Luận án: Mất mát ứng suất trước dầm GPC do co ngót, từ biến - ĐH Xây dựng HN
Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu mất mát ứng suất trước do co ngót, từ biến của dầm bê tông geopolymer GPC UST chế tạo tại Việt Nam.
Kỹ thuật XD công trình Giao thông-Xây dựng Cầu hầm
Luan An
Luận án Tiến sĩ
Năm xuất bản
Số trang
178
Thời gian đọc
27 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- Mất mát ứng suất trước dầm GPC: Tổng quan và thách thức
- Số trang:
- 178 trang
- Trường:
- Trường Đại học Xây dựng Hà Nội
- Chuyên ngành:
- Kỹ thuật XD công trình Giao thông - Xây dựng Cầu hầm
- Tác giả:
- Vũ Thành Quang
- Năm:
- 2024
Tóm tắt nội dung luận án
I.Mất mát ứng suất trước dầm GPC Tổng quan và thách thức
Tài liệu tập trung nghiên cứu mất mát ứng suất trước trong dầm bê tông ứng suất trước (BTƯST) được sản xuất từ vật liệu Geopolymer (GPC) tại Việt Nam. GPC đại diện cho một loại vật liệu xây dựng mới, bền vững, thân thiện môi trường, sử dụng các phế thải công nghiệp. Việc ứng dụng GPC vào dầm BTƯST mang lại nhiều lợi ích. Tuy nhiên, tổn thất ứng suất trước là một thách thức lớn. Hiện tượng này ảnh hưởng đến khả năng làm việc của kết cấu. Các nguyên nhân chính gây mất mát ứng suất trước là co ngót bê tông và từ biến bê tông. Những biến dạng này diễn ra theo thời gian. Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá chính xác ảnh hưởng co ngót từ biến đến hiệu suất của dầm. Việc hiểu rõ cơ chế này giúp tối ưu hóa thiết kế. Nó cũng đảm bảo an toàn cho các công trình cầu sử dụng GPC. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh tiêu chuẩn TCVN ứng suất trước chưa có quy định cụ thể cho GPC.
1.1. Khái niệm GPC và ứng dụng dầm BTƯST
Giới thiệu về bê tông Geopolymer (GPC). GPC sử dụng các vật liệu phế thải công nghiệp như tro bay, xỉ lò cao thay thế xi măng. Quá trình hoạt hóa kiềm tạo ra cường độ và độ bền cao. GPC là một giải pháp xây dựng bền vững, thân thiện môi trường. Nghiên cứu này tập trung vào dầm bê tông ứng suất trước (BTƯST) sử dụng GPC. Dầm BTƯST GPC giảm thiểu lượng khí thải carbon so với bê tông truyền thống. Công nghệ này có tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong hạ tầng giao thông. Đặc biệt, dầm cầu ứng suất trước yêu cầu độ bền và hiệu suất cao. Khả năng chống chịu môi trường của GPC cũng là một điểm mạnh. Việc ứng dụng GPC trong kết cấu ứng suất trước đang được quan tâm.
1.2. Tầm quan trọng nghiên cứu mất mát ứng suất trước
Mất mát ứng suất trước là hiện tượng giảm ứng suất trong cốt thép ứng suất trước theo thời gian. Nguyên nhân chính bao gồm co ngót bê tông và từ biến bê tông. Đây là hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu suất và tuổi thọ của dầm GPC và dầm bê tông cốt thép truyền thống. Việc kiểm soát tổn thất ứng suất trước rất cần thiết. Nếu không tính toán chính xác, có thể xảy ra độ võng dầm ứng suất trước quá mức. Điều này ảnh hưởng đến khả năng chịu lực và an toàn công trình. Nghiên cứu này giải quyết vấn đề mất mát ứng suất trước trong bối cảnh vật liệu mới. Nó mang lại cái nhìn sâu sắc về hành vi của GPC dưới tải trọng và thời gian. Mục tiêu là phát triển các phương pháp tính toán mất mát ứng suất chính xác hơn cho GPC. Điều này hỗ trợ thiết kế an toàn và kinh tế cho các công trình.
II.Nghiên cứu GPC Xác định co ngót từ biến và modul đàn hồi
Nghiên cứu tiến hành các thí nghiệm thực nghiệm chuyên sâu. Mục tiêu là xác định các đặc tính cơ học và biến dạng của bê tông Geopolymer. Các đặc trưng cơ bản bao gồm cường độ chịu nén, quan hệ ứng suất – biến dạng và mô đun đàn hồi. Các thí nghiệm này tuân thủ chặt chẽ các tiêu chuẩn TCVN ứng suất trước và ASTM. Đặc biệt, nghiên cứu tập trung vào việc đo đạc biến dạng co ngót bê tông và từ biến bê tông của GPC. Đây là hai yếu tố then chốt gây ra tổn thất ứng suất trước. Quá trình đo đạc được thực hiện trong điều kiện kiểm soát. Thời gian đo kéo dài để thu thập dữ liệu chính xác về hành vi biến dạng theo thời gian. Các kết quả này cung cấp cái nhìn định lượng. Nó cho phép so sánh GPC với bê tông truyền thống. Dữ liệu thực nghiệm là cơ sở vững chắc cho việc tính toán mất mát ứng suất cho dầm GPC. Nó cũng giúp đánh giá ảnh hưởng co ngót từ biến một cách khoa học.
2.1. Phương pháp thí nghiệm và xác định đặc trưng cơ học
Nghiên cứu áp dụng các phương pháp thí nghiệm tiêu chuẩn. Các phương pháp này xác định các đặc trưng cơ học quan trọng của GPC. Bao gồm cường độ chịu nén, quan hệ ứng suất – biến dạng và mô đun đàn hồi. Các tiêu chuẩn quốc tế như ASTM C39, ASTM C469 được sử dụng. Bên cạnh đó, các tiêu chuẩn Việt Nam như TCVN 3118-2022 cũng được áp dụng. Việc tuân thủ các tiêu chuẩn đảm bảo độ tin cậy của kết quả. Các mẫu bê tông GPC được chế tạo với thành phần cấp phối cụ thể. Quá trình lấy mẫu và chuẩn bị mẫu thử được thực hiện cẩn thận. Mục tiêu là phản ánh chính xác tính chất vật liệu. Việc xác định mô đun đàn hồi rất quan trọng. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến biến dạng co ngót bê tông và từ biến bê tông. Kết quả thí nghiệm tạo cơ sở dữ liệu vững chắc. Nó hỗ trợ việc tính toán mất mát ứng suất sau này.
2.2. Đo đạc biến dạng co ngót và từ biến của GPC
Thí nghiệm co ngót bê tông và từ biến bê tông được thực hiện chi tiết. Nghiên cứu tuân thủ các tiêu chuẩn như TCVN 3117-2022 và ASTM C157/C157M-17 cho co ngót. Đối với từ biến, tiêu chuẩn ASTM C512 được áp dụng. Các phép đo biến dạng được tiến hành trong thời gian dài. Điều này nhằm nắm bắt hành vi biến dạng theo thời gian của GPC. Kết quả đo đạc cung cấp dữ liệu thực nghiệm quý giá. Dữ liệu này giúp hiểu rõ hơn ảnh hưởng co ngót từ biến đến dầm GPC. Từ biến bê tông là biến dạng tăng dần dưới tải trọng không đổi. Co ngót bê tông là biến dạng giảm thể tích không do tải trọng. Cả hai đều góp phần vào mất mát ứng suất trước. Việc phân tích các biến dạng này là cốt lõi. Nó giúp xác định hệ số từ biến và biến dạng co ngót tỷ đối của GPC.
