Luận án phát triển công nghiệp văn hóa và dịch vụ Việt Nam trong hội nhập quốc tế

Phát triển công nghiệp văn hóa và dịch vụ tại Việt Nam góp phần thúc đẩy kinh tế sáng tạo, nâng cao giá trị di sản và nâng tầm thương hiệu quốc gia.

Chuyên ngành

Văn hóa học / Quản lý văn hóa

Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án / Luận văn

Số trang

155

Thời gian đọc

24 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Cơ sở lý luận phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam
Số trang:
155 trang
Chuyên ngành:
Văn hóa học / Quản lý văn hóa
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Cơ sở lý luận phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam

Phát triển công nghiệp văn hóa gắn liền với quá trình hiện đại hóa đất nước. Lĩnh vực này kết hợp yếu tố sáng tạo, công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ. Nền kinh tế tri thức lấy sản phẩm văn hóa làm trụ cột kinh tế mới. Mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế ngày càng khăng khít. Văn hóa không chỉ thỏa mãn nhu cầu tinh thần thuần túy. Văn hóa trực tiếp tạo ra nguồn lợi nhuận lớn cho quốc gia. Các quốc gia phát triển xem công nghiệp văn hóa là động lực tăng trưởng mũi nhọn. Việc xác định rõ khung lý luận giúp định hình chính sách văn hóa bài bản. Việt Nam cần chuẩn hóa các khái niệm để xây dựng hệ thống quản lý đồng bộ. Đổi mới tư duy về thị trường văn hóa là bước đi bắt buộc. Nguồn lực văn hóa cần chuyển hóa thành sức mạnh kinh tế thực tế. Quá trình này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước và doanh nghiệp.

1.1. Bản chất và vai trò của kinh tế sáng tạo hiện đại

Kinh tế sáng tạo dựa trên ý tưởng, tài năng nghệ thuật và công nghệ hiện đại. Mô hình này biến các giá trị văn hóa thành sản phẩm thương mại có giá trị gia tăng cao. Các ngành sản xuất nội dung số, thiết kế và truyền thông tạo ra nhiều việc làm chất lượng. Doanh thu từ các sản phẩm văn hóa đóng góp trực tiếp vào GDP quốc gia. Nền kinh tế sáng tạo thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh trên thị trường quốc tế. Việc phát triển các ngành dịch vụ văn hóa giúp nâng cao vị thế quốc gia. Khai thác tiềm năng văn hóa truyền thống đem lại lợi thế cạnh tranh bền vững. Nguồn tài nguyên văn hóa là vô tận nếu biết ứng dụng tư duy kinh tế mới. Đầu tư vào con người và môi trường sáng tạo là yếu tố quyết định thành công. Lĩnh vực này mở ra hướng đi mới cho các doanh nghiệp khởi nghiệp trẻ.

1.2. Kinh nghiệm quốc tế về phát triển dịch vụ văn hóa

Nhiều quốc gia trên thế giới đã thành công khi xây dựng công nghiệp văn hóa vững mạnh. Hàn Quốc, Nhật Bản và Vương quốc Anh cung cấp nhiều bài học giá trị. Các nước này ban hành chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa từ rất sớm. Chính sách hỗ trợ thuế và quỹ đầu tư sáng tạo được triển khai đồng bộ. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo hành lang pháp lý thông thoáng. Doanh nghiệp tư nhân giữ vị trí nòng cốt trong sản xuất và phân phối. Việc liên kết chuỗi giá trị từ sáng tạo đến thương mại hóa diễn ra chặt chẽ. Xuất khẩu sản phẩm văn hóa trở thành công cụ quyền lực mềm hiệu quả. Việt Nam cần chọn lọc kinh nghiệm quốc tế phù hợp với thực tiễn đất nước. Bài học lớn nhất là tôn trọng bản quyền và khuyến khích tự do sáng tạo.

