Triết lý giáo dục thế giới và Việt Nam - Tác giả Giáo sư, Viện sĩ Phạm Minh Hạc
Khám phá triết lý giáo dục thế giới và Việt Nam. Phân tích, so sánh và đề xuất hướng phát triển giáo dục nước nhà.
Giáo dục học / Triết lý giáo dục
Luan An
Sách
Năm xuất bản
Số trang
476
Thời gian đọc
1 giờ 12 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
60 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Tổng quan Triết lý Giáo dục: Thế giới & Việt Nam
- Số trang:
- 476 trang
- Chuyên ngành:
- Giáo dục học / Triết lý giáo dục
- Tác giả:
- Phạm Minh Hạc
- Năm:
- 2013
Tóm tắt nội dung luận án
I. Tổng quan Triết lý Giáo dục Thế giới Việt Nam
Cuốn sách "Triết lý giáo dục thế giới và Việt Nam" trình bày tổng quan về các quan điểm giáo dục. Sách nghiên cứu sâu triết lý giáo dục ở Việt Nam qua nhiều thời kỳ. Mục đích là cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị. Tài liệu này hỗ trợ cho việc nghiên cứu, hoàn thiện triết lý giáo dục quốc gia. Nó diễn ra trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế. Văn bản thảo luận về những thành tựu giáo dục Việt Nam đã đạt được. Nó cũng nêu rõ các thách thức hiện tại. Điều này nhấn mạnh sự cần thiết của một triết lý giáo dục rõ ràng, hiệu quả. Triết lý đó phải đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Mục tiêu giáo dục và giá trị giáo dục được xem xét kỹ lưỡng. Cuốn sách là nguồn tài liệu quý giá để hiểu sâu hơn về định hướng giáo dục.
1.1. Bối cảnh giáo dục Việt Nam và Thành tựu nổi bật
Giáo dục Việt Nam đạt nhiều thành tựu lớn từ năm 1945. Giai đoạn đổi mới từ năm 1986 chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ. Đường lối giáo dục đúng đắn của Đảng và Nhà nước đóng vai trò chủ chốt. Truyền thống hiếu học của dân tộc được phát huy. Nhân dân đóng góp rất nhiều công sức, của cải xây dựng trường lớp. Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục và học sinh, sinh viên có những cố gắng lớn. Toàn xã hội nhận thức rõ vai trò của giáo dục. Vai trò này đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các thành quả phát triển kinh tế, ổn định chính trị đã tạo cơ hội cho giáo dục phát triển. Những thành tựu này là nền tảng vững chắc cho các mục tiêu giáo dục tiếp theo. Chúng thể hiện giá trị giáo dục được cả cộng đồng ủng hộ.
1.2. Thách thức và Định hướng Đổi mới Giáo dục
Giáo dục Việt Nam còn nhiều yếu kém và bất cập. Quy mô, cơ cấu giáo dục cần được cải thiện. Chất lượng và hiệu quả còn thấp. Chưa đáp ứng được yêu cầu về nhân lực của công cuộc đổi mới. Hội nhập quốc tế đặt ra nhiều thách thức mới. Đảng khẳng định giáo dục là quốc sách hàng đầu. Giáo dục quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Cần đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam. Hướng đi là chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo. Phát triển kỹ năng thực hành và khả năng lập nghiệp cho người học. Chương trình giáo dục cần được xem xét lại. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh. Kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Giáo dục toàn diện là mục tiêu chính. Các giá trị giáo dục cốt lõi cần được thấm nhuần.
II. Định hình Triết lý Giáo dục Quốc gia Việt Nam
Nền giáo dục cần một triết lý rõ ràng và có hệ thống. Triết lý giáo dục định hướng toàn bộ hoạt động giáo dục. Tại Việt Nam, có nhiều cuộc thảo luận về triết lý giáo dục quốc gia. Cuốn sách cung cấp cơ sở quan trọng cho những cuộc thảo luận này. Nó góp phần chấn chỉnh, củng cố và phát triển giáo dục nước nhà. Sự thống nhất về triết lý là cần thiết. Điều này giúp kiến nghị các chính sách giáo dục phù hợp. Triết lý phải thể hiện được bản sắc dân tộc và hội nhập quốc tế. Nó là kim chỉ nam cho mọi đổi mới và cải cách giáo dục. Mục tiêu giáo dục rõ ràng là yếu tố tiên quyết. Các giá trị giáo dục cần được xác định cụ thể.
