Luận án TS: Căn cứ cách mạng Miền Trung trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) - ĐHSP Huế
Tranthuyhien tổng hợp luận văn chuyên ngành, cung cấp kiến thức sâu sắc và nguồn tham khảo giá trị cho sinh viên và nhà nghiên cứu.
Hue University
Vietnam History
Luan An
PHD THESIS
Năm xuất bản
Số trang
363
Thời gian đọc
55 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
60 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Tổng quan căn cứ cách mạng Miền Trung 1954-1975
- Số trang:
- 363 trang
- Trường:
- Hue University
- Chuyên ngành:
- Vietnam History
- Tác giả:
- Tran Thuy Hien
- Năm:
- 2015
Tóm tắt nội dung luận án
I. Tổng quan căn cứ cách mạng Miền Trung 1954 1975
Căn cứ cách mạng giữ vai trò quyết định trong chiến tranh cách mạng. Lịch sử Việt Nam đã chứng minh điều đó. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt coi trọng việc xây dựng căn cứ địa. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 gắn liền với căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai, Cao Bằng và khu giải phóng Việt Bắc. Giai đoạn 1954-1975, cách mạng miền Nam đối đầu với đế quốc Mỹ. Đảng chủ trương xây dựng hệ thống căn cứ tại các địa bàn chiến lược. Miền Trung Trung Bộ là một trong những địa bàn trọng yếu. Luận án tiến sĩ của Trần Thúy Hiền nghiên cứu toàn diện vấn đề này. Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế năm 2015. Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, mã số 62 22 03 13. Người hướng dẫn là Trần Ngọc Long và Trương Công Huỳnh Kỳ. Luận án làm rõ quá trình hình thành, phát triển và vai trò của các căn cứ cách mạng vùng Trung Trung Bộ trong kháng chiến chống Mỹ.
1.1. Vị trí chiến lược của vùng Trung Trung Bộ
Trung Trung Bộ nằm giữa hai đầu đất nước. Vùng này gồm các tỉnh Nam - Ngãi - Bình - Phú và Đà Nẵng. Địa hình đa dạng với núi rừng, đồng bằng và ven biển. Núi rừng phía tây thuận lợi cho xây dựng căn cứ. Đồng bằng ven biển đông dân, giàu nguồn lực. Vị trí này khiến cả hai bên đều coi đây là địa bàn trọng yếu. Mỹ và chính quyền Sài Gòn tập trung đánh phá quyết liệt. Cách mạng kiên trì bám trụ, giữ vững thế đứng chân.
1.2. Truyền thống căn cứ địa từ kháng chiến chống Pháp
Thời kỳ 1945-1954, vùng tự do Nam - Ngãi - Bình - Phú là hậu phương lớn của Liên khu 5. Nhân dân có kinh nghiệm xây dựng và bảo vệ căn cứ. Truyền thống này được kế thừa trong kháng chiến chống Mỹ. Cơ sở chính trị, lực lượng cán bộ và lòng dân là nền tảng. Các căn cứ mới hình thành trên nền di sản đó.
1.3. Chủ trương của Đảng về xây dựng căn cứ
Đảng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về chiến tranh cách mạng. Miền Bắc là hậu phương lớn của cả nước. Tại miền Nam, Đảng chỉ đạo xây dựng căn cứ ở Trị Thiên, Tây Nguyên, Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Đông và Tây Nam Bộ. Mỗi vùng có hình thức và quy mô căn cứ khác nhau. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội quy định sự khác biệt đó.
II. Quá trình hình thành căn cứ địa cách mạng 1954 1960
Sau Hiệp định Genève 1954, cách mạng miền Nam bước vào giai đoạn khó khăn. Chính quyền Ngô Đình Diệm khủng bố ác liệt. Cán bộ, đảng viên bám trụ tại các vùng rừng núi. Các căn cứ đầu tiên hình thành ở miền tây các tỉnh Trung Trung Bộ. Vùng núi Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên trở thành nơi đứng chân của lực lượng cách mạng. Căn cứ Trà Bồng là điển hình tiêu biểu. Cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi năm 1959 mở đầu phong trào vũ trang. Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng tạo bước ngoặt. Phong trào Đồng khởi lan rộng khắp vùng. Các căn cứ từng bước mở rộng từ miền núi xuống trung du và đồng bằng. Hệ thống căn cứ nối liền thành thế liên hoàn. Đây là nền tảng cho sự phát triển của chiến tranh cách mạng những năm sau. Lực lượng vũ trang ba thứ quân từng bước hình thành và lớn mạnh từ các căn cứ này.