II. Thực trạng thị trường văn hóa và các ngành dịch vụ

Thị trường văn hóa tại Việt Nam đang có những bước chuyển mình tích cực. Sản phẩm và dịch vụ văn hóa ngày càng đa dạng về hình thức và nội dung. Nhu cầu thụ hưởng nghệ thuật của công chúng không ngừng gia tăng. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đã mạnh dạn đầu tư vào lĩnh vực văn hóa giải trí. Cơ chế quản lý từng bước thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, chất lượng sản phẩm văn hóa vẫn chưa đồng đều. Hiện tượng chạy theo thị hiếu thấp kém và thương mại hóa thiếu kiểm soát vẫn diễn ra. Thiếu vắng các tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao có tầm ảnh hưởng quốc tế. Hệ thống phân phối sản phẩm văn hóa còn manh mún và tự phát. Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp văn hóa nội địa còn nhiều hạn chế.

2.1. Tiềm năng và rào cản của ngành nghệ thuật biểu diễn

Nghệ thuật biểu diễn sở hữu tiềm năng di sản phong phú và đội ngũ nghệ sĩ tài năng. Các nhà hát và đoàn nghệ thuật truyền thống nỗ lực đổi mới hình thức biểu diễn. Tuy nhiên, ngành nghệ thuật biểu diễn gặp nhiều khó khăn về nguồn vốn và cơ sở vật chất. Ngân sách nhà nước cấp cho các đoàn nghệ thuật trung ương còn hạn hẹp. Doanh thu từ việc bán vé biểu diễn chưa đủ bù đắp chi phí sản xuất. Khán giả trẻ có xu hướng lựa chọn các loại hình giải trí hiện đại trên Internet. Sự kết nối giữa nghệ thuật truyền thống và thị hiếu đương đại còn lúng túng. Đời sống của đội ngũ diễn viên và nghệ sĩ chưa được đảm bảo ổn định. Cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị nghệ thuật công lập còn nhiều vướng mắc.

2.2. Sự tăng trưởng và thách thức của điện ảnh Việt Nam

Ngành điện ảnh Việt Nam chứng kiến sự bùng nổ của các hãng phim tư nhân và hệ thống rạp chiếu hiện đại. Số lượng phim sản xuất và cấp phép phát hành tăng trưởng liên tục qua các năm. Doanh thu phòng vé của nhiều tác phẩm điện ảnh nội địa đạt mức kỷ lục. Phim Việt ngày càng nâng cao chất lượng kỹ xảo, âm thanh và kỹ thuật quay phim. Dù vậy, điện ảnh Việt Nam vẫn đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ phim bom tấn ngoại nhập. Kịch bản phim còn thiếu tính đột phá và chiều sâu văn hóa. Đội ngũ biên kịch, đạo diễn và chuyên gia kỹ xảo chuyên nghiệp vẫn còn thiếu hụt. Việc hợp tác sản xuất phim với các đối tác quốc tế chưa đạt hiệu quả cao.

2.3. Xu hướng mở rộng mô hình du lịch văn hóa bền vững

Du lịch văn hóa trở thành sản phẩm trọng tâm trong việc thu hút du khách trong và ngoài nước. Các tour du lịch di sản, lễ hội truyền thống và làng nghề thủ công phát triển mạnh mẽ. Du lịch văn hóa tạo việc làm và sinh kế bền vững cho người dân địa phương. Mô hình này giúp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Tuy nhiên, tình trạng khai thác quá mức tại một số di tích gây nguy cơ xuống cấp di sản. Hoạt động du lịch còn trùng lặp sản phẩm và thiếu tính sáng tạo đặc sắc. Sự liên kết giữa ngành văn hóa và ngành du lịch chưa thực sự chặt chẽ. Công tác quảng bá văn hóa qua du lịch cần đầu tư bài bản và chuyên nghiệp hơn.

