Kinh tế biển đảo vùng nam bộ 1802 1945
Luận án: Kinh tế biển đảo vùng nam bộ 1802 1945. Xem tóm tắt và tải về tại LuanAn.net
Luan An
Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản
Số trang
125
Thời gian đọc
19 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
40 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Tổng quan kinh tế biển đảo Nam Bộ giai đoạn 1802-1945
- Số trang:
- 125 trang
- Trường:
- Trường Đại học Sư phạm
- Chuyên ngành:
- Lịch sử Việt Nam
- Tác giả:
- Võ Minh Trường
- Năm:
- 2025
Tóm tắt nội dung luận án
I. Tổng quan kinh tế biển đảo Nam Bộ giai đoạn 1802 1945
Kinh tế biển đảo vùng Nam Bộ giai đoạn 1802 - 1945 là một bộ phận trọng yếu trong lịch sử phát triển phương Nam. Vùng đất này sở hữu mạng lưới sông ngòi chằng chịt nối liền biển cả. Không gian địa lý rộng mở tạo điều kiện giao thương đường biển thuận lợi. Từ đầu thế kỷ XIX, các hoạt động kinh tế biển diễn ra sôi nổi. Dân cư tập trung đông đúc tại các cửa sông lớn và hải đảo ven bờ. Sự kết hợp giữa nông nghiệp đồng bằng và kinh tế biển tạo nên thế cân bằng bền vững. Nguồn lợi tự nhiên phong phú thúc đẩy ngư nghiệp, thương nghiệp và giao thông thủy phát triển mạnh mẽ. Toàn bộ tiến trình lịch sử phản ánh năng lực thích ứng biển của cư dân Nam Bộ.
1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên vùng biển Nam Bộ
Vùng biển Nam Bộ trải dài từ vịnh Gành Rái đến vịnh Thái Lan. Địa hình bờ biển thoải, nhiều rừng ngập mặn và luồng lạch sâu. Hệ thống sông Đồng Nai và sông Cửu Long đổ trực tiếp ra biển Đông qua nhiều cửa biển lớn. Nguồn nước giàu phù sa nuôi dưỡng các bãi tôm cá trù phú quanh năm. Khí hậu nhiệt đới gió mùa tạo chu kỳ đánh bắt thuận tiện theo mùa gió. Vùng biển Tây Nam có các đảo lớn như Phú Quốc, Thổ Chu, Hòn Khoai che chắn sóng gió. Vị trí địa lý đặc biệt này biến duyên hải Nam Bộ thành cửa ngõ hàng hải quốc tế quan trọng. Điều kiện tự nhiên thuận lợi thúc đẩy việc định cư và phát triển nghề cá sớm.
1.2. Bối cảnh lịch sử và không gian kinh tế biển Nam Kỳ lục tỉnh
Không gian kinh tế biển Nam Kỳ lục tỉnh định hình rõ nét qua tiến trình mở cõi và khai khẩn đất đai. Triều đình nhà Nguyễn chia vùng đất phương Nam thành sáu tỉnh gồm Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Mỗi tỉnh đều có dải bờ biển hoặc các tuyến đường thủy kết nối trực tiếp ra đại dương. Cư dân quy tụ tại các bến sông, bãi biển và cù lao để lập làng. Sự đan xen giữa văn hóa nông nghiệp lúa nước và tập quán đi biển tạo nên lối sống hướng biển đặc thù. Kinh tế biển trở thành động lực thúc đẩy giao thương nội vùng và bảo vệ biên cương tổ quốc.
II. Chính sách quản lý kinh tế biển đảo Nam Bộ triều Nguyễn
Hoạt động quản lý vùng duyên hải dưới triều Nguyễn đạt trình độ tổ chức cao. Nhà nước phong kiến nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của an ninh và kinh tế biển đảo. Vua Gia Long và vua Minh Mạng ban hành nhiều chỉ dụ quản lý duyên hải. Các chính sách tập trung bảo vệ chủ quyền, khuyến khích khai thác hải sản và thu thuế đường biển. Hệ thống đồn kiểm soát được thiết lập dày đặc tại các cửa sông hiểm yếu. Thủy quân thường xuyên tuần tiễu trấn áp cướp biển, bảo vệ thuyền buôn. Thể chế quản lý biển thời kỳ này vừa nghiêm ngặt, vừa tạo không gian cho thương nhân hoạt động hợp pháp.