2.1. Bám trụ xây dựng cơ sở sau Hiệp định Genève
Giai đoạn 1954-1958, cách mạng chuyển sang đấu tranh chính trị. Địch tố cộng, diệt cộng gắt gao. Cán bộ rút lên vùng núi bảo toàn lực lượng. Đồng bào các dân tộc thiểu số che chở, nuôi giấu cán bộ. Cơ sở chính trị được gây dựng lại từng bước. Vùng núi phía tây trở thành chỗ dựa an toàn của phong trào.
2.2. Khởi nghĩa Trà Bồng và sự ra đời căn cứ vũ trang
Tháng 8 năm 1959, khởi nghĩa Trà Bồng bùng nổ. Nhân dân miền Tây Quảng Ngãi nổi dậy giành chính quyền. Căn cứ Trà Bồng trở thành căn cứ vũ trang đầu tiên của vùng. Cuộc đấu tranh bảo vệ căn cứ Trà Bồng kéo dài suốt giai đoạn 1959-1965. Đây là biểu tượng của tinh thần quật khởi Trung Trung Bộ.
2.3. Mở rộng căn cứ trong phong trào Đồng khởi
Nghị quyết 15 cho phép kết hợp đấu tranh chính trị với vũ trang. Phong trào Đồng khởi 1960 lan khắp các tỉnh. Nhiều xã, huyện miền núi được giải phóng. Vùng căn cứ mở rộng nhanh chóng. Chính quyền cách mạng cấp cơ sở ra đời. Thế và lực của cách mạng chuyển biến căn bản.
III. Căn cứ cách mạng chống chiến lược Chiến tranh đặc biệt
Giai đoạn 1961-1965, Mỹ triển khai chiến lược Chiến tranh đặc biệt. Quốc sách ấp chiến lược nhằm tách dân khỏi cách mạng. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa lập kế hoạch triệt phá các căn cứ cách mạng ở các tỉnh ven biển Trung Trung Bộ. Địch mở nhiều cuộc hành quân càn quét quy mô lớn. Lực lượng cách mạng kiên cường bảo vệ căn cứ. Quân dân các tỉnh vừa chống càn vừa mở rộng vùng giải phóng. Các căn cứ miền núi được củng cố vững chắc. Căn cứ đồng bằng và vùng ven phát triển dưới nhiều hình thức linh hoạt. Căn cứ lõm trong lòng địch xuất hiện, tiêu biểu là căn cứ K20 ở Đà Nẵng. Căn cứ Sông Đà cũng giữ vai trò quan trọng trong giai đoạn này. Phong trào phá ấp chiến lược diễn ra sôi nổi. Đến năm 1965, chiến lược Chiến tranh đặc biệt phá sản. Hệ thống căn cứ Trung Trung Bộ đứng vững và trưởng thành qua thử thách. Căn cứ trở thành bàn đạp cho các đòn tiến công quân sự lớn.
3.1. Âm mưu triệt phá căn cứ của Mỹ và chính quyền Sài Gòn
Địch xác định căn cứ cách mạng là mục tiêu tiêu diệt hàng đầu. Kế hoạch triệt phá căn cứ ven biển Trung Trung Bộ được vạch ra chi tiết. Ấp chiến lược bao vây, chia cắt vùng căn cứ. Máy bay, pháo binh đánh phá liên tục. Chất độc hóa học hủy diệt núi rừng. Mục tiêu là tách lực lượng vũ trang khỏi nhân dân.