III. Thách thức phát triển kinh tế sáng tạo tại Việt Nam

Quá trình phát triển kinh tế sáng tạo tại Việt Nam đang gặp nhiều rào cản nội tại. Nhận thức của xã hội về giá trị kinh tế của văn hóa chưa đầy đủ. Thể chế chính sách kinh tế trong văn hóa vẫn còn chậm đổi mới và thiếu đồng bộ. Nguồn nhân lực sáng tạo chất lượng cao vừa thiếu về số lượng vừa yếu về kỹ năng. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và công nghệ phục vụ sản xuất văn hóa còn lạc hậu. Sự hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước chưa đáp ứng nhu cầu thực tế. Khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng của các doanh nghiệp sáng tạo gặp nhiều khó khăn. Nguy cơ mai một các giá trị văn hóa truyền thống trước làn sóng toàn cầu hóa ngày càng hiện hữu. Thiếu các liên kết chuỗi giá trị dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp.

3.1. Vấn đề thực thi và bảo hộ quyền tác giả hiện nay

Công tác bảo hộ quyền tác giả là nền tảng sống còn của nền công nghiệp văn hóa. Hiện tượng vi phạm bản quyền trên môi trường số diễn ra tràn lan và phức tạp. Các trang web lậu phát tán phim ảnh, âm nhạc và sách điện tử gây thiệt hại nặng nề cho nhà sản xuất. Ý thức tôn trọng bản quyền của một bộ phận công chúng vẫn còn hạn chế. Quy trình xử lý vi phạm bản quyền còn chậm trễ và mức chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe. Các tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả hoạt động chưa thật sự hiệu quả và minh bạch. Tình trạng vi phạm quyền tác giả làm nản lòng các nhà sáng tạo và nhà đầu tư mạo hiểm. Hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao năng lực cưỡng chế thực thi luật là yêu cầu cấp thiết.

3.2. Rào cản sở hữu trí tuệ và thương mại hóa sản phẩm

Quyền sở hữu trí tuệ đóng vai trò quan trọng trong việc định giá tài sản văn hóa. Hầu hết các doanh nghiệp sáng tạo vừa và nhỏ chưa có chiến lược đăng ký sở hữu trí tuệ rõ ràng. Việc định giá tài sản trí tuệ và quyền tác giả trong các giao dịch tài chính còn rất mới mẻ. Ngân hàng khó chấp nhận tài sản trí tuệ làm tài sản thế chấp để cấp vốn vay. Quá trình thương mại hóa các ý tưởng sáng tạo gặp nhiều rủi ro thị trường. Sự phối hợp giữa giới nghiên cứu, nghệ sĩ và nhà kinh doanh còn lỏng lẻo. Thiếu các sàn giao dịch bản quyền văn hóa chuyên nghiệp theo chuẩn quốc tế. Năng lực đàm phán hợp đồng bản quyền quốc tế của doanh nghiệp Việt còn yếu.

IV. Giải pháp chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa

Việt Nam cần thực hiện đồng bộ các giải pháp đột phá để phát triển công nghiệp văn hóa. Hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách kinh tế là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu. Nhà nước cần xây dựng chính sách ưu đãi thuế và quỹ hỗ trợ phát triển sáng tạo. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào các ngành dịch vụ văn hóa. Xây dựng môi trường cạnh tranh bình đẳng và minh bạch cho các doanh nghiệp văn hóa. Đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về quản lý và sáng tạo nghệ thuật. Tăng cường hợp tác quốc tế và chủ động xuất khẩu các sản phẩm văn hóa đặc sắc. Phát triển công nghiệp văn hóa phải gắn liền với giữ gìn bản sắc dân tộc.