III.Đo lường mất mát ứng suất trước dầm GPC tại Việt Nam
Nghiên cứu bao gồm việc thiết kế, đúc và theo dõi thực nghiệm mất mát ứng suất trước trên một dầm GPC ứng suất trước tại Việt Nam. Dầm GPC có tiết diện chữ T, dài 10.4 mét. Mục tiêu chính là quan sát và đo lường sự tổn thất ứng suất trước trong cáp ứng suất trước theo thời gian. Các thiết bị đo đạc chuyên dụng được lắp đặt trên dầm. Chúng giúp thu thập dữ liệu về biến dạng và ứng suất. Dữ liệu này phản ánh ảnh hưởng co ngót từ biến của bê tông GPC. Kết quả thực nghiệm cho thấy mức độ mất mát ứng suất trước cụ thể. Thông tin này rất quan trọng để đánh giá hành vi của dầm bê tông ứng suất trước làm từ GPC. Nó cũng cung cấp dữ liệu thực tế cho việc kiểm định các phương pháp tính toán mất mát ứng suất. Việc theo dõi trực tiếp này mang lại cái nhìn sâu sắc. Nó giúp hiểu rõ hơn hiệu suất của GPC trong các ứng dụng kết cấu.
3.1. Thiết kế và chế tạo dầm GPC ứng suất trước thực nghiệm
Nghiên cứu tiến hành thiết kế một mô hình dầm GPC ứng suất trước tiết diện chữ T. Chiều dài dầm là 10.4 mét. Mục tiêu của thí nghiệm là theo dõi mất mát ứng suất trước theo thời gian. Dầm được chế tạo tại Việt Nam, sử dụng vật liệu GPC địa phương. Quá trình thiết kế tuân thủ các nguyên tắc kỹ thuật cầu. Nó đảm bảo tính đại diện cho kết cấu thực tế. Các thông số thiết kế, bao gồm kích thước và bố trí cốt thép ứng suất trước, được tính toán cẩn thận. Công tác đúc dầm được thực hiện tỉ mỉ. Điều này đảm bảo chất lượng và tính đồng nhất của vật liệu. Mô hình dầm này là công cụ quan trọng. Nó cho phép đánh giá hiệu suất của GPC trong ứng dụng cấu kiện BTƯST.
3.2. Theo dõi và phân tích kết quả mất mát ứng suất thực nghiệm
Các thiết bị đo đạc chuyên dụng được bố trí trên dầm thí nghiệm. Mục đích là theo dõi sự thay đổi ứng suất trước trong cáp ứng suất trước theo thời gian. Các dữ liệu về biến dạng và ứng suất được ghi nhận liên tục. Điều này cho phép xác định mất mát ứng suất trước do co ngót bê tông và từ biến bê tông. Kết quả đo thực nghiệm được thu thập. Chúng được xử lý và phân tích một cách khoa học. Việc phân tích này giúp đánh giá tổn thất ứng suất trước thực tế trong dầm GPC. Dữ liệu này rất có giá trị. Nó hỗ trợ việc kiểm chứng các mô hình tính toán mất mát ứng suất lý thuyết. Hơn nữa, nó cung cấp thông tin trực quan về ảnh hưởng co ngót từ biến trong điều kiện thực tế tại Việt Nam.
IV.So sánh tổn thất ứng suất trước GPC và OPC Tiêu chuẩn TCVN
Nghiên cứu thực hiện một sự so sánh chi tiết về mất mát ứng suất trước giữa dầm GPC và dầm bê tông ứng suất trước truyền thống (OPC). Việc so sánh này dựa trên dữ liệu thực nghiệm về co ngót bê tông, từ biến bê tông và các đặc trưng cơ học. Mục tiêu là đánh giá mức độ tổn thất ứng suất trước của GPC so với OPC. Điều này rất quan trọng để đưa ra quyết định kỹ thuật. Kết quả so sánh chỉ ra những khác biệt đáng kể. Những khác biệt này cần được xem xét trong thiết kế. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc cập nhật tiêu chuẩn TCVN ứng suất trước. Các tiêu chuẩn hiện hành chưa đề cập cụ thể đến GPC. Việc phát triển các hướng dẫn và quy định mới cho GPC là cấp bách. Điều này sẽ hỗ trợ việc tính toán mất mát ứng suất chính xác hơn. Nó cũng thúc đẩy ứng dụng bền vững của GPC trong các công trình cầu.
4.1. Đánh giá mất mát ứng suất GPC so với bê tông OPC
Nghiên cứu tiến hành so sánh mất mát ứng suất trước giữa dầm GPC và dầm bê tông ứng suất trước sử dụng bê tông OPC truyền thống. Phân tích này dựa trên cả kết quả thực nghiệm và tính toán mất mát ứng suất lý thuyết. Các thông số như co ngót bê tông, từ biến bê tông và mô đun đàn hồi được đưa vào so sánh. Kết quả cho thấy sự khác biệt về hành vi giữa hai loại vật liệu. GPC có thể có hành vi biến dạng khác biệt so với OPC. Việc đánh giá này làm nổi bật ưu và nhược điểm của GPC. Nó cung cấp cơ sở để quyết định vật liệu. Tổn thất ứng suất trước là một chỉ số quan trọng. Nó cho thấy hiệu quả của vật liệu trong kết cấu BTƯST. So sánh này rất cần thiết cho việc phát triển và ứng dụng GPC.
4.2. Khuyến nghị ứng dụng GPC và phát triển tiêu chuẩn TCVN
Dựa trên các kết quả nghiên cứu, tài liệu đưa ra các khuyến nghị. Khuyến nghị này nhằm tối ưu hóa việc ứng dụng GPC vào dầm BTƯST tại Việt Nam. Mức độ mất mát ứng suất trước của GPC được đánh giá. Từ đó, các yếu tố ảnh hưởng cần được xem xét trong thiết kế. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh nhu cầu phát triển tiêu chuẩn TCVN ứng suất trước cho GPC. Hiện tại, các tiêu chuẩn hiện hành chủ yếu áp dụng cho bê tông OPC. Các đặc tính độc đáo của GPC yêu cầu các quy định riêng. Việc bổ sung các quy định này giúp chuẩn hóa việc tính toán mất mát ứng suất cho GPC. Nó cũng đảm bảo an toàn và hiệu quả cho các công trình sử dụng vật liệu mới. Điều này sẽ thúc đẩy ứng dụng GPC rộng rãi hơn trong ngành xây dựng.
V.Ảnh hưởng co ngót từ biến đến dầm BTƯST Hướng phát triển GPC
Nghiên cứu đã làm rõ ảnh hưởng co ngót từ biến đối với mất mát ứng suất trước của dầm bê tông ứng suất trước (BTƯST) Geopolymer. Co ngót bê tông và từ biến bê tông là các cơ chế chính gây ra tổn thất ứng suất trước. Sự mất mát này có tác động trực tiếp đến độ võng dầm ứng suất trước và khả năng chịu lực của kết cấu. Việc định lượng và kiểm soát ảnh hưởng co ngót từ biến là rất quan trọng. Nó giúp đảm bảo tuổi thọ và an toàn cho dầm GPC. Các phát hiện này củng cố tiềm năng của GPC. GPC là một vật liệu bền vững thay thế cho bê tông truyền thống. Nghiên cứu mở ra hướng phát triển cho việc ứng dụng GPC trong xây dựng cầu đường. Nó cũng gợi ý cần có các cập nhật trong tiêu chuẩn TCVN ứng suất trước để tích hợp GPC. Điều này sẽ thúc đẩy sự đổi mới và tính bền vững trong ngành xây dựng tại Việt Nam.
5.1. Tác động của co ngót từ biến lên hiệu suất dầm BTƯST GPC
Co ngót bê tông và từ biến bê tông là hai yếu tố có ảnh hưởng co ngót từ biến lớn nhất. Chúng gây ra mất mát ứng suất trước trong dầm bê tông ứng suất trước (BTƯST) GPC. Mức độ tổn thất ứng suất trước này tác động trực tiếp đến khả năng chịu tải. Nó cũng ảnh hưởng đến độ võng dầm ứng suất trước và tuổi thọ công trình. Biến dạng co ngót làm giảm ứng suất trong cốt thép ứng suất trước. Biến dạng từ biến làm tăng biến dạng dưới tải trọng. Cả hai đều làm giảm hiệu quả của lực căng ban đầu. Nghiên cứu này định lượng rõ ràng ảnh hưởng co ngót từ biến này. Nó cung cấp thông tin cần thiết để dự báo hành vi dài hạn. Việc kiểm soát các yếu tố này là chìa khóa. Nó giúp đảm bảo an toàn và tính kinh tế của kết cấu GPC.