2.1. Hoàn thiện chính sách biển triều Nguyễn 1802 1858
Triều đình thực thi chính sách biển triều Nguyễn 1802 1858 nhằm bảo vệ chủ quyền và phát triển nguồn thu ngân khố. Vua Nguyễn cử các đội tuần hải kiểm tra định kỳ vùng biển Tây Nam và quần đảo phía Nam. Nhà nước cấp phép khai thác tài nguyên và quản lý dân cư trên các đảo tiền tiêu. Thủy quân được trang bị ghe chiến, pháo thần công để giữ gìn trật tự an ninh trên biển. Chính quyền bảo trợ cho các làng chài ven biển và cấp đất mở rộng bãi bồi. Các quy định chặt chẽ về cứu hộ tàu thuyền gặp nạn cũng được ban hành và thực thi nghiêm túc.
2.2. Kiểm soát thuế quan thủy lộ đường biển thời Nguyễn
Triều đình áp dụng hệ thống thuế quan thủy lộ đường biển thời Nguyễn chặt chẽ đối với mọi tàu thuyền qua lại. Các trạm tấn quan được đặt tại cửa Cần Giờ, Cửa Tiểu, Cửa Đại và Hà Tiên. Nhân viên quan thuế kiểm tra hàng hóa, đo đạc kích thước tàu và thu thuế thông hành. Mức thuế tính theo sức chở của thuyền buôn và chủng loại hàng hóa thực tế. Hệ thống sổ sách kiểm soát minh bạch giúp triều đình nắm bắt lưu lượng tàu buôn nội địa và ngoại quốc. Nguồn thu thuế từ đường biển đóng góp phần lớn vào ngân sách quân sự và hành chính của các tỉnh Nam Kỳ.
III. Ngành khai thác nguồn lợi kinh tế biển đảo vùng Nam Bộ
Khai thác tài nguyên biển đảo Nam Bộ thế kỷ XIX diễn ra đa dạng và sôi nổi. Vùng biển trù phú cung cấp lượng thủy hải sản khổng lồ cho đời sống nhân dân. Nghề đánh bắt cá, làm muối và thu gom đặc sản biển phát triển thành ngành nghề truyền thống. Ngư dân sử dụng ghe bầu, ghe lưới đáy để vươn khơi xa. Nhiều làng nghề chế biến mắm, cá khô hình thành ven biển từ Vũng Tàu đến Hà Tiên. Sản phẩm biển không chỉ phục vụ tiêu dùng nội địa mà còn trở thành hàng xuất khẩu có giá trị. Hoạt động này tạo sinh kế vững chắc cho hàng vạn gia đình di dân phương Nam.
3.1. Đánh bắt chế biến thủy hải sản Nam Kỳ và nghề làm muối
Ngành đánh bắt chế biến thủy hải sản Nam Kỳ phát triển vượt bậc nhờ ngư trường rộng và nguồn lợi dồi dào. Ngư dân sáng chế nhiều ngư cụ thích hợp như lưới cào, vó, đăng và đăng đáy sông biển. Cá cơm, cá thu, tôm he được thu hoạch với sản lượng rất lớn quanh năm. Cư dân ven biển Bạc Liêu, Ba Tri, Long Điền đẩy mạnh nghề muối duyên hải Nam Bộ. Muối biển trắng tinh khiết dùng để ướp cá, làm nước mắm và tiêu thụ sâu trong đất liền. Nghề làm mắm truyền thống tại Châu Đốc, Phú Quốc và Phan Thiết tạo nên chuỗi giá trị kinh tế biển độc đáo.
3.2. Đẩy mạnh khai thác biển đảo Phú Quốc Côn Đảo
Hoạt động khai thác biển đảo Phú Quốc Côn Đảo được chính quyền và cư dân đẩy mạnh qua nhiều thế kỷ. Đảo Phú Quốc nổi tiếng với rừng gỗ quý, đồn điền hồ tiêu và nguồn hải sản quanh năm phong phú. Ngư dân trên đảo sản xuất nước mắm cá cơm truyền thống với chất lượng thượng hạng, danh tiếng lan rộng khắp Nam Kỳ. Tại Côn Đảo, việc đánh bắt đồi mồi, ốc hương, ngọc trai mang lại giá trị kinh tế lớn. Triều đình cử quan lại quản lý dân cư trên đảo, khuyến khích người dân lập xóm ấp định cư lâu dài để giữ vững phên dậu biển đảo.