3.2. Đấu tranh bảo vệ và mở rộng căn cứ miền núi
Quân dân miền núi chống càn quyết liệt. Căn cứ Trà Bồng được bảo vệ vững chắc qua các đợt tấn công của địch. Làng chiến đấu hình thành khắp vùng cao. Sản xuất tự túc bảo đảm hậu cần tại chỗ. Vùng giải phóng miền tây các tỉnh nối liền thành thế liên hoàn từ Quảng Nam đến Phú Yên.
3.3. Căn cứ lõm K20 giữa lòng đô thị Đà Nẵng
Căn cứ K20 nằm ngay trong vùng địch kiểm soát tại Đà Nẵng. Nhân dân đào hầm bí mật nuôi giấu cán bộ. Căn cứ lõm là hình thức sáng tạo độc đáo của chiến tranh nhân dân. K20 làm bàn đạp cho các hoạt động vũ trang nội đô. Mô hình này thể hiện thế trận lòng dân vững chắc.
IV. Căn cứ địa trong Chiến tranh cục bộ và Việt Nam hóa
Từ năm 1965, Mỹ đưa quân viễn chinh vào miền Nam. Đà Nẵng, Chu Lai trở thành căn cứ quân sự lớn của Mỹ. Trung Trung Bộ thành chiến trường ác liệt bậc nhất. Các cuộc hành quân tìm diệt đánh thẳng vào vùng căn cứ. Quân dân các tỉnh bám trụ kiên cường. Căn cứ miền núi là nơi đứng chân của chủ lực Quân khu 5. Căn cứ tiếp nhận chi viện từ miền Bắc qua đường Trường Sơn. Giai đoạn Việt Nam hóa chiến tranh, địch bình định cấp tốc, đánh phá vùng giải phóng. Nhiều căn cứ bị thu hẹp, phong trào gặp tổn thất. Từ năm 1971, thế trận được khôi phục. Cuộc tiến công chiến lược 1972 mở rộng vùng giải phóng. Căn cứ Trung Trung Bộ góp phần vào thắng lợi của Tổng tiến công mùa Xuân 1975. Đà Nẵng giải phóng ngày 29 tháng 3 năm 1975. Toàn vùng sạch bóng quân thù, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam.
4.1. Căn cứ đối đầu quân viễn chinh Mỹ 1965 1968
Quân Mỹ mở các cuộc hành quân lớn vào vùng căn cứ. Chiến thắng Núi Thành, Vạn Tường khẳng định khả năng đánh Mỹ. Căn cứ miền núi bảo đảm đứng chân cho bộ đội chủ lực. Hậu cần tại chỗ kết hợp chi viện từ hậu phương lớn. Căn cứ là bàn đạp cho Tổng tiến công Mậu Thân 1968.
4.2. Giữ vững căn cứ thời kỳ bình định ác liệt
Giai đoạn 1969-1971 là thời kỳ khó khăn nhất. Địch bình định, cày ủi, gom dân quyết liệt. Nhiều vùng căn cứ đồng bằng bị thu hẹp. Cán bộ, du kích bám đất, bám dân. Căn cứ miền núi vẫn đứng vững. Từ đó phong trào từng bước phục hồi và phản công.
4.3. Căn cứ trong tiến công chiến lược 1972 1975
Cuộc tiến công 1972 mở rộng vùng giải phóng toàn khu. Căn cứ được củng cố sau Hiệp định Paris 1973. Lực lượng tập kết, chuẩn bị cho trận quyết chiến cuối cùng. Mùa Xuân 1975, các đòn tiến công xuất phát từ căn cứ giải phóng Đà Nẵng và toàn vùng Trung Trung Bộ.