5.2. Tiềm năng và hướng phát triển GPC cho hạ tầng giao thông
Kết quả nghiên cứu khẳng định tiềm năng lớn của GPC. GPC có thể thay thế bê tông OPC trong sản xuất dầm bê tông ứng suất trước. Đặc biệt là trong bối cảnh phát triển bền vững. GPC mang lại lợi ích về môi trường. Nó giảm thiểu chất thải công nghiệp và khí thải carbon. Việc hiểu rõ mất mát ứng suất trước của GPC giúp tối ưu hóa thiết kế. Nó cũng mở ra cơ hội ứng dụng rộng rãi GPC trong hạ tầng giao thông Việt Nam. Các hướng phát triển tiếp theo bao gồm nghiên cứu tối ưu hóa cấp phối. Nghiên cứu cũng cần đánh giá hành vi GPC trong các điều kiện môi trường khác nhau. Mục tiêu là xây dựng bộ tiêu chuẩn TCVN ứng suất trước hoàn chỉnh cho GPC. Điều này sẽ thúc đẩy chuyển đổi sang vật liệu xanh hơn.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (178 trang)Nội dung chính
Tổng quan về luận án
Bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu và cam kết phát thải ròng bằng "0" (Net Zero) của Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Thượng đỉnh COP26 vào năm 2050 đặt ra yêu cầu cấp bách phải giảm thiểu tỷ trọng phát thải khí nhà kính trong ngành công nghiệp xây dựng. Theo thống kê tại Việt Nam, quá trình sản xuất mỗi tấn xi măng poóclăng phát thải ra môi trường khoảng 667,57 kg $\text{CO}_2$, trong khi sản lượng xi măng toàn quốc năm 2022 đã đạt 99,7 triệu tấn. Việc nghiên cứu ứng dụng bê tông Geopolymer (GPC) – loại vật liệu hoàn toàn không sử dụng xi măng poóclăng (OPC) mà tận dụng nguồn phế thải công nghiệp như tro bay của Nhà máy nhiệt điện Phả Lại và xỉ lò cao nghiền mịn (GGBFS) từ Khu liên hợp gang thép Hòa Phát – mang tính tiên phong trong chiến lược xanh hóa hạ tầng giao thông.
Khoảng trống nghiên cứu then chốt (Research Gap) xuất phát từ thực tế: kết cấu nhịp công trình cầu tại Việt Nam phần lớn sử dụng dầm bê tông ứng suất trước (BTUST). Trong tính toán thiết kế dầm UST, mất mát ứng suất trước (MMUST) do biến dạng co ngót và từ biến dài hạn là thông số kỹ thuật then chốt, mang tính phức tạp cao. Tuy nhiên, các công bố khoa học về kết cấu dầm cầu GPC UST chịu lực quy mô thực tế gần như chưa xuất hiện tại Việt Nam. Các nghiên cứu quốc tế trước đây về biến dạng dài hạn của GPC cho thấy sự phân tán lớn và tồn tại mâu thuẫn sâu sắc: các công trình bảo dưỡng nhiệt (Rangan, 2006; 2014) ghi nhận co ngót và từ biến của GPC thấp hơn OPC, song các nghiên cứu gần đây về GPC tro bay kết hợp xỉ bảo dưỡng tự nhiên (Cartwright et al., 2014; Chi Hou Un, 2017; Li, 2021) lại chỉ ra giá trị co ngót tự sinh cao vượt trội so với OPC.
Nghiên cứu tập trung giải quyết ba câu hỏi và giả thuyết khoa học:
- RQ1: Quy luật hình thành cường độ, mô đun đàn hồi và quan hệ ứng suất - biến dạng khi nén của GPC chế tạo từ 100% nguyên liệu Việt Nam (tro bay Phả Lại và xỉ lò cao Hòa Phát) tuân theo mô hình giải tích nào?
- RQ2: Đặc tính biến dạng co ngót và từ biến của GPC chế tạo tại Việt Nam diễn biến ra sao trong 180 ngày so với mô hình dự báo của OPC trong tiêu chuẩn AASHTO LRFD 2017 và TCVN 11823:2017?
- RQ3: Mất mát ứng suất trước thực tế đo đạc trên dầm GPC UST nhịp 10,4 m có sai khác như thế nào so với tính toán lý thuyết, và khả năng chịu lực của dầm cầu định hình I33m khi thay thế hoàn toàn OPC bằng GPC có đảm bảo các trạng thái giới hạn (TTGH)?
Hệ thống giả thuyết tương ứng:
- H1: GPC tro bay kết hợp xỉ hoạt hóa kiềm đạt cường độ cao ngắn ngày ($\ge 40\text{--}60\text{ MPa}$), có mô đun đàn hồi thấp hơn 25–32% so với OPC cùng cấp độ bền theo AASHTO LRFD.
- H2: Biến dạng co ngót tổng thể và tốc độ từ biến của GPC đóng rắn ở điều kiện tự nhiên chịu sự chi phối mạnh bởi hàm lượng gel C-A-S-H và hiện tượng tự hút ẩm mao dẫn trong 28 ngày đầu.
- H3: Dầm cầu GPC UST bảo đảm đầy đủ an toàn chịu lực theo TTGH sử dụng (SLS) và TTGH cường độ (ULS) tương đương với dầm OPC truyền thống.
Khung lý thuyết của luận án tích hợp: (1) Lý thuyết địa polyme hóa (Geopolymerization Theory) của Joseph Davidovits; (2) Cơ học biến dạng phi tuyến và mô hình ứng suất – biến dạng của Collins et al. (1993) và Popovic; (3) Lý thuyết phá hủy và suy giảm ứng suất do biến dạng nhớt đàn hồi (Viscoelasticity & Prestress Loss Theory) theo AASHTO LRFD / TCVN 11823. Luận án thực hiện chương trình thực nghiệm toàn diện trên các mẫu thử tiêu chuẩn và dầm T ứng suất trước dài 10,4 m theo dõi liên tục trong 180 ngày (6 tháng), sau đó mô phỏng kiểm toán dầm cầu liên hợp giản đơn nhịp 33 m (I33m).
Literature Review và Positioning
Nghiên cứu về chất kết dính kiềm hoạt hóa bắt đầu đột phá từ năm 1978 khi Joseph Davidovits phát minh ra chất kết dính vô cơ trên nền mêta cao lanh và đặt tên là Geopolymer. Cấu trúc polymer vô cơ tạo thành gồm ba mạch không gian: Poly(sialate) $\text{[-Si-O-Al-O-]}$, Poly(sialate-siloxo) $\text{[-Si-O-Al-O-Si-O-]}$, và Poly(sialate-disiloxo) $\text{[-Si-O-Al-O-Si-O-Si-O-]}$. Nghiên cứu tinh thể học qua nhiễu xạ tia X (XRD) của Kumar & Mehrotra (2006) chỉ ra rằng phản ứng kiềm hoạt hóa tạo ra các khoáng zeolit dạng hydroxysodalite ($\text{Na}_4\text{Al}_3\text{Si}3\text{O}{12}\text{OH}$) và herschelite, hình thành cấu trúc gel đặc chắc với tỷ lệ $\text{Si/Al} = 1,8\text{--}2,7$ và $\text{Na/Al} = 0,68\text{--}1,0$. Khác với vùng chuyển tiếp mặt tiếp xúc (ITZ) xốp rỗng có chiều dày 20–100 $\mu\text{m}$ trong bê tông xi măng poóclăng thông thường (Mehta & Monteiro, 2006), vùng tiếp giáp giữa gel geopolymer và cốt liệu hoàn toàn liền khối và không xuất hiện ranh giới rỗng, mang lại khả năng chịu ăn mòn axit và độ bền sunfat vượt trội.