3.3. Đặc quyền khai thác yến sào hải sâm đồi mồi ven hải đảo
Triều đình tổ chức chặt chẽ việc khai thác yến sào hải sâm đồi mồi tại các hòn đảo xa bờ. Yến sào trên các vách đá đảo Côn Lôn, Hòn Khoai thuộc hàng cống phẩm quý giá cho cung đình. Đội thợ chuyên nghiệp leo vách đá cheo leo để thu hoạch tổ yến đúng thời vụ. Hải sâm và mai đồi mồi được săn lùng làm vị thuốc quý và hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu sang Trung Hoa. Nhà nước cấp môn bài riêng cho các cai đội khai thác đặc sản biển. Đây là mặt hàng mang lại siêu lợi nhuận cho thương nhân và tạo nguồn thu thuế lớn.
IV. Mạng lưới thương mại và kinh tế biển đảo Nam Bộ mở rộng
Giao thương đường biển giữ vai trò huyết mạch kết nối Nam Bộ với thị trường thế giới. Mạng lưới sông rạch đổ ra biển tạo thành các tuyến hải trình giao thương thông suốt. Thuyền buôn từ các nước trong khu vực thường xuyên cập cảng Nam Bộ trao đổi sản vật. Gạo, gỗ quý, hải sản khô được xuất khẩu số lượng lớn qua đường biển. Hàng hóa nhập khẩu gồm vải vóc, gốm sứ, đồ kim khí và thuốc men. Hoạt động ngoại thương đường biển kích thích kinh tế hàng hóa địa phương phát triển nhanh. Nam Bộ trở thành trung tâm trung chuyển hàng hải sôi động bậc nhất khu vực Đông Nam Á.
4.1. Mậu dịch hàng hải Nam Bộ thế kỷ 19 qua các hải cảng
Hoạt động mậu dịch hàng hải Nam Bộ thế kỷ 19 diễn ra tấp nập tại các thương cảng Gia Định, Bến Nghé và Hà Tiên. Tàu thuyền của thương nhân Hoa kiều, Xiêm La, Mã Lai cập bến thường xuyên theo mùa gió mùa. Thuyền buôn phương Tây cũng tìm đến mua bán lúa gạo và nông lâm thủy sản. Cảng Bến Nghé trở thành đầu mối thu gom hàng hóa từ khắp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Các hội quán thương nhân người Hoa đóng vai trò cầu nối tài chính và phân phối hàng hóa. Khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu tăng trưởng liên tục qua từng năm.
4.2. Mở rộng tuyến hải trình vịnh Thái Lan biển Đông
Các đoàn thuyền buôn liên tục khai thác tuyến hải trình vịnh Thái Lan biển Đông để vận chuyển hàng hóa quốc tế. Tuyến đường này nối liền cảng Hà Tiên, Phú Quốc sang Kampot, Bangkok và Singapore. Thuyền bè vượt biển an toàn nhờ sự thông thuộc dòng hải lưu và các đảo dừng chân tránh trú bão. Các mặt hàng muối, cá khô, hồ tiêu và gạo được chở đi bán khắp vịnh Thái Lan. Sự thông thương đường biển thúc đẩy quá trình giao lưu văn hóa và kinh tế giữa các cộng đồng dân cư. Tuyến hàng hải này duy trì sự phồn vinh lâu dài cho dải duyên hải Tây Nam.
V. Bước chuyển biến mới của kinh tế biển đảo vùng Nam Bộ
Giai đoạn từ năm 1874 đến năm 1945 chứng kiến bước chuyển biến lớn của kinh tế biển Nam Kỳ. Thực dân Pháp áp đặt chế độ thuộc địa, mở rộng khai thác tài nguyên quy mô lớn. Công nghệ hàng hải và đánh bắt hiện đại phương Tây được du nhập vào Việt Nam. Các cảng biển cũ được nâng cấp thành cảng thương mại hiện đại với cầu tàu kiên cố. Tàu chạy bằng hơi nước thay thế dần các loại thuyền buồm truyền thống. Cơ cấu kinh tế biển chuyển dịch từ tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa xuất khẩu quy mô lớn phục vụ chính quốc và thị trường thuộc địa.
5.1. Vai trò của thương cảng Sài Gòn thời Pháp thuộc
Sự hình thành và phát triển của thương cảng Sài Gòn thời Pháp thuộc đã thay đổi diện mạo kinh tế toàn vùng. Chính quyền thuộc địa đầu tư xây dựng hệ thống bến cảng, ụ tàu Ba Son và kho bãi quy mô lớn. Tàu buôn quốc tế trọng tải lớn có thể ra vào bến sông Sài Gòn thuận lợi theo dòng thủy triều. Cảng Sài Gòn giữ vị trí xuất khẩu gạo và cao su hàng đầu châu Á. Mạng lưới hải vận kết nối trực tiếp Sài Gòn với Marseille, Hồng Kông và Singapore. Thương cảng này trở thành đầu tàu kéo theo sự phát triển của hệ thống ngân hàng và dịch vụ hàng hải.
5.2. Sự biến đổi của nghề muối duyên hải Nam Bộ và ngư nghiệp
Ngành ngư nghiệp và nghề muối duyên hải Nam Bộ bước vào thời kỳ thương mại hóa mạnh mẽ dưới thời Pháp. Công nghệ đóng tàu vỏ gỗ gắn máy đẩy năng suất đánh bắt xa bờ tăng cao. Các xưởng chế biến nước mắm công nghiệp quy mô lớn ra đời tại Phú Quốc và Hòn Gai. Muối Bạc Liêu được độc quyền thu mua và phân phối khắp Đông Dương qua hệ thống thuế muối của Pháp. Đời sống diêm dân và ngư dân chịu sự kiểm soát chặt chẽ của các hãng tư bản lớn. Dù vậy, các làng nghề truyền thống vẫn duy trì sức sống bền bỉ và tạo ra sản lượng dồi dào.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (125 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM VÕ MINH TRƯỜNG KINH TẾ BIỂN ĐẢO VÙNG NAM BỘ (1802-1945) LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM Đà Nẵng - Năm 2025 ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM VÕ MINH TRƯỜNG KINH TẾ BIỂN ĐẢO VÙNG NAM BỘ (1802-1945) Chuyên ngành: Lịch Sử Việt Nam Mã số: 3184122009 LUẬN VĂN THẠC SĨ Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN DUY PHƯƠNG Đà Nẵng - Năm 2025 v MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN .ii TRANG THÔNG TIN LUẬN VĂN THẠC SĨ. iii INFORMATION PAGE OF MASTER THESIS. iv MỤC LỤC.
Lí do chọn đề tài. Lịch sử nghiên cứu vấn đề. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu. Đóng góp của luận văn. Bố cục của luận văn. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG KINH TẾ BIỂN ĐẢO VÙNG NAM BỘ (1802 – 1945).
Tổng quan về biển đảo vùng Nam Bộ. Vị trí địa lý. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên. Điều kiện kinh tế, văn hóa và xã hội.
Khái quát lịch sử xác lập và phát triển vùng biển đảo Nam Bộ đến năm 1945. Kinh tế biển đảo vùng Nam Bộ trước năm 1802. Chính sách của triều Nguyễn và chính quyền thực dân Pháp đối với việc quản lý và khai thác. Khái niệm và một số vấn đề về kinh tế biển đảo.
21 Tiểu kết chương 1. HOẠT ĐỘNG KINH TẾ BIỂN ĐẢO VÙNG NAM BỘ (1802- 1945). Hoạt động Kinh tế biển đảo ở vùng Nam Bộ từ năm 1802 đến năm 1874. Bối cảnh quốc tế và trong nước đầu thế kỷ XIX.
Hoạt động khai thác, chế biến hải sản. Hoạt động vận tải biển. Hoạt động thương mại biển. Một số hoạt động khác.
Hoạt động Kinh tế biển đảo ở vùng Nam Bộ (1874 – 1945). Bối cảnh quốc tế và trong nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Hoạt động khai thác, chế biến hải sản. Hoạt động vận tải biển.
Hoạt động thương mại biển. Một số hoạt động khác. 62 Tiểu Kết chương 2. VAI TRÒ, ĐẶC ĐIỂM CỦA KINH TẾ BIỂN ĐẢO VÙNG NAM BỘ (1802 – 1945).
86 Tiểu kết chương 3. 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 92 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (Bản sao) PHỤ LỤC .PL1 BẢN TƯỜNG TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN BIÊN BẢN BẢO VỆ HỌP HỘI ĐỒNG NHẬN XÉT CỦA 2 PHẢN BIỆN 1 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Việt Nam là một quốc gia ven biển nằm ở phía Tây của Biển Đông, sở hữu vị trí địa chính trị và địa kinh tế đặc biệt quan trọng mà không phải quốc gia nào cũng có được.