4.1. Quy hoạch không gian sáng tạo và cơ sở hạ tầng mới

Hình thành mạng lưới không gian sáng tạo tại các đô thị lớn là giải pháp quan trọng. Các tổ hợp nghệ thuật và trung tâm sáng tạo trở thành vườn ươm cho các ý tưởng mới. Nhà nước cần có chính sách ưu đãi về mặt bằng và địa điểm cho các không gian sáng tạo. Tái thiết các di sản công nghiệp cũ thành trung tâm văn hóa nghệ thuật đương đại. Không gian sáng tạo là nơi kết nối nghệ sĩ, nhà thiết kế và cộng đồng công chúng. Đầu tư nâng cấp hệ thống nhà hát, bảo tàng, rạp chiếu phim và trung tâm triển lãm theo tiêu chuẩn hiện đại. Quy hoạch hạ tầng văn hóa cần gắn kết với quy hoạch phát triển đô thị thông minh. Môi trường sáng tạo sôi động sẽ thu hút nhân tài và nguồn vốn đầu tư quốc tế.

4.2. Đẩy mạnh chuyển đổi số ngành văn hóa toàn diện

Ứng dụng công nghệ số mở ra cơ hội phát triển đột phá cho các ngành công nghiệp văn hóa. Số hóa di sản văn hóa giúp bảo tồn lâu dài và mở rộng khả năng tiếp cận của công chúng. Đẩy mạnh chuyển đổi số ngành văn hóa trên các nền tảng phân phối trực tuyến hiện đại. Phát triển các sản phẩm văn hóa số như trò chơi điện tử, âm nhạc số và bảo tàng thực tế ảo. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong phân tích thị hiếu tiêu dùng văn hóa. Nâng cao năng lực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu sản phẩm văn hóa số. Doanh nghiệp cần chủ động chuyển đổi mô hình kinh doanh sang môi trường số linh hoạt. Chuyển đổi số giúp sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn ra thị trường toàn cầu nhanh chóng.

4.3. Hoàn thiện cơ chế chính sách thúc đẩy nguồn nhân lực

Con người là nhân tố trung tâm quyết định sự thành bại của chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa. Cần đổi mới chương trình đào tạo tại các trường văn hóa nghệ thuật theo hướng thực tiễn. Đào tạo kết hợp giữa năng khiếu nghệ thuật, kỹ năng số và kiến thức quản trị kinh doanh. Xây dựng chính sách đãi ngộ hấp dẫn để thu hút các chuyên gia và tài năng sáng tạo hàng đầu. Khuyến khích sự tham gia của các chuyên gia quốc tế vào công tác giảng dạy và tư vấn. Thiết lập các chương trình học bổng và quỹ tài trợ tài năng trẻ trong lĩnh vực sáng tạo. Nâng cao nhận thức của cộng đồng về vai trò của công nghiệp văn hóa trong phát triển bền vững. Nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ tạo nền tảng vững chắc cho nền kinh tế văn hóa.

Mục lục chi tiết luận án

LỜI MỞ ĐẦU
1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP VÀ DỊCH VỤ VĂN HÓA
2.1. Khái niệm về công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa
2.2. Tiếp cận nghiên cứu công nghiệp và dịch vụ văn hóa ở Việt Nam
2.3. Kinh nghiệm phát triển công nghiệp văn hóa của một số quốc gia và bài học cho Việt Nam
3. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP VÀ DỊCH VỤ VĂN HÓA VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. Thực trạng về chủ trương, chính sách liên quan đến phát triển công nghiệp và dịch vụ văn hoá
3.2. Thực trạng phát triển ngành công nghiệp và dịch vụ văn hoá Việt Nam
3.3. Một số vấn đề đặt ra từ thực trạng phát triển ngành công nghiệp và dịch vụ văn hóa Việt Nam
4. QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VÀ DỊCH VỤ VĂN HÓA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2015-2020, TẦM NHÌN 2030
4.1. Các yếu tố tác động, thời cơ và thách thức đối với phát triển công nghiệp, dịch vụ văn hóa Việt Nam
4.2. Quan điểm, định hướng phát triển công nghiệp và dịch vụ văn hoá Việt Nam (2015-2020, tầm nhìn 2030)
4.3. Các giải pháp phát triển công nghiệp và dịch vụ văn hóa Việt Nam giai đoạn 2015-2020, tầm nhìn 2030
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
other_appendix. DANH MỤC CÁC BẢNG
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án phát triển công nghiệp và dịch vụ văn hóa việt nam trong bối cảnh đẩy mạnh hội nhập quốc tế quan điểm định hướng giải pháp

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (155 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài. Tình hình nghiên cứu trong nước.