Các luồng nghiên cứu quốc tế đang tồn tại những tranh luận học thuật sâu sắc:
- Tranh luận về biến dạng co ngót tự sinh (Autogenous Shrinkage): Dòng nghiên cứu cổ điển của Hardjito & Rangan (2005) và Wallah & Rangan (2006) tại Đại học Curtin (Úc) trên GPC 100% tro bay bảo dưỡng nhiệt ($60^\circ\text{C}$) khẳng định độ co ngót ở 56 ngày tuổi rất thấp, chỉ khoảng dưới $200\times 10^{-6}$, do phản ứng trùng ngưng hoàn tất nhanh và không xảy ra tự hút ẩm. Ngược lại, trường phái nghiên cứu của Cartwright et al. (2014) và Zhenming Li (2021) trên chất kết dính xỉ lò cao hoạt hóa kiềm (AAS) và hỗn hợp tro bay – xỉ (AASF) bảo dưỡng thường cho thấy độ co ngót tự sinh phát triển bùng nổ trong 48 giờ đầu, cao gấp 4–5 lần vữa OPC ở cùng tỷ lệ N/CKD. Chi Hou Un (2017) theo dõi 600 ngày xác nhận co ngót tự sinh của GPC đạt $630\times 10^{-6}$ (chiếm 70% tổng co ngót), trong khi OPC chỉ đạt $320\times 10^{-6}$ (chiếm 45%).
- Tranh luận về bản chất gel và từ biến: Robert J. Thomas & Sulapha Peethamparan (2015) chỉ ra rằng GPC tro bay tạo gel $\text{N-A-S-H}$ có đường cong ứng suất – biến dạng mềm dẻo sau đỉnh tương tự OPC, trong khi GPC xỉ lò cao tạo gel $\text{C-A-S-H}$ có biểu hiện giòn (brittle) và sụt giảm ứng suất đột ngột. Về từ biến, S. Rangan (2006) đo hệ số từ biến $\phi$ của GPC bảo dưỡng nhiệt chỉ từ 0,4–0,7 (bằng 50% tiêu chuẩn AS 3600 của Úc), trong khi nghiên cứu của Lee (2013) trên mẫu AASF đóng rắn tự nhiên lại ghi nhận hệ số từ biến tăng dần theo hàm lượng xỉ do áp suất mao dẫn cao trong mạng vi mao quản.
So sánh với các công trình ứng dụng quốc tế quy mô lớn:
- Dự án sân bay thương mại Wellcamp tại Toowoomba, Queensland, Úc (2014) sử dụng $40.000\text{ m}^3$ bê tông geopolymer Earth Friendly Concrete (EFC) của Wagners, chứng minh khả năng chịu mỏi và uốn vượt trội của tấm lát sân đỗ nhưng hoàn toàn áp dụng cho kết cấu không ứng suất trước.
- Công trình cầu đường ô tô Murrarie Plant và dầm đúc sẵn nhịp ngắn tại Salmon Street Bridge, Melbourne (sử dụng bê tông E-Crete mác 55 MPa) đã khẳng định tính khả thi chế tạo cấu kiện tiền chế, song dữ liệu đo đạc MMUST trực tiếp trên tao cáp dầm cầu nhịp lớn còn thiếu hụt.
Luận án định vị chính xác vào khoảng trống khoa học này: Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm kiểm chứng đồng thời từ cấp độ vi mô vật liệu, quan hệ ứng suất – biến dạng, co ngót, từ biến 180 ngày cho đến ứng xử truyền ứng suất của dầm dầm cầu GPC UST dài 10,4 m được chế tạo từ khoáng phế thải đặc thù của Việt Nam.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mở rộng và hoàn thiện ba học thuyết cơ bản trong kỹ thuật công trình:
- Lý thuyết hình thành vi cấu trúc kiềm hoạt hóa đa pha: Phát triển cơ chế đồng tồn tại giữa gel $\text{C-A-S-H}$ (từ xỉ lò cao giàu Ca) và gel $\text{N-A-S-H}$ (từ tro bay giàu Si-Al) trong điều kiện đóng rắn tự nhiên không cần sấy nhiệt. Luận án làm rõ vai trò của tro bay trong việc "hãm" tốc độ co ngót tự sinh quá mức của gel $\text{C-A-S-H}$, nhờ đó giảm mật độ vi nứt co ngót trong ma trận thể tích.
- Hiệu chỉnh mô hình quan hệ ứng suất – biến dạng phi tuyến: Kiểm chứng và mở rộng phương trình của Collins et al. (1993) cho vật liệu GPC tro bay – xỉ Việt Nam: $$\frac{\sigma_c}{f'_c} = \frac{\varepsilon_c}{\varepsilon_0} \cdot \frac{k}{k - 1 + \left(\frac{\varepsilon_c}{\varepsilon_0}\right)^k}$$ Trong đó biến dạng tại đỉnh ứng suất $\varepsilon_0$ đạt từ $0,0024\text{--}0,0026$, biến dạng cực hạn $\varepsilon_u \approx 0,0031\text{--}0,0033$. Luận án chứng minh mô hình Popovic và Collins dự báo chính xác nhánh tăng ứng suất của GPC, nhưng nhánh suy giảm sau đỉnh có độ dốc lớn hơn OPC, phản ánh tính chất giòn tăng nhẹ khi hàm lượng xỉ lò cao chiếm tỷ lệ cao.
- Xác lập mô hình thực nghiệm dự báo co ngót và từ biến: Chứng minh sự không tương thích của các công thức kinh nghiệm trong AASHTO LRFD 2017 và TCVN 11823:2017 khi áp dụng trực tiếp cho GPC. Luận án đề xuất hệ số hiệu chỉnh mô đun đàn hồi $E_c$ và hệ số từ biến $\phi(t, t_i)$ phục vụ tính toán chính xác tổn hao ứng suất trước dài hạn.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp đa tầng từ cơ học vi mô đến kết cấu vĩ mô:
- Tích hợp liên thuyết: Kết hợp Hóa học vô cơ chất rắn (cơ chế kiềm hoạt hóa của Davidovits), Cơ học đàn nhớt (Viscoelasticity Mechanics trong nghiên cứu từ biến của Bazant) và Cơ học kết cấu bê tông ứng suất trước (Prestressed Concrete Theory theo tiêu chuẩn AASHTO LRFD).
- Phương pháp phân tích chuyển vị tương thích: Sử dụng thuật toán tích phân thời gian từng bước (step-by-step time-dependent analysis) để phân tách mất mát ứng suất thành các thành phần: co ngắn đàn hồi ($\Delta f_{pES}$), co ngót bê tông ($\Delta f_{pSR}$), từ biến bê tông ($\Delta f_{pCR}$) và chùng dão cốt thép ($\Delta f_{pR}$).
- Điều kiện biên xác định: Nghiên cứu giới hạn trong phạm vi GPC sử dụng tro bay Phả Lại, xỉ lò cao nghiền mịn Hòa Phát với chất hoạt hóa thủy tinh lỏng ($\text{Na}_2\text{SiO}_3$) kết hợp dung dịch $\text{NaOH}$, bảo dưỡng trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm tại Việt Nam (nhiệt độ $25\text{--}35^\circ\text{C}$, độ ẩm tương đối $RH = 70\text{--}80%$).
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo trường phái thực chứng nghiêm ngặt (Positivism Paradigm) với phương pháp tiếp cận đa mức (Multi-level Experimental & Analytical Design):
- Mức 1 (Cấp độ vật liệu - Material Level): Xác định tính chất cơ lý, cường độ chịu nén đặc trưng ($f'c$), cường độ kéo ép chẻ ($f{ct,sp}$), mô đun đàn hồi ($E_c$), hệ số Poisson ($\nu$) theo các độ tuổi 3, 7, 28, 56, 90 và 180 ngày.
- Mức 2 (Cấp độ biến dạng dài hạn - Time-dependent Deformation Level): Quan trắc biến dạng co ngót tự do và biến dạng từ biến dưới tải trọng nén duy trì liên tục ở mức $0,4 f'_c$ trong 180 ngày.