V. Đặc điểm và vai trò căn cứ cách mạng Trung Trung Bộ
Căn cứ cách mạng Trung Trung Bộ mang đặc điểm riêng do lịch sử địa phương quy định. Hệ thống căn cứ đa dạng về hình thức và quy mô. Có căn cứ miền núi rộng lớn, căn cứ đồng bằng và căn cứ lõm trong đô thị. Các căn cứ vừa có điểm chung với căn cứ toàn miền Nam, vừa có nét khác biệt. Thế trận căn cứ liên hoàn ba vùng chiến lược là đặc trưng nổi bật. Về vai trò, căn cứ là nơi đứng chân của cơ quan lãnh đạo và lực lượng vũ trang. Căn cứ là hậu phương tại chỗ cung cấp sức người, sức của. Căn cứ là bàn đạp tiến công địch trên mọi hướng. Nhân tố quyết định là lòng dân. Đồng bào Kinh và các dân tộc thiểu số đùm bọc cách mạng suốt 21 năm. Căn cứ Trung Trung Bộ góp phần tạo tiềm lực to lớn giúp quân dân miền Nam đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ. Kinh nghiệm xây dựng căn cứ để lại nhiều bài học cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
5.1. Tính đa dạng của hệ thống căn cứ ba vùng
Căn cứ miền núi giữ vai trò trụ cột, ổn định lâu dài. Căn cứ đồng bằng linh hoạt, gắn với dân. Căn cứ lõm đô thị như K20 hoạt động bí mật giữa lòng địch. Ba loại hình bổ sung cho nhau. Thế trận liên hoàn tạo sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân.
5.2. Vai trò hậu phương tại chỗ và bàn đạp tiến công
Căn cứ bảo đảm hậu cần, quân số cho lực lượng vũ trang. Sản xuất tự túc duy trì sức chiến đấu lâu dài. Căn cứ tiếp nhận và trung chuyển chi viện từ miền Bắc. Mọi đòn tiến công lớn đều xuất phát từ căn cứ. Căn cứ quyết định khả năng bám trụ chiến trường.
5.3. Bài học kinh nghiệm cho công cuộc bảo vệ Tổ quốc
Bài học lớn nhất là dựa vào dân, xây dựng thế trận lòng dân. Kết hợp xây dựng với bảo vệ căn cứ. Phát huy sức mạnh tại chỗ kết hợp chi viện chiến lược. Vận dụng linh hoạt hình thức căn cứ theo địa bàn. Những kinh nghiệm này còn nguyên giá trị trong xây dựng khu vực phòng thủ hiện nay.
VI. Giá trị khoa học của luận án tiến sĩ sử học năm 2015
Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên về căn cứ cách mạng Trung Trung Bộ thời kỳ 1954-1975. Tác giả Trần Thúy Hiền bảo vệ luận án tại Đại học Huế năm 2015. Công trình dựng lại toàn diện quá trình hình thành, phát triển của hệ thống căn cứ trong vùng. Luận án phân tích âm mưu, thủ đoạn đánh phá căn cứ của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Công trình làm rõ cuộc đấu tranh xây dựng và bảo vệ căn cứ của quân dân địa phương. Tác giả rút ra đặc điểm, vai trò và bài học kinh nghiệm. Trước luận án, tác giả đã công bố nhiều bài báo khoa học liên quan. Các bài viết về căn cứ K20, căn cứ Sông Đà, căn cứ Trà Bồng đăng trên Tạp chí Lịch sử Quân sự và các tạp chí khoa học chuyên ngành. Luận án là tài liệu tham khảo giá trị cho nghiên cứu lịch sử kháng chiến chống Mỹ. Công trình phục vụ giảng dạy lịch sử Việt Nam hiện đại và giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ.
6.1. Đóng góp mới về tư liệu và nội dung nghiên cứu
Luận án tập hợp khối tư liệu phong phú về căn cứ trong vùng. Nhiều tư liệu địa phương lần đầu được khai thác hệ thống. Công trình lấp khoảng trống nghiên cứu về căn cứ Trung Trung Bộ. Các nhận định được xây dựng trên cứ liệu lịch sử cụ thể. Đây là đóng góp quan trọng cho sử học Việt Nam.
6.2. Các công bố khoa học liên quan của tác giả
Tác giả công bố năm bài báo trong quá trình nghiên cứu. Bài về căn cứ K20 và căn cứ Sông Đà đăng năm 2011. Bài về bảo vệ căn cứ Trà Bồng đăng năm 2012. Bài về kế hoạch triệt phá căn cứ ven biển đăng năm 2013. Bài về căn cứ Nam - Ngãi - Bình - Phú thời chống Pháp đăng năm 2014.
6.3. Ý nghĩa thực tiễn và giá trị tham khảo
Luận án phục vụ nghiên cứu và giảng dạy lịch sử hiện đại. Công trình hỗ trợ biên soạn lịch sử địa phương các tỉnh Trung Trung Bộ. Bài học về căn cứ có giá trị cho quốc phòng hiện nay. Tài liệu hữu ích cho nghiên cứu sinh, học viên ngành lịch sử. Công trình góp phần giáo dục truyền thống yêu nước.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (363 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộ# # #H#U#E# #U#N#I#V#E#R#S#I#T#Y# #H#U#E# #U#N#I#V#E#R#S#I#T#Y## S# #C#O#L#L#E#G#E# #O#F# #E#D#U#C#A#T#I#O#N# # # #T#R#A#N# #T#H#U#Y# #H#I#E#N# # #R#E#V#O#L#U#T#I#O#N#A#R#Y# #B#A#S#E#S# #I#N# #T#H#E# #M#I#D# ## #C#E#N#T#R#A#L REGION IN THE RESISTANCE WAR AGAINST THE AMERICAN IMPERIALISTS (1954-1975) Field of study: Vietnam History Code: 62 22 03 13 SUMMARY OF PHD THESIS IN HISTORY Hue � 2015 This research is completed at: Hue University�s College of Education Supervisors: 1. Tran Ngoc Long 2. Truong Cong Huynh Ky First examiner:. The thesis will be defended at the seminar host by the Thesis Examining Panel at Hue University�s level, meeting at�.
More information about the thesis can be found at library�. LIST OF RELATED JOURNAL ARTICLES PUBLIC DURING THE PHD CANDIDATURE 1. Tran Thuy Hien (2011), �The K20 base during the resistance war against the American imperialist to salvage the nation�, Journal of Military History, No 234. Tran Thuy Hien (2011), �The Song Da base during the resistance waragainst the American imperialists�, Journal of Science and Education, Da Nang University of Education, No 1.
Tran Thuy Hien (2012), �The struggle to protect the Tra Bong base during the resistance waragainst the American imperialists (1959-1965), Journal of Science and Education, Da Nang University of Education, No 3. Tran Thuy Hien (2013), �The plan to destroy the revolutionary bases in coastal provinces of the Mid � Central Region by the government of the Republic of Vietnam in the �Special War�, Journal of Military History, No 255. Tran Thuy Hien (2014), �Studyng revolutionary military bases in the provinces of Nam � Ngai � Binh � Phu during the resistance war against the French conlonists (1945-1954), The University of Da Nang Journal of Science and Technology, No 8. RATIONAL In uprisings, wars or revolutionary movements, the issue of revolutionary base � the rear � has become a canon, and at the same time is the factor that often decides the victory of the wars, the uprisings or revolutions.
The history process of the world and of the Vietnamese people has confirmed this fact. Inheriting the tradition of defeating the invaders to protect the nation of our people, basing on the grasping thoroughly and applying creatively Marxism � Leninism on uprisings and revolutionary wars to our country, in the process of leading the revolution in Vietnam, President Ho Chi Minh and the Communist Party of Vietnam (the CPV) attached special importance to the issue of building the revolutionary bases. This is one of the factors that brought about the triumph of the revolution in Vietnam. The success of the August Revolution in 1945 was partly thank to the Bac Son � Vu Nhai base, the Cao Bang base, the liberated area of Viet Bac and dozens ofmilitary zones all over the country.
When the resistance war against the French colonists began, President Ho Chi Minh and the Central Committee of the CPV chose and developed Viet Bac revolutionary base into the headquarter of the resistance war. Many liberated areas, revolutionary base � rears were built all over the country, such as those in the provinces of Thanh � Nghe � Tinh and Nam � Ngai � Binh � Phu, areas of Dong Thap Muoi, U Minh, the D Military Zone�This is a very important factor that led to the success of the war against the French colonists and American interventionists (1945-1954). From 1954 to 1975, in order to resist the invasion war of the US � the most powerful imperialist country in the world since World War II, the CPV led a revolutionary war to liberate the South, protect the North, unify the country, completing the people�s national democratic revolution in the whole country. In order to accomplish this great revolutionary mission, apart from developing the North into a strong rear, being the revolutionary base of the whole country, the Party also had the policy of building and developing the system of revolutionary bases in the strategic areas of the South such as Tri Thien, Tay Nguyen, Middle � Central Region, Southern Central Region, Eastern South Region and Western South Region.