CƠ SƠ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP VÀ DỊCH VỤ VĂN HÓA. Khái niệm về công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa. Tiếp cận nghiên cứu công nghiệp và dịch vụ văn hóa ở Việt Nam. Kinh nghiệm phát triển công nghiệp văn hóa của một số quốc gia và bài học cho Việt Nam.

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP VÀ DỊCH VỤ VĂN HÓA VIỆT NAM HIỆN NAY. Thực trạng về chủ trương, chính sách liên quan đến phát triển công nghiệp và dịch vụ văn hoá. Thực trạng phát triển ngành công nghiệp và dịch vụ văn hoá Việt Nam. Một số vấn đề đặt ra từ thực trạng phát triển ngành công nghiệp và dịch vụ văn hóa Việt Nam.

QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VÀ DỊCH VỤ VĂN HÓAVIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2015-2020, TẦM NHÌN 2030. Các yếu tố tác động, thời cơ và thách thức đối với phát triển công nghiệp, dịch vụ văn hóa Việt Nam. Quan điểm, định hướng phát triển công nghiệp và dịch vụ văn hoá Việt Nam (2015-2020, tầm nhìn 2030). Các giải pháp phát triển công nghiệp và dịch vụ văn hóa Việt Nam giai đoạn 2015-2020, tầm nhìn 2030.130 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.

143 DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1: Nguồn nhân lực của ngành Nghệ thuật biểu diễn.75 Bảng 2: Đầu tư, nguồn vốn, cơ sở hạ tầng ngân sách cấp cho các đoàn nghệ thuật trung ương.79 Bảng 3: Thống kê tổng số hãng phim và số phim sản xuất từ 2004 -2008.84 Bảng 4: Số lượng phim được Nhà nước cấp phép phát hành từ 2004 đến 2008.86 LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn chủ đề nghiên cứu Vấn đề về mối quan hệ giữa văn hoá và kinh tế trong quá trình đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế luôn là vấn đề cơ bản và cấp thiết nhất của Việt Nam trong quá trình phát triển. Với tinh thần chủ động, chúng ta vẫn đảm bảo độc lập tự chủ và định hướng XHCN, không ngừng điều chỉnh đường lối, hể chế chính sách nhằm phát huy tối đa nội lực của đất nước cho phát triển. Nhưng có thể thấy thực trạng nền kinh tế nước ta hiện nay vẫn tiếp tục tồn tại những điểm yếu rất cơ bản trong phát triển, như: năng suất, hiệu quả nền kinh tế chưa cao, cơ cấu kinh tế còn lạc hậu, sức cạnh tranh yếu, nhiều thể chế chưa phù hợp.

Về lĩnh vực văn hoá, qua kinh nghiệm phát triển của nhiều nước cho thấy khi kinh tế tri thức trong nền kinh tế hiện đại phát triển thì công nghiệp và dịch vụ văn hóa cũng trở thành lĩnh vực kinh tế quan trọng, đóng vai trò “trụ cột” của khu vực dịch vụ. Thực tế cho đến nay, chúng ta vẫn chưa thực sự phát huy được các nguồn lực văn hóa với tư cách là động lực thúc đẩy sự phát triển. Mặt khác, sự vận động của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã tác động, làm biến đổi rất nhanh, rất sâu sắc đến đời sống xã hội. Một số lĩnh vực văn hoá, đặc biệt là đạo đức lối sống, đang có biểu hiện của sự suy thoái, từ sự suy thoái đạo đức biểu hiện ở sự tham nhũng vật chất, kinh tế bước sang tha hóa những giá trị tinh thần.