Với đường bờ biển kéo dài khoảng 3.260 km từ Bắc tới Nam, cùng hệ thống đảo và quần đảo phong phú, Việt Nam có một không gian biển rộng lớn, đóng vai trò chiến lược trong phát triển kinh tế và bảo đảm an ninh quốc gia. Khu vực biển đảo không chỉ là không gian sinh tồn của dân tộc mà còn là nền tảng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là đối với các ngành kinh tế biển trọng điểm như: vận tải biển, đóng tàu, khai thác và nuôi trồng thủy sản, chế biến hải sản, du lịch biển,… Ngay từ đầu Công nguyên, các phát hiện khảo cổ học đã cho thấy người Việt cổ đã sớm thiết lập các hoạt động kinh tế và văn hóa gắn liền với biển đảo một cách chủ động và liên tục. Kết hợp với hệ thống sử liệu phong phú, có độ tin cậy và giá trị pháp lý cao từ cả nguồn trong nước và quốc tế, có thể khẳng định rằng Việt Nam là một quốc gia đã sớm hình thành các hoạt động kinh tế biển đảo, đồng thời duy trì sự quản lý thực tế, thường xuyên đối với các vùng đảo và quần đảo – không chỉ trên phạm vi cả nước mà còn đặc biệt rõ nét tại khu vực Nam Bộ. Từ thời chúa Nguyễn, Vương triều Tây Sơn, các đội Hoàng Sa, Bắc Hải có nhiệm vụ tuần tiễu giữ gìn vùng biển, ứng chiến với nạn cướp biển và xâm hại tại các đảo và quần đảo thuộc chủ quyền Việt Nam.
Đến thời triều Nguyễn, các đội thuỷ quân chuyên trách công việc bảo vệ, thực thi chủ quyền ở khu vực biển đảo cũng đã được tổ chức thực hiện. Triều Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam. Trong thời gian tồn tại, triều Nguyễn là triều đại ghi dấu nhiều thăng trầm trong lịch sử, đặc biệt là cuộc xâm lược của Pháp vào giữa thế kỷ XIX. Tuy nhiên, trong suốt quá trình tồn tại, các vị vua triều Nguyễn đều nhận thức biển đảo có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn vong của triều đại, với an ninh quốc gia, dân tộc.
Nó được xem là nhân tố, là cơ sở để phòng thủ, bảo vệ quốc gia từ xa trước sự dòm ngó của bên ngoài, nhất là các nước phương Tây. Đó cũng chính là một trong những yếu tố tác động đến ý thức hướng biển và chủ trương tăng cường phòng thủ biển đảo của triều Nguyễn. Theo tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam lãnh thổ và biên giới của Việt Nam ngày càng được củng cố và từ lâu đã trở thành thực thể thống nhất từ Bắc chí Nam, trong đó có vùng đất Nam Bộ. Nam Bộ có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, là vùng kinh tế năng động, đi đầu 2 trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong quá trình khai phá lãnh thổ của người Việt về phương Nam, các làng xã của người Việt sinh sống chủ yếu ở các cửa sông, cửa biển để phát triển kinh tế hướng biển. Các vua Nguyễn cũng đã nhận thức đúng đắn vai trò của biển đảo, nhờ đó trong suốt thế kỷ XIX, hoạt động khai thác nguồn lợi biển đảo dưới triều Nguyễn đã diễn ra với nhiều hoạt động phong phú, đa dạng, điều này không chỉ thể hiện sự hiện diện thường xuyên của Việt Nam trên vùng biển đảo Nam Bộ mà còn góp phần bảo vệ an ninh chủ quyền quốc gia. Từ những kinh nghiệm mà các vị vua triều Nguyễn đã tiến hành trong việc thực hiện các chính sách về khai thác, phát triển kinh tế biển đảo đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho các hoạt động khai thác nguồn lợi biển đảo sau này. Đến cuối thế kỷ XIX, thấy được tầm quan trọng của kinh tế biển đảo cả nước nói chung và khu vực Nam Bộ nói riêng thì chính quyền thực dân Pháp (khi đó là đại diện ngoại giao của triều Nguyễn) tiếp tục khẳng định chủ quyền của Việt Nam, quản lý, bảo vệ các đảo và quần đảo trên Biển Đông thuộc chủ quyền của Việt Nam theo đúng thông lệ quốc tế.