Due to the influence of the objectives and missions of the revolution, as well as due to the influence of the natural, economic, political and social conditions, there were different forms of bases with different sizes in the South in the period of the resistance war against the US. On the other hand, the revolutionary bases in the South in this period not only had similarities but also differences defined by the history of the localities. Nevertheless, all the bases contributed to building the great potential that enabled the people and revolutionary military of the South to defeat the invasion war strategies of the American imperialists. With the great aforementioned role and position, the issue of revolutionary base has become a significant part of the revolutionary war in the South in the period of resistance war against the US imperialists.
This is a historical object that needs to be studied to clarify the role and the position of a mode of revolutionary war, contributing to providing a full explanation of the history of the great resistance war against the US imperialists carried out by our people. The issue of the revolutionary bases developed during the resistance war against the American imperialists not only needs and has to be restored and assessed objectively with its manifestations but also needs to be focused on clarifying of the prominent local and regional particularities of the bases situated in the strategic areas of the South. In order to contribute to carrying out the aforementioned research objectives and research tasks, it is very necessary to undertake research in the revolutionary bases in the Middle � Central Region (which includes Da Nang City, Quang Nam Province, Quang Ngai Province, Binh Dinh Province, Phu Yen Province). This is the strategic area of great importance in the Military Zone V, is the gate from the East Sea to the Central Region and Central Highlands; is the springboard to go in strategic directions and other battlefields, and at the same time it is also the first terminal to receive the aid from the North by sea and by land.
Therefore, the Middle � Central Region was the place of fierce fighting between our troops and the enemies�. Here, many revolutionary bases were built, such as the Song Da Quarter (Da Nang Province), Nuoc Oa, Nuoc La, Son � Cam � Ha, Tien Son (Quang Nam Province), Tra Bong, Son Tay (Quang Ngai Province), Nui Ba, Hon Che (Binh Dinh Province), Tho Lo, Van Hoa (Phu Yen Province)�The revolutionary bases in the Middle � Central Region fulfilled well their functions and missions, contributing greatly to the victory of the resistance war against the American imperialists in the region as well as of the whole Vietnamese people. The history of formation and development as well as the contributions of revolutionary bases in the Middle � Central Region in the resistance war against the US imperialists have attracted the interests of scholars. However, up till now, due to many reasons, this topic has only been mentioned generally in the research into the resistance war against the US imperialists in the battlefield of the Military Zone V and the studies of local history.
Therefore, the research in the topic of Revolutionary bases in the Mid � Central Region in the resistance war against the American imperialists (1954-1975) is significant in terms of science and practice. In terms of science, the thesis elucidates the process of formation, development, the role, position and characteristics of revolutionary bases in the Mid � Central Region in the resistance war against the US imperialists to salvage the nation. Through this, the research can help to supplement documents to clarify the leading role of the executive committees of the Party at different levels in the issue of revolutionary bases; the flexibility and creativity in the activities of organizing and developing the bases in different regions. The findings will contribute to elucidating the Party�s line of people�s war and the strategy of building the revolutionary bases, which were applied creatively to the reality of the resistance war against the American imperialists to salvage the nation at the Mid � Central Region.
The research findings of the thesis also contribute to supplementing the knowledge of the history of the resistance war against the American imperialists in general and especially for the Mid � Central Region in particular. In terms of practice significance, initial lessons can be learnt from the research findings, which is necessary to serve the implementation of building the security � national defence battlefield posture in the local at present. The research findings of the thesis will also contribute to educating the tradition of patriotism and revolution for Vietnamese people of different groups, and are the base for restoring and preserving the monuments of the revolutionary bases built in the resistance war against the American imperialists. This is also a valuable source of material for researching and teaching to students at different education levels about the history of the resistance war against the American imperialist to salvage the nation.
It is because of the aforementioned science and practice significance, we chose the topic of The Revolutionary bases in the Middle � Central Region in the resistance war against the US (1954-1975) for the PhD thesis in the study field of History of Vietnam. RESEARCH OBJECT AND RESEARCH SCOPE Research object: The process of building, protecting and upholding the role of the revolutionary bases in the Mid � Central Region in the resistance war against the American imperialists to salvage the nation. Research scope: In terms of time: From 1954 to 1975. However, in order to have a logical presentation of the major contents, the thesis includes general description of revolutionary bases in the pre � 1954 period.
In terms of space: In the period of the resistance war against the French colonialists, the area of the Mid � Central Region include the local provinces of Quang Nam � Da Nang, Quang Ngai, Binh Dinh, Phu Yen. In the period of the resistance war against the American imperialists, from July 1962, the government of the Republic of Vietnam divided Quang Nam � Da Nang into 2 provinces of Quang Nam and Quang Tin. Quang Nam Province by then included 9 districts: Dien Ban, Duy Xuyen, Dai Loc, Duc Duc, Hieu Duc, Hieu Nhon, Hoa Vang, Que Son, Thuong Duc and the town of Da Nang. The Quang Tin Province included 6 districts: Hau Duc, Hiep Duc, Ly Tin, Tam Ky, Tien Phuoc and Thang Binh.
For the revolutionary government, from the end of 1962 to 1967, the province of Quang Nam � Da Nang was divided into two provinces of Quang Nam and Quang Da. Quang Nam province (called Quang Tin by the government of the Republic of Vietnam) included the districts of Que Son, Thang Binh, Tam Ky, Tien Phuoc, Phuoc Son, Tra My. Quang Da Province (called Quang Nam by the government of the Republic of Vietnam) included the districts of Que Son, Thang Binh, Tam Ky, Tien Phuoc, Phuoc Son, Tra My. The Quang Da (called Quang Nam Province by the government of Republic of Vietnam) included the districts of Hoa Vang, Dai Loc, Dien Ban, Duy Xuyen, Dong Giang, Tay Giang, Nam Giang, the Town of Hoi An and Da Nang City.
From 1964 to November 1967, on implementing the directions of the Party�s Executive Committee of the Military Zone V, the city of Da Nang separated from the Quang Da Province and included 3 districts of First District, Second District and Third District. In November 1967, before the Tet Offensive, Quang Da Province and Da Nang City combined into the Special Zone of Quang Da. In comparison to the provinces of Quang Ngai, Binh Dinh, Phu Yen, although Quang Nam � Da Nang was the area that experienced many separations and mergences, in essence, the administrative border of this locality did not change.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Tran Thuy Hien (2015). Căn cứ cách mạng Miền Trung thời kháng Mỹ (1954-1975) [Luận án tiến sĩ, Hue University]. LuanAn.net. https://luanan.net/ly-luan-va-lich-su-giao-duc/triet-hoc-giao-duc/can-cu-cach-mang-mien-trung-khang-chien-chong-my-1954-1975
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Căn cứ cách mạng Miền Trung thời kháng Mỹ (1954-1975)" nghiên cứu về vấn đề gì?
Tranthuyhien tổng hợp luận văn chuyên ngành, cung cấp kiến thức sâu sắc và nguồn tham khảo giá trị cho sinh viên và nhà nghiên cứu.
Luận án "Căn cứ cách mạng Miền Trung thời kháng Mỹ (1954-1975)" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Hue University. Năm bảo vệ: 2015.
Luận án "Căn cứ cách mạng Miền Trung thời kháng Mỹ (1954-1975)" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Căn cứ cách mạng Miền Trung thời kháng Mỹ (1954-1975)" thuộc chuyên ngành Vietnam History. Danh mục: Triết Học Giáo Dục.
Luận án "Căn cứ cách mạng Miền Trung thời kháng Mỹ (1954-1975)" có bao nhiêu trang?
Luận án "Căn cứ cách mạng Miền Trung thời kháng Mỹ (1954-1975)" có 363 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Căn cứ cách mạng Miền Trung thời kháng Mỹ (1954-1975)" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.