- Mức 3 (Cấp độ cấu kiện kết cấu - Structural Component Level): Chế tạo dầm cầu ứng suất trước hình chữ T căng trước, dài 10,4 m, bố trí hệ thống cảm biến đo biến dạng dây rung (Vibrating Wire Strain Gauges) ngầm trong bê tông và trên tao cáp để đo MMUST liên tục trong 6 tháng.
- Mức 4 (Cấp độ công trình cầu - Full-scale Application Level): Thiết kế mô phỏng kiểm toán dầm chữ I nhịp 33 m (I33m) liên hợp bản BTCT chịu tải trọng đoàn xe HL-93 theo tiêu chuẩn TCVN 11823:2017.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình thu thập và xử lý số liệu tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn quốc tế và Việt Nam:
- Thí nghiệm cường độ nén và mô đun đàn hồi: Tiến hành trên các tổ mẫu hình trụ tiêu chuẩn $\phi 150 \times 300\text{ mm}$ theo ASTM C39 / TCVN 3118-2022 và ASTM C469 trên máy nén thủy lực điều khiển điện tử tại Phòng thí nghiệm LAS-XD125 (Đại học Xây dựng Hà Nội).
- Thí nghiệm co ngót: Sử dụng các mẫu lăng trụ $100 \times 100 \times 400\text{ mm}$ và đồng hồ so điện tử độ chính xác $0,001\text{ mm}$ theo ASTM C157/C157M-17 và TCVN 3117-2022.
- Thí nghiệm từ biến: Chế tạo hệ khung gia tải từ biến lò xo kép chuyên dụng theo ASTM C512, duy trì ứng suất nén không đổi bằng $40% f'_c$ ở tuổi chất tải $t_0 = 28$ ngày, đo đạc biến dạng tức thời và biến dạng từ biến kéo dài đến 180 ngày.
- Quan trắc MMUST trên dầm 10,4 m: Sử dụng 8 cảm biến dây rung Geokon (USA) gắn trực tiếp vào các bó cáp UST $12,7\text{ mm}$ (loại 7 sợi cường độ cao $f_{pu} = 1860\text{ MPa}$) và chôn ngầm tại các phân đoạn mặt cắt giữa nhịp và đầu dầm. Thiết bị đọc số liệu tự động loại trừ ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường.
Data và phân tích
- Thành phần cấp phối tối ưu: Khối lượng vật liệu cho $1\text{ m}^3$ GPC gồm: Tro bay Phả Lại: $180\text{ kg}$; Xỉ lò cao Hòa Phát: $270\text{ kg}$ (tỷ lệ xỉ/tro bay = 60/40); Cát vàng: $680\text{ kg}$; Đá dăm $5\text{--}20\text{ mm}$: $1150\text{ kg}$; Dung dịch $\text{Na}_2\text{SiO}_3$ (nước thủy tinh): $135\text{ kg}$; Dung dịch $\text{NaOH } 10\text{M}$: $45\text{ kg}$; Nước thêm: $25\text{ kg}$.
- Chỉ số thống kê cơ lý: Cường độ nén 28 ngày đạt trung bình $f'c = 52,4\text{ MPa}$ ($f{cm} = 55,2\text{ MPa}$); Cường độ kéo ép chẻ $f_{ct,sp} = 4,85\text{ MPa}$; Mô đun đàn hồi thực nghiệm $E_c = 26,8\text{ GPa}$ (đạt $70,8%$ giá trị lý thuyết của OPC theo công thức $E_c = 4800\sqrt{f'_c} = 37,8\text{ GPa}$); Hệ số Poisson $\nu = 0,14\text{--}0,15$ (so với $\nu = 0,20$ của OPC).
- Phân tích phương sai và kiểm tra độ tin cậy: Toàn bộ dữ liệu đo biến dạng co ngót, từ biến và tần số cảm biến dây rung được xử lý bằng phân tích hồi quy phi tuyến tính (Non-linear regression analysis) với hệ số tương quan $R^2 > 0,96$.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
- Quy luật biến dạng co ngót vượt trội của GPC đóng rắn tự nhiên: Biến dạng co ngót dài hạn sau 180 ngày của GPC thực nghiệm đạt giá trị trung bình $\varepsilon_{sh} = 645\times 10^{-6}$, lớn hơn $28,4%$ so với giá trị tính toán lý thuyết của OPC theo mô hình AASHTO LRFD 2017 ($\varepsilon_{sh, OPC} \approx 502\times 10^{-6}$). Đặc biệt, hơn $65%$ lượng biến dạng co ngót phát triển tập trung trong 28 ngày đầu do phản ứng tự hút ẩm mao dẫn mạnh mẽ của gel $\text{C-A-S-H}$.
- Hệ số từ biến $\phi(t, t_i)$ thấp hơn đáng kể so với OPC: Tại thời điểm 180 ngày, hệ số từ biến thực nghiệm của GPC đạt $\phi(180, 28) = 1,18$, chỉ bằng khoảng $68\text{--}72%$ hệ số từ biến dự báo theo AASHTO LRFD cho bê tông xi măng thường ($\phi_{OPC} \approx 1,65\text{--}1,74$). Điều này chứng minh khung xương không gian aluminosilicate sau khi đông đặc có tính ổn định thể tích cao dưới tải trọng nén dài hạn.
- Diễn biến MMUST thực tế trên dầm GPC UST 10,4 m: Sau 180 ngày theo dõi liên tục, tổng mất mát ứng suất do co ngót và từ biến đo được bằng cảm biến dây rung trên cáp số 1 và số 2 lần lượt là $142,6\text{ MPa}$ và $138,2\text{ MPa}$. Giá trị này sai khác dưới $6,5%$ so với tính toán lý thuyết tích phân, khẳng định tính khả thi của việc kiểm soát ứng suất dư trong cáp kéo trước.
- Mô đun đàn hồi thấp là nhân tố kép: Giá trị $E_c$ của GPC thấp hơn OPC khoảng $29%$ dẫn đến mất mát ứng suất do co ngắn đàn hồi khi truyền lực ($\Delta f_{pES}$) tăng thêm khoảng $12\text{--}15%$, nhưng bù lại hệ số từ biến thấp giúp triệt tiêu phần chênh lệch này trong tổn hao dài hạn tổng cộng.
- Khả năng chịu lực tương đương hoàn toàn trên dầm nhịp lớn I33m: Kết quả kiểm toán dầm cầu liên hợp I33m sử dụng GPC mác 50 MPa cho thấy ứng suất thớ dưới giữa nhịp khi khai thác đạt $+1,82\text{ MPa}$ (trạng thái chịu nén, thỏa mãn giới hạn kéo cho phép $f_{allow} = 0,63\sqrt{f'_c} = 4,45\text{ MPa}$). Sức kháng uốn danh định $M_n = 7120\text{ kNm}$ vượt yêu cầu mô men tính toán cực hạn $M_u = 5840\text{ kNm}$ ($M_u / \phi M_n = 0,82 \le 1,0$).
SO SÁNH CƠ LÝ VÀ MẤT MÁT ỨNG SUẤT (GPC vs OPC)
┌──────────────────────────────────────────────┬──────────────────┬──────────────────┐
│ Chỉ tiêu kỹ thuật / Cơ học │ GPC Thực nghiệm │ OPC Chuẩn AASHTO │
├──────────────────────────────────────────────┼──────────────────┼──────────────────┤
│ Cường độ nén 28 ngày (f'c) │ 52,4 MPa │ 50,0 MPa │
│ Mô đun đàn hồi (Ec) │ 26,8 GPa │ 37,8 GPa │
│ Tỷ lệ Ec(thực nghiệm) / Ec(tiêu chuẩn) │ 70,8% │ 100% │
│ Hệ số Poisson (ν) │ 0,14 │ 0,20 │
│ Biến dạng co ngót 180 ngày (ε_sh) │ 645 × 10^-6 │ 502 × 10^-6 │
│ Hệ số từ biến 180 ngày (φ) │ 1,18 │ 1,68 │
│ Tổng MMUST dài hạn dầm I33m (MPa) │ 286,4 MPa │ 274,8 MPa │
│ Tỷ lệ ứng suất dư còn lại trong cáp │ 79,4% │ 80,2% │
└──────────────────────────────────────────────┴──────────────────┴──────────────────┘
Implications đa chiều
- Về mặt học thuật: Luận án hoàn thiện cơ sở dữ liệu về biến dạng phụ thuộc thời gian của bê tông geopolymer không qua nhiệt luyện, bắc cầu nối giữa khoa học vật liệu vô cơ và cơ học kết cấu công trình.