2.1. Triết lý Giáo dục Việt Nam qua các Thời kỳ Lịch sử
Việt Nam có một triết lý giáo dục có hệ thống. Triết lý này đã hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn lịch sử. Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nền giáo dục Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nó đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Triết lý giáo dục Hồ Chí Minh là một nền tảng tư tưởng cốt lõi. Triết lý này từng bước hoàn chỉnh. Mặc dù còn những hạn chế, yếu kém, nó đã góp phần xây dựng đất nước. Sự phát triển này thể hiện mục tiêu giáo dục rõ ràng. Nó cũng phản ánh các giá trị giáo dục được cộng đồng công nhận.
2.2. Hoàn thiện Triết lý Giáo dục trong Bối cảnh Mới
Cần xem xét và bổ sung triết lý giáo dục hiện hành. Triết lý phải phù hợp với thời đại và hoàn cảnh mới. Điều này đặc biệt quan trọng trong điều kiện kinh tế thị trường. Hội nhập quốc tế đòi hỏi sự thích ứng nhanh chóng. Việc hoàn thiện triết lý góp phần thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Triết lý giáo dục cần giải quyết các vấn đề đặt ra. Nó nhằm chấn hưng nền giáo dục nước nhà. Chương trình giáo dục cần được điều chỉnh theo triết lý mới. Sự điều chỉnh này giúp nâng cao chất lượng và hiệu quả.
III. Mục tiêu và Giá trị cốt lõi của Giáo dục Việt Nam
Mục tiêu giáo dục là kim chỉ nam cho mọi hoạt động đào tạo. Các giá trị cốt lõi định hình phẩm chất và năng lực người học. Việt Nam xác định rõ ràng các mục tiêu và giá trị này. Chúng hướng đến sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam. Mục tiêu là tạo ra công dân có tri thức, đạo đức, sức khỏe. Người học cần có kỹ năng, khả năng thích ứng cao. Giáo dục toàn diện là định hướng xuyên suốt. Nó đảm bảo sự hài hòa giữa phát triển cá nhân và yêu cầu xã hội. Chương trình giáo dục được xây dựng dựa trên các mục tiêu và giá trị này. Điều này giúp tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao.
3.1. Nâng cao Chất lượng Giáo dục và Đào tạo nguồn nhân lực
Giáo dục cần đạt chất lượng cao hơn nữa. Nó phải đáp ứng yêu cầu lớn và ngày càng cao về nhân lực. Nhân lực phục vụ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mục tiêu là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Giáo dục phải cung cấp nhân lực có trình độ, năng lực. Đây là yêu cầu cấp thiết trong điều kiện kinh tế thị trường. Việc này giúp Việt Nam cạnh tranh hiệu quả trên trường quốc tế. Chương trình giáo dục phải được thiết kế khoa học. Nó đảm bảo tính thực tiễn và hội nhập.
3.2. Phát triển Đạo đức Năng lực Sáng tạo Kỹ năng thực hành
Giáo dục chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên. Nâng cao năng lực sáng tạo là một trọng tâm. Phát triển kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp cũng rất quan trọng. Đây là các giá trị giáo dục cốt lõi của nền giáo dục Việt Nam. Giáo dục toàn diện là hướng đi chính. Nó giúp hình thành công dân có ích, có trách nhiệm. Giáo dục đặt người học trung tâm. Nó tập trung vào sự phát triển toàn diện cá nhân. Điều này đòi hỏi đổi mới phương pháp giảng dạy. Tập trung vào việc phát triển năng lực người học. Các năng lực cần thiết cho thế kỷ 21 được ưu tiên.