Môi trường văn hoá còn bị ô nhiễm bởi các tệ nạn xã hội, sự lan tràn của các sản phẩm và dịch vụ văn hoá mê tín dị đoan, độc hại, thấp kém, lai căng. Trong Kết luận của Hội nghị Trung ương 10 (khoá IX), Đảng ta đã chỉ rõ: “Sản phẩm văn hoá và dịch vụ văn hoá ngày càng phong phú nhưng vẫn thiếu những tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và 1 nghệ thuật, có ảnh hưởng tích cực, sâu sắc trong đời sống…Xu hướng thương mại hoá, chạy theo thị hiếu thấp kém trong một bộ phận báo chí, xuất bản, hoạt động văn hoá nghệ thuật, chưa được ngăn chặn có hiệu quả, đã làm giảm sút, hạ thấp các chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ của văn hoá” [61, tr. Trong khi đó, chúng ta còn chậm xây dựng hoàn thiện các thể chế văn hoá, đặc biệt là chưa đổi mới và thiếu sự đồng bộ trong chính sách kinh tế trong văn hóa và chính sách văn hoá trong kinh tế. Điều này đã và đang làm hạn chế rất lớn tác dụng của văn hoá đối với các lĩnh vực quan trọng của đời sống đất nước.

Khi mà hội nhập kinh tế quốc tế càng đi vào chiều sâu thì phát triển văn hoá không những tạo ra những ngành kinh tế mới, mà văn hoá càng nổi lên là một trong những trụ cột chính của sự hợp tác. Những vấn đề trọng tâm được đặt ra đối với các quốc gia, như: đối thoại giữa các nền văn hoá văn minh, chính sách bảo vệ, phát huy sự đa dạng văn hoá, vấn đề xuất nhập khẩu sản phẩm văn hoá, cạnh tranh trong phát triển công nghiệp văn hoá. Khẳng định vai trò của văn hoá trong quá trình phát triển, nguyên Tổng Giám đốc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc (UNESCO), ông F.Mayor đã khẳng định: “Kinh nghiệm của hai thập kỷ qua cho thấy rằng trong mọi xã hội ngày nay, bất luận ở trình độ phát triển kinh tế nào hoặc theo xu hướng chính trị nào, văn hóa và phát triển là hai mặt gắn liền với nhau (…). Hễ nước nào tự đặt ra cho mình mục tiêu phát triển kinh tế mà tách rời môi trường văn hóa thì nhất định sẽ xảy ra những mất cân đối nghiêm trọng cả về mặt kinh tế lẫn văn hóa và tiềm năng sáng tạo của nước ấy sẽ bị suy yếu rất nhiều.

Một sự phát triển chân chính đòi hỏi phải sử dụng một cách tối ưu nhân lực và vật lực của mỗi cộng đồng. Vì vậy phân tích đến cùng, các trọng tâm, các động lực và các mục đích của phát triển phải được tìm trong văn hóa.23]; “Từ nay trở đi văn hóa cần coi mình là một nguồn bổ sung trực tiếp cho phát triển và ngược lại phát triển cần thừa nhận 2 văn hóa giữ một vị trí trung tâm, một vai trò điều tiết xã hội”[20, tr. Nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hợp quốc về Văn hóa và Phát triển được thông qua ngày 22/11/2010 đã thừa nhận: “Văn hóa như một nguồn lực làm phong phú thêm và là nhân tố đóng góp quan trọng cho sự phát triển bền vững của các cộng đồng địa phương, dân tộc và quốc gia, thúc đẩy họ đóng một vai trò tích cực và độc đáo trong các sáng kiến phát triển”; đồng thời “Nhấn mạnh sự đóng góp quan trọng của văn hóa đối với sự bền vững phát triển, với việc đạt được các mục tiêu phát triển quốc gia và các mục tiêu phát triển đã cam kết với quốc tế, bao gồm cả các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ”[60]. Như vậy, xét trên bình diện quốc tế, mối quan hệ nhân quả giữa văn hóa và phát triển bền vững đã đạt được sự đồng thuận cao và là bước phát triển mới trong tư duy về mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và phát triển kinh tế.