- Về mặt kỹ thuật công nghệ: Thiết lập quy trình công nghệ chế tạo dầm UST sử dụng thiết bị trạm trộn, xe goòng vận chuyển và ván khuôn công nghiệp sẵn có tại các nhà máy bê tông đúc sẵn (như Công ty Cổ phần Bê tông Xuân Mai) mà không cần thay đổi dây chuyền cơ giới hóa.
- Về mặt tiêu chuẩn hóa: Cung cấp cơ sở khoa học định lượng để các cơ quan quản lý (Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Xây dựng) xây dựng Phụ lục tiêu chuẩn tính toán kết cấu bê tông geopolymer ứng suất trước trong tương lai, thay thế việc áp dụng cơ học tiêu chuẩn OPC truyền thống.
Limitations và Future Research
- Giới hạn về nguồn nguyên liệu: Các thông số thực nghiệm gắn liền với nguồn tro bay Nhà máy nhiệt điện Phả Lại (loại F) và xỉ lò cao nghiền mịn Hòa Phát. Sự thay đổi hàm lượng thủy tinh hoạt tính hoặc độ mịn Blaine ở các nguồn nguyên liệu khác (như tro bay Vĩnh Tân, Duyên Hải) sẽ làm biến động động học phản ứng.
- Giới hạn thời gian quan trắc: Số liệu thực nghiệm quan trắc dầm và mẫu co ngót từ biến được ghi nhận trong thời gian 180 ngày (6 tháng). Mặc dù các biến dạng chủ yếu diễn ra trong giai đoạn này, dữ liệu dài hạn 5–10 năm cần tiếp tục được thu thập để đánh giá trọn vòng đời công trình.
- Các hướng nghiên cứu phát triển tiếp theo:
- Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường xâm thực mặn (vùng ven biển và hải đảo) đến tốc độ chùng dão và ăn mòn điện hóa của tao cáp UST trong bê tông geopolymer.
- Phát triển chất kích hoạt kiềm dạng rắn (one-part "just add water" geopolymer) nhằm loại bỏ hoàn toàn việc sử dụng dung dịch kiềm lỏng nguy hiểm trong thi công hiện trường.
- Mở rộng nghiên cứu sang kết cấu dầm hộp thi công đúc hẫng cân bằng và cầu vòm bê tông geopolymer nhịp lớn.
Tác động và ảnh hưởng
- Tác động học thuật: Công trình tạo lập tiền đề công bố trên các tạp chí quốc tế chuyên ngành nhóm Q1 (như Construction and Building Materials, Cement and Concrete Composites, Journal of Bridge Engineering), dự kiến tạo nguồn trích dẫn học thuật lớn cho các nghiên cứu tiếp theo về kết cấu hạ tầng không xi măng.
- Chuyển đổi công nghiệp: Tạo điều kiện cho các nhà máy đúc cấu kiện bê tông giao thông tận dụng hàng triệu tấn tro xỉ nhiệt điện và luyện kim tồn đọng tại Việt Nam, giải phóng diện tích bãi thải xỉ và giảm thiểu chi phí xử lý môi trường.
- Đóng góp giảm phát thải khí nhà kính: Áp dụng GPC cho 1 km cầu dầm I33m giúp giảm thiểu khoảng $420\text{ tấn CO}_2$ phát thải so với việc dùng bê tông xi măng truyền thống, trực tiếp hiện thực hóa các cam kết quốc gia về Net Zero.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và Giới học thuật: Tiếp cận bộ số liệu thực nghiệm đo đạc biến dạng dài hạn và MMUST chi tiết đầu tiên trên dầm nhịp 10,4 m tại Việt Nam, làm nền tảng phát triển các mô hình phần tử hữu hạn (FEA) nâng cao.
- Kỹ sư tư vấn thiết kế cầu: Nắm vững phương pháp luận và các hệ số hiệu chỉnh ($E_c, \varepsilon_{sh}, \phi$) để tự tin kiểm toán các trạng thái giới hạn khi ứng dụng GPC vào các công trình cầu nhịp giản đơn.
- Doanh nghiệp sản xuất bê tông đúc sẵn: Có được quy trình cấp phối, trình tự trộn và bảo dưỡng GPC đóng rắn tự nhiên ở quy mô công nghiệp với chi phí vật liệu hợp lý.
- Nhà hoạch định chính sách môi trường và giao thông: Có đủ bằng chứng kỹ thuật vững chắc để ban hành định mức kinh tế kỹ thuật và chỉ dẫn thiết kế vật liệu xanh trong đầu tư công hạ tầng giao thông.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Đóng góp độc đáo nhất là việc làm sáng tỏ cơ chế cân bằng giữa co ngót tự sinh và từ biến trong hệ chất kết dính hỗn hợp tro bay – xỉ lò cao hoạt hóa kiềm (AASF). Trong khi gel $\text{C-A-S-H}$ từ xỉ làm tăng độ co ngót tự sinh ngắn hạn lên cao hơn $28%$ so với OPC, thì cấu trúc liên kết không gian ba chiều đặc chắc của gel $\text{N-A-S-H}$ từ tro bay lại giữ cho hệ số từ biến $\phi$ ở mức rất thấp ($1,18$ so với $1,68$ của OPC). Sự bù trừ này giúp cho tổng mất mát ứng suất trước dài hạn của dầm GPC chỉ chênh lệch khoảng $4,2%$ so với dầm OPC, chứng minh tính tương thích hoàn hảo về mặt cơ học kết cấu.
2. Đột phá về phương pháp nghiên cứu so với các công trình quốc tế?
So với nghiên cứu của Hardjito & Rangan (2005) vốn chỉ thí nghiệm mẫu nén nhỏ và bắt buộc sấy nhiệt ở $60^\circ\text{C}$, hoặc nghiên cứu của Chi Hou Un (2017) chỉ dừng lại ở mẫu đo co ngót vật liệu, luận án đã thực hiện bước nhảy vọt: Thiết kế, chế tạo và căng kéo thực tế dầm T ứng suất trước quy mô lớn ($L = 10,4\text{ m}$) trong điều kiện thi công công nghiệp, quan trắc biến dạng nội tại của sợi cáp bằng cảm biến dây rung liên tục trong 180 ngày.
3. Phát hiện bất ngờ nhất từ số liệu thực nghiệm là gì?
Phát hiện bất ngờ nhất là mô đun đàn hồi thực nghiệm của GPC ($E_c = 26,8\text{ GPa}$) thấp hơn gần $30%$ so với công thức dự báo tiêu chuẩn của OPC, dẫn đến mất mát do co ngắn đàn hồi tức thời khi cắt cáp tăng cao. Tuy nhiên, tốc độ suy giảm từ biến sau 28 ngày lại phẳng đi rất nhanh, khiến cho độ vồng tổng thể của dầm GPC sau 6 tháng duy trì mức ổn định tuyệt đối ($1,8\text{ cm}$ ngay sau căng cáp và biến thiên không quá $5%$ trong suốt quá trình theo dõi).
4. Luận án có cung cấp đầy đủ quy trình lặp lại thí nghiệm (Replication Protocol) không?
Có. Luận án chi tiết hóa toàn bộ thông số: thành phần hóa học oxit của tro bay Phả Lại và xỉ Hòa Phát qua phân tích XRF; tỷ lệ cấp phối khối lượng; tỷ trọng dung dịch kiềm; nhiệt độ môi trường; kích thước hình học dầm; sơ đồ bố trí cảm biến dây rung; và từng bước công nghệ từ trộn, đổ, đầm dùi đến chế độ dưỡng hộ ẩm.
5. Lộ trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được định hình ra sao?
Lộ trình 10 năm bao gồm: (1) 2024–2026: Xây dựng bộ hướng dẫn kỹ thuật thiết kế dầm cầu GPC UST và triển khai thử nghiệm trên 01 công trình cầu thực tế nhịp $\le 20\text{ m}$; (2) 2027–2030: Mở rộng nghiên cứu độ bền mỏi (fatigue behavior) và ứng xử chịu chấn động động đất của kết cấu khung cầu GPC; (3) 2031–2035: Chuẩn hóa tiêu chuẩn quốc gia TCVN cho bê tông Geopolymer ứng suất trước và thương mại hóa bê tông Geopolymer một thành phần tại Việt Nam.
Kết luận
- Khẳng định tính khả thi toàn diện: Luận án đã chứng minh một cách khoa học và thực tiễn rằng hoàn toàn có thể chế tạo thành công bê tông Geopolymer cường độ cao ($f'_c > 50\text{ MPa}$) từ 100% phế thải công nghiệp Việt Nam (tro bay Phả Lại và xỉ Hòa Phát) đóng rắn ở điều kiện tự nhiên phục vụ kết cấu cầu ứng suất trước.
- Xác lập bộ thông số cơ học chuẩn xác: Xác định rõ mô đun đàn hồi của GPC đạt $70,8%$ so với OPC chuẩn; hàm quan hệ ứng suất – biến dạng nén tương thích với mô hình Collins; biến dạng co ngót 180 ngày đạt $645\times 10^{-6}$; và hệ số từ biến $\phi = 1,18$.
- Thực chứng thành công trên dầm UST nhịp 10,4 m: Số liệu đo đạc liên tục 180 ngày trên dầm thực nghiệm khẳng định mất mát ứng suất trước trong cáp do co ngót và từ biến diễn ra ổn định, có thể kiểm soát và tính toán chính xác bằng phương pháp giải tích.
- Kiểm toán hoàn chỉnh dầm I33m: Dầm cầu giản đơn GPC nhịp 33 m đáp ứng đầy đủ các điều kiện khắt khe nhất về TTGH cường độ (sức kháng uốn, kháng cắt, kháng xoắn) và TTGH sử dụng (khống chế ứng suất nén/kéo và độ võng) theo tiêu chuẩn TCVN 11823:2017 / AASHTO LRFD.
- Mở ra hướng nghiên cứu hạ tầng giao thông xanh: Công trình đặt nền móng lý thuyết và công nghệ vững chắc cho việc xóa bỏ phụ thuộc vào xi măng poóclăng trong xây dựng công trình cầu, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu phát triển bền vững và giảm phát thải khí nhà kính tại Việt Nam.
Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI Vũ Thành Quang NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG DO CO NGÓT VÀ TỪ BIẾN ĐẾN MẤT MÁT ỨNG SUẤT TRƯỚC CỦA DẦM CẦU BÊ TÔNG GEOPOLYMER ỨNG SUẤT TRƯỚC CHẾ TẠO TẠI VIỆT NAM Chuyên ngành : Xây dựng Cầu hầm Mã số : 9580205-1 LUẬN ÁN TIẾN SĨ Hà Nội, năm 2024 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI Vũ Thành Quang NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG DO CO NGÓT VÀ TỪ BIẾN ĐẾN MẤT MÁT ỨNG SUẤT TRƯỚC CỦA DẦM CẦU BÊ TÔNG GEOPOLYMER ỨNG SUẤT TRƯỚC CHẾ TẠO TẠI VIỆT NAM Chuyên ngành : Kỹ thuật XD công trình Giao thông-Xây dựng Cầu hầm Mã số : 9580205-1 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1. Nguyễn Bình Hà 2. Nguyễn Quốc Bảo Hà Nội, năm 2024 i LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực, đã được công bố trên các tạp chí thuộc danh mục tạp chí khoa học được tính điểm công trình khoa học quy đổi khi xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Hà Nội, ngày tháng năm 2024 Tác giả luận án Vũ Thành Quang ii LỜI CẢM ƠN Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến tập thể hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Bình Hà và TS Nguyễn Quốc Bảo đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện và động viên trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án. Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Đào tạo sau đại học, nay là Phòng Quản lý đào tạo, Khoa Cầu đường, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội và Công ty Bê tông Xuân Mai đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập nghiên cứu và thực nghiệm. Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Bộ môn Cầu và Công trình ngầm, các thầy cô và chuyên gia trong và ngoài trường, các thầy công tác tại Phòng thí nghiệm LAS-XD125 - Đại học Xây dựng Hà Nội đã có những đóng góp ý kiến quý báu cho luận án. Cuối cùng, NCS bày tỏ cảm ơn tới các đồng nghiệp, bạn bè, gia đình và người thân đã luôn động viên khích lệ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu để tác giả hoàn thành luận án.
Tác giả luận án Vũ Thành Quang iii MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN. ii MỤC LỤC. iii DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU .viii DANH MỤC HÌNH VẼ. xi DANH MỤC BẢNG.
xvii MỞ ĐẦU. TỔNG QUAN VỀ VIỆC NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG GPC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM. Giới thiệu về GPC. Cấu trúc hình thành CKD geopolymer.
Những ưu nhược điểm của GPC. GPC sử dụng tro bay và xỉ lò cao. Các đặc trưng cơ học của bê tông GPC. Cường độ chịu nén.
Quan hệ ứng suất biến dạng. Cường độ chịu nén và cường độ chịu kéo. Mô đun đàn hồi và hệ số poisson. Tính chất co ngót.
Tính chất từ biến. Những nghiên cứu và áp dụng GPC trên thế giới. Những nghiên cứu và áp dụng GPC tại Việt Nam. Những vấn đề còn tồn tại.
Xây dựng giả thuyết nghiên cứu. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Phương pháp thí nghiệm cường độ chịu nén theo tiêu chuẩn ASTM C39, TCVN 3118-2022. Thiết bị dụng cụ.
Lấy mẫu và chuẩn bị mẫu thử. Cách tiến hành. Xác định diện tích chịu lực của viên mẫu. Xác định tải trọng phá hủy viên mẫu.
Thí nghiệm xác định quan hệ ứng suất - biến dạng và mô đun đàn hồi của bê tông theo ASTM C469. Co ngót của bê tông. Co ngót tự sinh (Autogenous Shrinkage). Co ngót khô.
Một số mô hình dự báo biến dạng co ngót của bê tông trong các tiêu chuẩn v hiện hành. Thực nghiệm xác định biến dạng co ngót TCVN 3117-2022 [20] và ASTM C157/C157M-17 [37]. Từ biến của bê tông. Những vấn đề cơ bản về từ biến của bê tông.
Xác định đặc trưng từ biến theo AASHTO-LRFD 2017 và TCVN 11823- 2017. Thực nghiệm đo đạc biến dạng từ biến theo ASTM C512 [38]. Thiết kế mô hình dầm thí nghiệm. Nhận xét chương 2.
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM XÁC ĐỊNH MÔ ĐUN ĐÀN HỒI, CƯỜNG ĐỘ CHỊU NÉN, QUAN HỆ ỨNG SUẤT BIẾN DẠNG, HỆ SỐ TỪ BIẾN VÀ CO NGÓT CỦA GPC. Thành phần cấp phối mẫu thí nghiệm và dầm GPC UST. Kết quả thí nghiệm xác định cường độ chịu nén bê tông GPC. Kết quả thí nghiệm mô đun đàn hồi và quan hệ ứng suất biến dạng.
Kết quả thí nghiệm mô đun đàn hồi. Kết quả thí nghiệm quan hệ ứng suất - biến dạng. Thực nghiệm đo đạc biến dạng co ngót của GPC. Tính toán và xử lý kết quả.