Đến đầu thế kỷ XX, người Pháp đã tiến hành xây dựng cột mốc chủ quyền, đèn biển, trạm khí tượng, trạm vô tuyến điện và thực hiện nhiều khảo sát khoa học. Trong những năm gần đây, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự quản lý hiệu quả của Nhà nước, toàn thể quân và dân ta đã chủ động, tích cực triển khai nhiều hoạt động nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định rõ lập trường và quyết tâm chiến lược: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ, lợi ích quốc gia – dân tộc trên biển, trên không và trên bộ; hợp tác quốc tế về biển, đảo được tăng cường, duy trì môi trường hòa bình, ổn định, thúc đẩy quan hệ với các nước”.
Hiện nay, sức mạnh tổng hợp của quốc gia không ngừng được củng cố, vị thế và tiềm lực của nước ta trên các vùng biển và hải đảo ngày càng được nâng cao. Thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và đặc biệt là “thế trận lòng dân” trên biển, đảo tiếp tục được tăng cường, tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đồng thời, các lực lượng chức năng làm nhiệm vụ quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo đang từng bước được xây dựng, phát triển theo hướng chính quy, hiện đại và ngày càng vững mạnh hơn. Như vậy, nghiên cứu hoạt động khai thác nguồn lợi biển đảo ở vùng biển Nam Bộ dưới triều Nguyễn (1802-1945) sẽ giúp chúng ta tìm hiểu một cách đầy đủ và toàn diện hơn về tiềm năng, cách thức và hoạt động khai thác biển đảo, từ đó rút ra 3 bài học kinh nghiệm cho việc phát triển các ngành kinh tế biển hiện nay, góp phần thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Vì những lí do trên, việc nghiên cứu đề tài “Kinh tế biển đảo vùng Nam Bộ (1802 – 1945)” có nhiều ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Vấn đề kinh tế biển đảo vùng Nam Bộ (1802 – 1945) là một chủ đề có ý nghĩa lịch sử và thực tiễn sâu sắc. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện tiếp cận một cách hệ thống, nhất quán. Một số nghiên cứu hiện có mới chỉ đề cập đến các khía cạnh riêng lẻ như đời sống ngư dân, chính sách bảo vệ chủ quyền, hoạt động thủy quân, hay thương mại hàng hải.
Các công trình tiêu biểu có thể kể đến như sau: Liên quan đến kinh tế biển, Nguyễn Duy Thiệu có tác phẩm Cộng đồng ngư dân Việt Nam (2002), NXB Khoa Học- Xã Hội, sách viết về cộng đồng ngư dân Việt Nam trong bối cảnh xã hội cổ truyền, nhưng chỉ tập trung đi sâu vào mảng văn hóa, xã hội, cơ cấu tổ chức của làng ngư nghiệp mà chưa khai thác một cách toàn diện về nền kinh tế biển trong đó có kinh tế ngư nghiệp. Một số hội thảo khoa học lớn do Hội Khoa học Lịch sử tổ chức trong những năm gần đây đã góp phần cung cấp nguồn tư liệu và đánh giá khách quan hơn về triều Nguyễn trong mối liên hệ với chủ quyền biển đảo. Đáng chú ý là tập sách Triều Nguyễn với công cuộc bảo vệ biển đảo Tổ quốc thế kỷ XIX (PGS. Đỗ Bang chủ biên, NXB Đà Nẵng, 2014), tập hợp 12 bài nghiên cứu phân tích vị trí chiến lược, các chính sách bảo vệ và quản lý biển đảo của triều Nguyễn.
Các bài viết của TS. Phan Hải và PGS.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Võ Minh Trường (2025). Kinh tế biển đảo vùng nam bộ 1802 1945 [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm]. LuanAn.net. https://luanan.net/tai-lieu-khac/kinh-te-bien-dao-vung-nam-bo-1802-1945
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Kinh tế biển đảo vùng nam bộ 1802 1945" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án: Kinh tế biển đảo vùng nam bộ 1802 1945. Xem tóm tắt và tải về tại LuanAn.net
Luận án "Kinh tế biển đảo vùng nam bộ 1802 1945" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm. Năm bảo vệ: 2025.
Luận án "Kinh tế biển đảo vùng nam bộ 1802 1945" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Kinh tế biển đảo vùng nam bộ 1802 1945" thuộc chuyên ngành Lịch Sử Việt Nam. Danh mục: Tài liệu khác.
Luận án "Kinh tế biển đảo vùng nam bộ 1802 1945" có bao nhiêu trang?
Luận án "Kinh tế biển đảo vùng nam bộ 1802 1945" có 125 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Kinh tế biển đảo vùng nam bộ 1802 1945" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.