Xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp môi trường Việt Nam - Vũ Thu Hạnh
Nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại Việt Nam.
Luật kinh tế
Luan An
Luận án Tiến sĩ Luật học
Năm xuất bản
Số trang
216
Thời gian đọc
33 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (216 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI VU THU HANH XAY DUNG VA HOAN THIEN CO CHE GIAI QUYET TRANH CHAP TRONG LINH VUC BAO VE MOI TRUONG TAI VIET NAM Chuyên ngành: Luật kinh tê Ma số : 62 38 50 01 | THU VIEN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HA NỘI PHÒNGGV_ fod _ LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC Người hướng dan khoa học: PGS.TS Lê Hong Hanh HÀ NỘI - 2004 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứnFcủa riêng tôi. Các số liệu nêu trong luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được di công bố trong bất kì công trình nào khác. TÁC GIÁ LUẬN ÁN + Vĩ Thu Hanh NHỮNG TỪ VIET TAT TRONG LUẬN ÁN 1.
ONMT_ :Ônhiễm môi trường 2. STMT : Suy thoái môi trường 3. SCMT : Sự cố môi trường 4. DTM : Đánh giá tác động môi trường 5.
OCED : Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế 6. BVMT : Bảo vệ môi trường 7. NORAD © : Cơ quan Hợp tác Phát triển Na Uy 8. PPP : The Polluter Pays Principle 9.
SACEP : Chương trình Môi trường hop tác Nam 4 10. UNEP : Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc NGHĨA NHỮNG TỪ LA TINH SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN 1. ad hoc : VỤ VIỆC 2.ersa omnes_ : nghĩa vụ chung đối với tất cả các chủ thể Ÿ. inter partes: mối quan hệ giữa các bên liên quan 4.
inso facto : từ thực tế MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trên phạm vi toàn cầu cũng như tại Việt Nam, chất lượng môi trường đang có những biến đổi theo chiều hướng bất lợi cho cuộc sống của con người, Bên cạnh những biểu hiện xấu dễ nhận thấy đối với môi trường như ô nhiễm môi trường, suy giảm tầng ôzôn, cạn kiệt tài nguyên rừng và đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu., các mối quan hệ xã hội nảy sinh từ việc khai thác, hưởng dụng, tác động đến các yếu tố môi trường cũng đang ngày càng trở nên phức tạp, gây mâu thuẫn, xung đột tưởng chừng như không thể điều hoà được. Phát triển bền vững mà đa số các quốc gia trên thế giới đang hướng tới không chỉ nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế kết hợp với bảo vệ môi trường mà còn phải duy trì sự công bằng, ổn định trong các mối quan hệ xã hội nói chung, quan hệ trong khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên nói riêng. Khái niệm phát triển bền vững ngày nay còn bao hàm cả khía cạnh là sự phát triển không có xung đột và tranh chấp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường “hoặc vì một lí đo nào đó mà chúng vẫn xảy ra thì phải được kiểm soát, giải quyết theo một cơ chế pháp lý thích hợp.
Tại Việt Nam, trong khoảng thời gian 10 năm trở lại đây, tranh chấp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (sau đây gọi chung là ranh chấp môi trường) nổi lên như một hiện tượng bức bách cấu đời sống xã hội, khiến cho công luận hết sức quan tâm, lo ngại. Điển hình là những vụ xung đột liên quan đến việc xử lý chất thải của nhà máy sản xuất mì chính Vedans; nhà máy sữa Hà Nội; việc xây dựng bể chứa axit sunfuaric đặc tại khu vực cảng Chùa Vẽ (Hải phòng); xây dựng khu Liên hợp xử lý chất thải rắn Nam Sơn (Sóc Sơn, Hà Nội); xây dựng xa lộ Bắc - Nam (đoạn đi qua vùng đệm của vườn Quốc gia Cúc Phương). Gần đây nhất là tranh chấp nảy sinh sau sự cố tran dau tại Ba Rịa - Vũng Tàu. Những phương án cụ thể để giải quyết từng vụ việc nêu trên đã được tiến hành.
Cu thé Công ty Vedans chi khoảng 15 tỷ đồng cho việc phục hồi chất lượng môi trường nước sông Thị Vải; Ban quản lý Khu Liên Hợp xử lý chất thải rắn Nam Sơn đã có chính sách hỗ trợ cho các đối tượng chịu ảnh hưởng chất lượng môi trường xung quanh khu bãi rác; Công ty suppe photphat Lâm Thao đã ngừng việc xây dựng bể chứa axit. Tuy nhiên, điều dễ nhận thấy đó mới chỉ là những giải pháp tình thế, thụ động, chưa tháo gỡ dứt điểm những vướng mắc nảy sinh, do chưa dựa trên những cơ sở khoa học vững chắc và cơ chế giải quyết xung đột phù hợp, thoả đáng. Những khó khăn, lúng túng mà chính các bên đương sự cũng như các cơ quan có thẩm quyền phải đối mặt khi xử lý các tranh chấp môi trường bắt nguồn từ đặc thù của những mâu thuẫn, tranh chấp. So với các dạng tranh chấp khác đã và đang nảy sinh khá phổ biến trong đời sống xã hội như tranh chấp đất đai, tranh chấp kinh tế, tranh chấp lao động., ranh chấp môi trường có nhiều nét khác biệt cả về đối tượng tranh chấp, phạm vì chủ thể, giá trị tranh chấp, và thời điểm nảy sinh tranh chấp.
Tuy nhiên, cơ chế giải quyết các tranh chấp môi trường chưa được định hình một cách phù hợp với đặc thù của tranh chấp này. Hiện tại, các quy định của pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp môi trường còn ở trong trạng thái sơ khai, chưa hoàn chỉnh. Luật Bảo vệ môi trường (1993) cũng như Bộ Luật Dân sự mới chỉ có những quy định chung về thẩm quyền giải quyết tranh chấp, về trách nhiệm của người có hành vi làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại, mà chưa có các qui định cu thể về qui trình và thủ tục giải quyết tranh chấp, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan có liên quan, cách thức xác định giá trị các thiệt hại về moi trường. Bất cập nay đã dẫn đến hệ qua là việc giải quyết tranh chấp môi trường thường kéo dài, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân trong lĩnh vực bảo vệ môi trường không được bảo vệ, chất lượng môi trường cham đươc phục hồi, trật tự xã hội và trật tự pháp lý bi ảnh hưởng.
Do vậy, việc nghiên cứu một cơ chế thích hợp để giải quyết các tranh chấp môi trường là đòi hỏi bức thiết cả về lý luận và thực tiễn. Tình hình nghiên cứu đề tài Trên thế giới, đã có một số công trình nghiên cứu về cách thức đền bù và đánh giá thiệt hại môi trường. Các công trình này trở thành căn cứ quan trọng để đưa ra các quy định về giải quyết các khiếu kiện liên quan đến việc đòi bồi thường thiệt hại về môi trường. Trong số này trước tiên cần kể đến công trình “Đền bà và đánh giá thiệt hai môi trường: Một số vấn đề về chính sách và pháp lí đối với khu vực ASEAN” do Tiến sĩ Brady Coleman - Trung tâm Luật Môi trường châu Á - Thái Bình Dương, Đại học tổng hợp Singapore thực hiện; “Khuôn khổ thể chế hiện hành về dén bù và đánh giá thiệt hại môi trường tại Malayxia” của Amirul Arpin - Chuyên gia kiểm soát môi trường, Cục Môi trường Malayxia; “Mô tả khuôn khổ hiện hành về dén bù và đánh giá thiệt hại môi trường ở các nước thành viên ASEAN: Kinh nghiệm của Thái Lan’ do Charit Tingabadh - Trung tâm kinh tế, sinh thái - Khoa kinh tế - Dai học Tổng hop Chulalongkorn, Bangkok, Thai Lan thực hiện.
Đặc biệt là ấn phẩm "Compendium of summaries of judicial decisions in environment related cases"! do Chương trình Môi trường Hop tác Nam A (SACEP) và Chương trình Môi trường của Liên Hợp quốc (UNEP) xuất bản năm 2001. Tại nước ta, như trên đã đề cập, tranh chấp môi trường và giải quyết tranh chấp môi trường là một vấn đề hoàn toàn mới. Trong một số lĩnh vực khoa học có liên quan như xã hội học môi trường, kinh tế học môi trường, khoa học quản lí về môi trường. cũng đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu về vấn đề này.
như: “Xây dung phương pháp xác định mức đền bù thiệt hai bởi ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất, dịch vụ gây ra” do Trung tâm kĩ thuật môi trường đô thị và khu công nghiệp, trường Đại học xây dựng Hà Nội thực hiện năm 1999; “Bước đầu tiếp cận công tác thanh tra giải quyết dén bù thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây bởi các hoạt động của Nhà máy Nhiệt điện Phả lai” do Nguyễn Thị Thanh Minh, sinh viên Khoa Môi trường, trường Đại học Khoa học tự nhiên - Đại học quốc gia Hà Nội thực hiện năm 2000, ' Tam dich là “Trích yếu tóm tất các quyết định của toà án trong các vụ có liên quan đến môi trường". "Chính sách quan ly môi trường đối với việc giải quyết xung đột môi trưƯỜng", luận văn cao học chuyên ngành chính sách khoa học và công nghệ của Lê Thanh Bình. Song nhìn chung các công trình nêu trên mới chỉ đề cập đến các giải pháp kỹ thuật, giải pháp kinh tế mà chưa đề cập đến một cơ chế hoàn chỉnh để giải quyết tranh chấp. Từ góc độ nghiên cứu khoa học pháp lí, chủ đề giải quyết các xung đột trong lĩnh vực môi trường cũng đã bước dau nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các luật gia, cũng như những người làm công tác thực tiễn trong lĩnh vực quản lý môi trường.
Ở các mức độ và phạm vi khác nhau, đã có một số công trình và tài liệu đề cập đến vấn đề này, như: Giáo trình Luật Môi trường của Trường Đại học Luật Hà Nội (1999); đề tài "Bước đầu nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp môi trường tại Việt Nam" do Cục Môi trường, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) phối hợp với Vụ pháp luật Dân sự - Kinh tế, Bộ Tư pháp thực hiện năm 2000; đề tài "Trach nhiệm pháp lý dân sự trong lĩnh vực môi trường” do Viện nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp thực hiện năm 2002; các Báo cáo tổng kết công tác thực tiễn giải quyết đòi bồi thường thiệt hại do hành vi lam 6 nhiễm môi trường gây nên của Phòng quản lý môi trường các tỉnh, thanh tra môi trường các địa phương, Cục bảo vệ môi trường. Ngoài ra, còn có các công trình khác đề cập ở những mức độ khác nhau về những vướng mắc nảy sinh trong quá trình giải quyết những đạng cụ thể của tranh chấp môi trường, như chuyên khảo "Ô nhiễm môi trường biển Việt Nam - Luật pháp và thực tiễn" của Tiến sĩ Nguyễn Hồng Thao. Rhìn chung, các bài viết, các công trình nêu trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh và ở các mức độ khác nhau về tranh chấp môi trường và giải quyết tranh chấp môi trường.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Cơ chế giải quyết tranh chấp môi trường tại Việt Nam" nghiên cứu về vấn đề gì?
Nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại Việt Nam.
Luận án "Cơ chế giải quyết tranh chấp môi trường tại Việt Nam" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội. Năm bảo vệ: 2004.
Luận án "Cơ chế giải quyết tranh chấp môi trường tại Việt Nam" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Cơ chế giải quyết tranh chấp môi trường tại Việt Nam" thuộc chuyên ngành Luật kinh tế. Danh mục: Luật Hành Chính.
Luận án "Cơ chế giải quyết tranh chấp môi trường tại Việt Nam" có bao nhiêu trang?
Luận án "Cơ chế giải quyết tranh chấp môi trường tại Việt Nam" có 216 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Cơ chế giải quyết tranh chấp môi trường tại Việt Nam" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.