Trong quan niệm mới phát triển, phải bao gồm các nhân tố kinh tế và xã hội, cũng như các giá trị đạo đức và văn hoá, cở sở để phát triển hoàn thiện con người - chủ thể của sáng tạo và phát triển bền vững. Kế thừa và phát triển tư duy lý luận về vai trò của văn hóa trong phát triển, một trong những nội dung quan trọng trong Cương lĩnh xây dựng đất nước (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta đã nêu lên định hướng về văn hóa và phát triển với nội hàm toàn diện, sâu sắc: “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”[18, tr. Từ Nghị quyết Đại hội Đảng XI, nhận thức của Việt Nam về phát triển ngành công nghiệp văn hoá có bước phát triển mới: xem đây là một trong những ngành công nghiệp có cơ sở đảm bảo mối quan hệ giữa phát triển văn hoá và kinh tế giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH, chủ động hội nhập quốc tế hiện nay. Tháng 10/2013, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 22-NQ/TW về 3 hội nhập quốc tế, trong việc xây dựng Chiến lược phát triển ngành công nghiệp văn hoá Việt Nam được xem là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ.

Nghị quyết 33/NQ-TW Hội nghị lần thứ 9, khoá XI về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, tiếp tục khẳng định phát triển công nghiệp văn hoá là một trong năm mục tiêu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN được coi là yếu tố để thực hiện quan điểm "Phát triển nhanh và bền vững" nhưng phải có những bước "đột phát phát triển" trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 của đất nước (gọi tắt là Chiến lược phát triển 2011- 2020). Vai trò của Nhà nước trong Chiến lược phát triển, được khẳng định: “Nhà nước bằng quy hoạch, kế hoạch, các chính sách và công cụ điều tiết, hướng các nguồn lực vào các ngành, lĩnh vực và các vùng miền, bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn liền với xóa đói giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; quan tâm phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế”[16]. Chiến lược phát triển 2011-2020 đã nêu những định hướng quan trọng: Định hướng thứ 4, “Phát triển mạnh các ngành dịch vụ, nhất là các dịch vụ có giá trị cao, tiềm năng lớn và có sức cạnh tranh”[19, tr.33-34] và định hướng thứ 7 là “Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế”, theo đó “Tạo bước phát triển mạnh mẽ về văn hóa, xã hội.

Tăng đầu tư của Nhà nước, đồng thời đẩy mạnh huy động các nguồn lực của xã hội để phát triển văn hóa, xã hội… Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa… xử lý tốt mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, là một động lực phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Phát triển công nghiệp văn hóa và dịch vụ tại Việt Nam (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/thiet-ke-kien-truc-nghe-thuat/phat-trien-cong-nghiep-van-hoa-vi-viet-nam-trong-hoi-nhap-quoc-te

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Phát triển công nghiệp văn hóa và dịch vụ tại Việt Nam" nghiên cứu về vấn đề gì?

Phát triển công nghiệp văn hóa và dịch vụ tại Việt Nam góp phần thúc đẩy kinh tế sáng tạo, nâng cao giá trị di sản và nâng tầm thương hiệu quốc gia.

Luận án "Phát triển công nghiệp văn hóa và dịch vụ tại Việt Nam" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Phát triển công nghiệp văn hóa và dịch vụ tại Việt Nam" thuộc chuyên ngành Văn hóa học / Quản lý văn hóa. Danh mục: Thiết Kế & Kiến Trúc Nghệ Thuật.

Luận án "Phát triển công nghiệp văn hóa và dịch vụ tại Việt Nam" có bao nhiêu trang?

Luận án "Phát triển công nghiệp văn hóa và dịch vụ tại Việt Nam" có 155 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Phát triển công nghiệp văn hóa và dịch vụ tại Việt Nam" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter