ngành nông nghiệp (NN) ở nước ta: “Việt Nam ta là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào NN một phần lớn. Nông dân ta giàu thì nước ta giàu.
Nông dân ta thịnh thì nước ta thịnh”. Quán triệt tư tưởng của Người, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam Đảng ta luôn đặt nông nghiệp, nông dân, nông thôn lên hàng đầu, xem đây vừa là cơ sở vừa là lực lượng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng-an ninh, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái. Qua 35 năm đổi mới, NN Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu rất to lớn, đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Ngành NN đóng góp 18,38% GDP cả nước.
Nông thôn là thị trường rộng lớn với dân số chiếm 67,64% tổng dân số cả nước. Ngành NN đã góp phần quan trọng thực hiện xóa đói giảm nghèo, đưa nước ta từ chỗ thiếu ăn trở thành nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới với 7 mặt hàng chủ lực như: xuất khẩu tiêu dùng đứng thứ nhất thế giới, cà phê và hạt điều đứng thứ hai; gạo, cao su và thủy sản đứng thứ ba và chè đứng thứ năm. Nền NN nước ta tự hào có 12 loại cây trồng, vật nuôi có năng suất thuộc vào loại nước có năng suất sinh học cao nhất thế giới là hạt điều, tiêu, cà phê, nho, dừa, cao su, gạo, chè, đay, thuốc lá, cá tra và bò sữa. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu nổi bật, NN nước ta phát triển chưa xứng với tiềm năng và lợi thế vốn có, đang bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém.
Kinh tế nông thôn nhìn chung vẫn mang nặng tính thuần nông, quy mô sản xuất nhỏ. 1 Sản xuất NN lấy kinh tế hộ làm động lực, nhưng quy mô kinh tế hộ đa số là nhỏ, riêng lẻ. Nông dân sản xuất nhiều nông sản nhưng lại phân tán, manh mún, không gắn kết giữa vùng nguyên liệu với chế biến, tiêu thụ sản phẩm, vì vậy thường xuyên xảy ra tình trạng được mùa rớt giá, lúc thì trồng ồ ạt, khi ùn ùn phá bỏ. Mặt khác, ngành NN còn phải đối mặt với nhiều thách thức như: nguồn tài nguyên, nhất là nguồn nước ngọt, nguồn lợi thủy sản có nguy cơ cạn kiệt, tình trạng xâm nhập mặn sâu vào nội đồng, phèn hóa cục bộ, mưa lũ, hạn hán… ngày càng gia tăng, nhất là tình trạng biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp.
Trong khi xu hướng phát triển của NN thế giới ngày càng hiện đại, đòi hỏi về chất lượng nông sản khắt khe hơn, mẫu mã đẹp, đa dạng, an toàn sức khỏe, thân thiện với môi trường và chi phí sản xuất thấp. Những yếu kém trên đã cản trở việc phát huy tiềm năng to lớn của sản xuất NN và năng lực sáng tạo của người nông dân Việt Nam. Đã đến lúc phải tái cơ cấu ngành nông nghiệp (TCCNNN) theo mô hình tăng trưởng mới. Ngày 10/6/2013, Chính phủ có Quyết định 899/QĐ-TTg chính thức phê duyệt Đề án TCCNNN theo hướng nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
Mặc dù chỉ hơn 8 năm thực hiện chủ trương TCCNNN nhưng kết quả bước đầu rất đáng phấn khởi: thực hiện cơ cấu lại trong các lĩnh vực, cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế ngành đã có sự chuyển dịch theo hướng hiệu quả hơn, chuyển tăng trưởng dựa vào tăng số lượng sang chất lượng và giá trị gia tăng làm mục tiêu phấn đấu; tăng những ngành hàng, sản phẩm có lợi thế và thị trường thuận lợi. Trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp, tỷ trọng giá trị sản xuất thủy sản đã tăng từ 22,48% năm 2012 lên 24,95% năm 2017; giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng từ 2,69% năm 2012 lên 3,79% năm 2017. Tỷ trọng giá trị gia tăng thủy sản tăng từ 18,8% lên 20,5%, lâm nghiệp tăng từ 3,8 lên 4,5%. Các nông sản lớn, chủ lực vẫn tiếp tục khẳng định được vị thế và khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, bảo đảm đứng vững khi hội nhập quốc tế nên sản lượng tiếp tục tăng với chất lượng ngày càng được cải thiện.
Những kết quả đó 2 đã khẳng định chủ trương TCCNNN của Đảng, Nhà nước là rất đúng và cấp thiết hơn bao giờ. Là vùng trọng điểm sản xuất NN của Việt Nam, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã và đang tập trung thực hiện chủ trương TCCNNN. Báo chí khu vực ĐBSCL xem việc tuyên truyền “TCCNNN” là nhiệm vụ chính trị hàng đầu. Thời gian qua, báo chí khu vực ĐBSCL đã đóng vai trò rất quan trọng trong việc cổ vũ, phản ánh những mặt tích cực cũng như những tồn tại, bất cập, những yêu cầu đặt ra trong quá trình TCCNNN.
Tuy nhiên, do đề án “TCCNNN” mới được báo chí khu vực ĐBSCL đẩy mạnh truyền thông từ tháng 6.2013 nên chưa tiến hành một cuộc điều tra, nghiên cứu xã hội học nào để tìm hiểu, đánh giá về công tác truyền thông hơn 8 năm qua đã tác động như thế nào đến các cơ quan quản lý nhà nước, nông dân, doanh nghiệp và các thành phần kinh tế khác. Công chúng đang yêu cầu gì từ công tác truyền thông “TCCNNN”. Trong thời gian tới, để nâng cao chất lượng truyền thông nói chung, truyền thông vấn đề “TCCNNN” nói riêng đòi hỏi cần tiến hành những cuộc khảo sát chi tiết về chất lượng, hiệu quả của truyền thông cũng như nhu cầu, nguyện vọng của công chúng về nội dung truyền thông này. Do đó việc tác giả chọn đề tài “Báo chí Đồng bằng sông Cửu Long truyền thông về vấn đề tái cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam hiện nay” làm luận án Tiến sĩ báo chí học là rất bức thiết, vì việc nghiên cứu này cũng phù hợp với mục tiêu nâng cao chất lượng truyền thông của báo chí khu vực ĐBSCL và chủ trương của Đảng, Nhà nước về “TCCNNN”.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục đích Mục đích nghiên cứu của đề tài là: Bước đầu xây dựng khung lý thuyết của vấn đề nghiên cứu; làm rõ mối quan hệ giữa báo chí và TCCNNN; khảo sát, phân tích thực trạng báo chí ở ĐBSCL truyền thông về vấn đề TCCNNN Việt Nam hiện nay, đánh giá thành công, hạn chế và chỉ ra nguyên nhân của những 3 ưu điểm, hạn chế của báo chí ĐBSCL truyền thông về vấn đề này. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng truyền thông về TCCNNN của báo chí ĐBSCL trong thời gian tới. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích trên, tác giả của luận án sẽ thực hiện những nhiệm vụ sau: - Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận và tổng kết thực tiễn, luận án sẽ xây dựng khung lý thuyết báo chí ĐBSCL truyền thông về TCCNNN; - Khảo sát, phân tích thực trạng báo chí ở ĐBSCL truyền thông về vấn đề TCCNNN Việt Nam hiện nay; - Đánh giá những thành công, hạn chế và chỉ ra nguyên nhân của những thành công, hạn chế trong truyền thông về “TCCNNN” của báo chí khu vực ĐBSCL; - Đưa ra những quan điểm và kiến nghị, đề xuất các nhóm giải pháp nâng cao chất lượng truyền thông về vấn đề “TCCNNN” của báo chí ở ĐBSCL trong thời gian tới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Báo chí ĐBSCL truyền thông về vấn đề TCCNNN Việt Nam hiện nay. - Đối tượng khảo sát: Là các sản phẩm báo chí liên quan đến NN, TCCNNN; các nhà lãnh đạo, quản lý các cơ quan báo chí, các nhà báo, công chúng. - Thời gian khảo sát: từ tháng 6/2013 đến tháng 12/2017 3.
Phạm vi nghiên cứu 4 Phạm vi khảo sát, nghiên cứu: Luận án tập trung khảo sát những hoạt động truyền thông của các loại hình báo chí khu vực ĐBSCL về TCCNNN thông qua tác phẩm báo chí, sản phẩm báo chí của các cơ quan báo chí. Còn các sản phẩm truyền thông khác của các cơ quan báo chí ĐBSCL, luận án chỉ nhắc đến mà không khảo sát những hoạt động này. Việc chọn các cơ quan báo chí để khảo sát dựa vào vị trí địa lý đặc trưng của ĐBSCL: khu vực Bắc sông Hậu, khu vực Nam sông Hậu và khu vực miền biển và có đông đồng bào Khmer. Mỗi khu vực đều có 04 loại hình báo chí (báo in, báo điện tử, phát thanh và truyền hình).
Gồm có 6 cơ quan báo chí với 12 loại hình báo chí, đó là: + Bắc sông Hậu: Báo Đồng Tháp, Đồng Tháp online (báo in và báo điện tử), Đài Phát thanh-Truyền hình Đồng Tháp (THĐT) (báo nói và truyền hình). Địa phương đi đầu trong thực hiện TCCNNN với nhiều mô hình và cách làm đột phá được Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và các bộ, ngành đánh giá cao. + Nam sông Hậu: Báo Cần Thơ và Cần Thơ Online (báo in và báo điện tử), Đài Phát thanh - Truyền hình thành phố Cần Thơ (THTPCT) (báo nói và truyền hình). Cần Thơ là thủ phủ của vùng ĐBSCL nên nhiều mô hình TCCNNN được triển khai tại đây.
Và địa phương này thường diễn ra các hội nghị, hội thảo phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về TCCNNN. + Miền biển: Báo Trà Vinh và Trà Vinh Online (báo in và báo điện tử), Đài Phát thanh - Truyền hình Trà Vinh (THTV) (báo nói và truyền hình). Tỉnh này có đặc trưng của ĐBSCL đó là kinh tế biển và có đông đồng bào Khmer. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4.
Cơ sở lý luận 5 Việc nghiên cứu đề tài này được thực hiện dựa trên cơ sở quán triệt các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam tại các kỳ Đại hội gần đây; các chủ trương, văn bản pháp luật của Nhà nước có liên quan đến đề án TCCNNN; khung lý thuyết về báo chí và truyền thông; khung lý thuyết về xã hội học; khung lý thuyết về truyền thông chính sách; khung lý thuyết về truyền thông phát triển.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Báo chí truyền thông tái cơ cấu nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án TS Báo chí nghiên cứu truyền thông tại Đồng bằng sông Cửu Long về tái cơ cấu nông nghiệp Việt Nam hiện nay. Phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp.
Luận án "Báo chí truyền thông tái cơ cấu nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Báo chí truyền thông tái cơ cấu nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long" thuộc chuyên ngành Truyền thông báo chí. Danh mục: Truyền Thông Đa Phương Tiện.
Luận án "Báo chí truyền thông tái cơ cấu nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long" có bao nhiêu trang?
Luận án "Báo chí truyền thông tái cơ cấu nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long" có 168 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Báo chí truyền thông tái cơ cấu nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.