IV. Vai trò Giáo dục Quốc sách hàng đầu và Phát triển
Giáo dục là nền tảng cho sự phát triển bền vững của đất nước. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Vai trò của giáo dục không chỉ giới hạn ở việc truyền đạt kiến thức. Nó còn lan tỏa đến mọi mặt của đời sống xã hội. Giáo dục tạo ra nguồn nhân lực chất lượng. Nó thúc đẩy đổi mới, sáng tạo. Đồng thời, giáo dục củng cố an ninh quốc phòng. Nó góp phần nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân. Mục tiêu giáo dục liên quan trực tiếp đến sự thịnh vượng của quốc gia. Các chính sách giáo dục phải được ưu tiên hàng đầu.
4.1. Giáo dục là Động lực quyết định Tăng trưởng Kinh tế
Giáo dục được khẳng định là quốc sách hàng đầu. Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục là nhân tố quyết định. Nó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, giáo dục là động lực chính cho phát triển xã hội. Vai trò này đã được Đảng ta khẳng định tại Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII. Đây là chiến lược dài hạn cho sự phát triển của đất nước. Mục tiêu giáo dục được gắn liền với mục tiêu kinh tế - xã hội. Nó tạo ra một xã hội học tập, năng động và sáng tạo.
4.2. Xây dựng Môi trường giáo dục lành mạnh Hợp tác chặt chẽ
Môi trường giáo dục cần được xây dựng lành mạnh. Sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội rất cần thiết. Đây là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục. Môi trường này hỗ trợ người học phát triển toàn diện. Trong môi trường giáo dục lành mạnh, vai trò người thầy rất quan trọng. Thầy cô định hướng, truyền cảm hứng cho người học. Hợp tác chặt chẽ giữa các bên là yếu tố then chốt. Nó đảm bảo giáo dục toàn diện, hiệu quả. Nó cũng giúp nuôi dưỡng thế hệ tương lai có đủ phẩm chất và năng lực.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (476 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộPHAM MINH HAC ˆTRIẾIIý M - i THẾ BI! VÀ VIỆT NAM hi. TriếLlý giáo đục thé wi &„. s` ụ ì UỐC € PHAM MINH HAC TRIẾT lý GIAO DUC THE GIG) VA VIỆT NAM NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRI QUOC GIA - SU THAT Ha N6i - 2013 LOI NHA XUAT BAN Từ sau Cách mang Thang Tam nam 1945, mặc dù đất nước còn nghèo và trải qua hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm kéo dài, sự nghiệp giáo dục - đào tạo nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhất là từ khi bước vào công cuộc đổi mới năm 1986 đến nay. : Có được những thành tựu đó, trước hết là do đường lối giáo dục - đào tạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, chính sách đổi mới, trực tiếp là đối mới trong giáo dục - đào tạo.
Đó là do truyền thống hiếu học của dân tộc ta được phát huy, nhân dân đóng góp rất nhiều công, của xây dựng trường lớp và chăm lo sự nghiệp giáo dục. Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục và học sinh, sinh viên có những cố gắng rất lớn trong quá trình dạy và học. Các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân nhận thức rõ hơn về vai trò của giáo dục đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã khắc phục nhiều khó khăn, vượt qua thách thức, tích cực tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục - đào tạo. Những thành quả phát triển kinh tế, ổn định chính trị, nâng cao đời sống nhân dân qua hơn 25 năm đổi mới đã tạo cơ hội cho giáo dục - đào tạo phát triển.
Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, giáo dục - đào tạo nước ta còn nhiều yếu kém, bất cập 5 cả về quy mô, cơ cấu; chất lượng và hiệu quả còn thấp, chưa đáp ứng được những đòi hỏi lớn và ngày càng cao về nhân lực của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tại Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII, Đảng ta đã khẳng định: Thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu, cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. : Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, làm thế nào để chấn chỉnh, củng cố, phát triển giáo dục nước nhà, xây dựng, hoàn thiện và phát huy một triết lý giáo dục Việt Nam phù hợp, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu: "Đối mới căn bản, toàn điện nén giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quếc tế. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp.
Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết, hợp chặt chế giữa nhà trường với gia đình và xã hội" mà Đại hội XI của Đảng đã đề ra. Những năm gần đây, ở nước ta đã có một số công trình, hội thảo, luận bàn về triết lý phát triển Việt Nam. Trong lĩnh vực giáo dục cũng có nhiều cuộc hội thảo khoa học, chuyên đề về triết lý giáo dục Việt Nam. Có nhiều ý kiến khác nhau: có hay không có một triết lý giáo dục Việt Nam? Triết lý đó đúng hay sai, phù bợp hay không phù hợp?.
Nhiều ý kiến khẳng định rằng, từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đăng Cộng sản Việt Nam, nền giáo dục Việt Nam, mặc dù còn có những hạn chế, yếu kém, đã đạt được những thành tựu quan trọng; nước nhà có triết lý giáo dục có hệ thống, 6 từng bước hoàn chỉnh; trong điều kiện mới, cần xem xét, bố sung cho phù hợp với thời đại, với hoàn cảnh mới để góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nhằm giúp cho bạn đọc có thêm tài liệu tham khảo, nghiên cứu về những vấn để nêu trên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật xuất bản cuốn sách: Triết lý giáo dục thế giới và Việt Nam của Giáo sư, Viện sĩ Phạm Minh Hạc. Nội dung cuốn sách giới thiệu tóm tắt một số tác phẩm và triết lý giáo dục ở một số nước, triết lý giáo dục Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử của dân tộc, đặc biệt là triết lý giáo dục Hồ Chí Minh, triết lý giáo dục sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, triết lý giáo dục thời kỳ đổi mới và vấn đề đặt ra để bổ sung, hoàn thiện triết lý giáo dục Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế nhằm chấn hưng nền giáo dục nước nhà. Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 12 năm 2012 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT LOI NOI DAU Tôi bắt đầu được nghe tên tuổi các nhà triết học giáo dục vĩ đại trên thế giới ở Khoa Giáo dục học Trưởng Đại học Sư phạm Lênin, Mátxcơva (1956- 1958), rồi qua giáo trình Lịch sử Triết học và Lịch sử Tâm lý học ö Khoa Triết học (phân khoa tâm lý học) vào những năm 1959-1961. Tôi rất thích thú. Đến khi được phân công làm Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục, nhất là, khi tham gia lãnh đạo Bộ Giáo dục, tôi thấy có nhu cầu quay lại một số vấn đề triết học (triết lý) giáo dục, và ở nước ta - tư tưởng, quan điểm, đường lối, chính sách phát triển giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà nước ta. Gần đây, trong xã hội nhiều người quan tâm đến vấn đề này.
Tôi đề xuất với Bộ trưởng Phạm Vũ Luận cần nghiên cứu và có tài liệu (sách) để rộng đường thảo luận và đi đến một sự thống nhất nào đó có thể kiến nghị với các nhà lãnh đạo, quản lý, cùng giáo giới và các lực lượng giáo dục, hy vọng có thể có đóng góp vào công cuộc “đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam”, như Đại hội XI đã nghị quyết. Bộ trưởng hoan nghênh và ủng hộ, tháng 3-2011, Vụ Khoa học - Công nghệ Bộ Giáo dục và Đào tạo giao cho tôi nhiệm vụ nghiên cứu khoa học - công nghệ cấp Bộ: “Triết lý giáo dục Việt Nam”. Khi viết cuốn sách này, tôi được báo cáo tại Hội thảo Khoa học giáo dục toàn quốc do Bộ Giáo dục - Đào tạo tổ chức (tháng 2-2011), gửi tham luận cũng với chủ đề này tới Hội thảo kỷ niệm 100 năm Bác Hồ đi tìm đường cứu nước do Trường Đại học Sài Gòn tổ chức (tháng 6-2011), phát biểu trong Hội thảo Triết lý giáo dục Việt Nam do Báo Điện £ử Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức (tháng 9-2011) và trên Đài Tiếng nói Việt Nam trong Chương trình Bàn tròn giáo dục vào ngày chủ nhật (cuối năm 2011 và đầu năm 2012), báo Tuổi trẻ cuối tuần (ngày 18-9-2011) có một bài đài giới thiệu tiến trình viết công trình này, Tạp chí Cộng sởn đăng tải một số bài (hai số thang 10, 11 năm 2011 và số tháng 8 năm 2012), v., đã được lấy làm ấn phẩm kỷ niệm 50 năm (1961-2011) ngày thành lập Viện Khoa học giáo dục Việt Nam. Tôi đã nhận được sự cổ vũ lớn, động viên, tăng thêm năng lượng trí tuệ để có thể hoàn thành công trình, ra mắt bạn đọc, hy vọng có thể phục vụ đóng góp xây dựng và triển khai Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về “Đối mới căn bản uà toàn điện nền giáo đục quốc dân”.
Từ ngày đầu tiên được tiếp xúc với lịch sử một số triết gia giáo dục đến hôm nay đã được 55 năm, nhất là trong 30 năm gần đây, thực tiễn công tác đã nhắc nhở tôi tìm hiểu kỹ hơn một số vấn đề, đặc biệt là tư tưởng, quan điểm, đường lối giáo dục của Chủ tịch 10 Hồ Chí Minh và Đảng ta. Bắt tay vào viết sách này, tôi đã chọn một số nhà giáo dục và một số tác phẩm tiêu biểu nhất của từng thời kỳ, nối lại thành một dòng suy nghĩ, với hầu hết các tài liệu tham khảo đã thu thập trong nhiều năm. Về phương pháp, có nhiều nét chung của cách viết triết lý (triết học) giáo dục, nhưng qua sách này, bạn đọc cũng có thể thấy có đặc thù, tôi viết gần như ghi vở tóm tắt khi đọc sách, ghi chú cách hiểu, đôi điều bình luận, bạn đọc có thể tự mình rút ra ý này, ý kia, nhận xét. để tìm ra triết lý giáo dục cho bản thân mình, cho lớp học, nhà trường, và cả hệ thống giáo dục quốc dân.
Hy vọng chúng ta cùng nhau xây dựng một triết lý cho nền giáo dục nước nhà trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Được các bạn đọc cho ý kiến, sách này sẽ được sửa, bổ sung, hoàn thiện, mong có đóng góp nào đó, dù nhỏ nhoi, vào sự nghiệp giáo dục vĩ đại của đất nước ta, dân tộc ta - với tôi là niềm vui lớn nhất, rất biết ơn các bạn. Hà Nội, ngày 19 tháng 8 năm 2012 TÁC GIÁ 11 PHAN THU NHAT DAT VAN DE 18 Chương thứ nhất NHẬP DE Triết lý giáo dục Việt Nam: có hay không? Gần đây, khi xem xét tình hình giáo dục (theo nghĩa rộng của thuật ngữ này bao gồm cả đào tạo), một số người nêu lên vấn đề “triết lý giáo dục Việt Nam”. ó ý kiến khác nhau, nhất là về những vấn đề phức tạp, là chuyện rất bình thường, hơn thế, có thể coi đó là dấu hiệu của một môi trường nghiên cứu cởi mở, rất đáng hoan nghênh.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Phạm Minh Hạc (2013). Triết lý giáo dục thế giới và Việt Nam [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/ly-luan-va-lich-su-giao-duc/triet-hoc-giao-duc/trieu-ly-giao-duc-the-gioi-va-viet-nam
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Triết lý giáo dục thế giới và Việt Nam" nghiên cứu về vấn đề gì?
Khám phá triết lý giáo dục thế giới và Việt Nam. Phân tích, so sánh và đề xuất hướng phát triển giáo dục nước nhà.
Luận án "Triết lý giáo dục thế giới và Việt Nam" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Triết lý giáo dục thế giới và Việt Nam" thuộc chuyên ngành Giáo dục học / Triết lý giáo dục. Danh mục: Triết Học Giáo Dục.
Luận án "Triết lý giáo dục thế giới và Việt Nam" có bao nhiêu trang?
Luận án "Triết lý giáo dục thế giới và Việt Nam" có 476 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Triết lý giáo dục thế giới và Việt Nam" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.