Kết quả tính toán biến dạng tỷ đối do co ngót. So sánh kết quả thực nghiệm co ngót GPC với OPC theo tiêu chuẩn AASHTO LRFD 2017, TCVN 11823:5 2017. Kết quả đo biến dạng từ biến GPC. Kết quả đo đạc biến dạng từ biến.
Kết quả tính toán hệ số từ biến của GPC. So sánh kết quả thực nghiệm từ biến của GPC với OPC theo tiêu chuẩn AASHTO LRFD 2017, TCVN 11823:5 2017. Nhận xét chương 3. THIẾT KẾ, ĐÚC DẦM THÍ NGHIỆM, THEO DÕI MMUST TRONG CÁP UST DO CO NGÓT VÀ TỪ BIẾN.
Thiết kế dầm GPC UST tiết diện T dài 10,4m phục vụ thí nghiệm. Mục tiêu của thí nghiệm. Cơ sở xây dựng mô hình. Xác định kích thước dầm.
Bố trí thiết bị đo MMUST do co ngót và từ biến. Công tác đúc dầm thí nghiệm. Mất mát ứng suất trong cáp UST dầm thực nghiệm. Kết quả đo thực nghiệm.
Nhận xét chương 4. 135 vii CHƯƠNG 5. ÁP DỤNG GPC VÀO CẦU DẦM ỨNG SUẤT TRƯỚC NHỊP GIẢN ĐƠN 33M, SO SÁNH MMUST DO CO NGÓT VÀ TỪ BIẾN KHI SỬ DỤNG GPC VÀ OPC. Các thông số thiết kế của dầm I33m.
Thông số vật liệu. Thông số cầu thiết kế. Thông số kích thước mặt cắt ngang, cáp dứng suất trước dầm I33m. Kiểm toán dầm theo các TTGH cường độ và sử dụng.
Kiểm toán dầm theo TTGH sử dụng. Kiểm toán dầm theo TTGH cường độ. So sánh mất mát ứng suất trước của dầm I33m sử dụng vật liệu GPC và vật liệu OPC. Thông số cầu dầm I33m sử dụng OPC.
Kết quả tính toán giá trị ứng suất còn lại trong cáp sau khi trừ đi các MMUS. Nhận xét chương 5. 149 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 151 viii DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU Chữ cái Latinh viết hoa Kí hiệu Diễn giải Hệ tiêu chuẩn tham chiếu AASHTO LRFD Tiêu chuẩn thiết kế cầu của Mỹ ASTM Tiêu chuẩn của Mỹ về thí nghiệm Vật liệu ACI Tiêu chuẩn thiết kế kết cấu bê tông của Viện bê tông của Hoa Kỳ AAF Tro bay hoạt tính kiềm AAS Xỉ hoạt tính kiềm AASF Hỗn hợp tro bay xỉ hoạt tính kiềm ACT Chất hoạt hóa B Cấp độ bền nén của bê tông TCVN 5574: 2018 BFS Xỉ lò cao BTCT Bê tông cốt thép BTXM Bê tông xi măng BTUST Bê tông ứng suất trước C Cát CHH Chất hoạt hoá CKD Chất kết dính D Đá Eb Mô đun đàn hồi bê tông TCVN 5574: 2018 ix Ecm Mô đun đàn hồi trung bình của bê tông EC2 EC2 Tiêu chuẩn thiết kế bê tông cốt thép của châu Âu FA Tro bay GGBFS Xỉ lò cao nghiền mịn GP Chất kết dính geopolymer GPC Bê tông geopolymer MMUS Mất mát ứng suất MMUST Mất mát ứng suất trước N Nước OPC Bê tông xi măng TCVN Tiêu chuẩn Việt nam TCVN 5574: 2018 Tiêu chuẩn Việt Nam - Thiết kế kết cấu bê tông cốt thép TCVN 1823:2017 Tiêu chuẩn thiết kế cầu Việt Nam Chữ cái Latinh viết thường Kí hiệu Diễn giải Hệ tiêu chuẩn tham chiếu fy Giới hạn chảy của cốt thép f’c Cường độ chịu nén đặc trưng của bê tông fc Ứng suất nén của bê tông fck Cường độ chịu nén đặc trưng của bê x tông fcm Cường độ chịu nén trung bình của bê tông fct Cường độ chịu kéo dọc trục fct,sp Cường độ chịu kéo ép chẻ fr Cường độ chịu kéo uốn fu Giới hạn bền của cốt thép xi DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 1-1.
Các dạng cấu trúc phân tử của geopolymer [27]. Ranh giới giữa CKD và cốt liệu trong GPC (a, b) và OPC (c) [27]. Hình ảnh chụp Xray sản phẩm sau phản ứng của (a) xỉ lò cao (b) tro bay (c) Xi măng. Cơ chế hình thành cường độ của bê tông GPC sử dụng cả tro bay và xỉ lò cao (nhánh bên trái) [66].
Quan hệ ứng suất – biến dạng với các mẫu thí nghiệm có cường độ 40MPa và 60MPa của Hardjito & Rangan (2005) [63]. So sánh ứng suất – biến dạng mẫu 23 với phương trình Collins [63] 13 Hình 1-7. So sánh Ứng suất – biến dạng mẫu 24 với phương trình Collins [63]. So sánh Ứng suất – biến dạng mẫu 26 với phương trình Collins [63].
Biểu đồ ứng suất-biến dạng của mẫu GPC tro bay thực nghiệm và với mô hình Popovis được tính từ cường độ cực hạn của GPC tro bay. Biểu đồ ứng suất-biến dạng của mẫu GPC xỉ lò cao thực nghiệm và với mô hình Popovis được tính từ cường độ cực hạn của GPC xỉ lò cao [83]. Quan hệ ứng suất biến dạng của GPC [59]. Sự phát triển cường độ chịu nén của bê tông GPC [12].
Sự ngót của GPC [51]. Co ngót của GPC bảo dưỡng nhiệt và điều kiện thường [40]. Co ngót tự sinh của vữa AAF với hàm lượng SiO 2 và Na2O khác nhau, ở 400C [93]. So sánh giữa biến dạng co ngót của GPC sử dụng xỉ lò cao và OPC [43].
Biểu đồ so sánh biến dạng co ngót khi thay đổi tỷ lệ GGBFS/FS [85]. Biến dạng co ngót của GPC và OPC trong thời gian 1 năm [54]. Co ngót tự sinh của vữa AAS với lượng gel nano C-A-S-H khác nhau [39]. Độ co ngót của bê tông AAS (trái: w/b=0,45, phải: w/b=0,52) với các liều lượng khác nhau (0%, 5% và 10%) Ca(OH)2 [92].
Độ co ngót tự sinh (AS) của bê tông AAS và AASF [96]. Sự co ngót tự sinh của AAS và AASF [96]. Co ngót tổng và co ngót tự sinh của GPC và OPC [46]. Từ biến theo các cấp cường độ chịu nén GPC bảo dưỡng nhiệt [40].
Hệ số từ biến của GPC và OPC [54]. So sánh hệ số từ biến của GPC và OPC thời điểm 650 ngày tuổi [46] .
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Vũ Thành Quang (2024). Mất mát ứng suất trước dầm GPC do co ngót từ biến tại VN [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội]. LuanAn.net. https://luanan.net/ky-thuat-xay-dung-kien-truc/ky-thuat-xay-dung-dan-dung-cong-nghiep/mat-mat-ung-suat-truoc-dam-gpc-co-ngot-tu-bien
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Mất mát ứng suất trước dầm GPC do co ngót từ biến tại VN" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu mất mát ứng suất trước do co ngót, từ biến của dầm bê tông geopolymer GPC UST chế tạo tại Việt Nam.
Luận án "Mất mát ứng suất trước dầm GPC do co ngót từ biến tại VN" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội. Năm bảo vệ: 2024.
Luận án "Mất mát ứng suất trước dầm GPC do co ngót từ biến tại VN" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Mất mát ứng suất trước dầm GPC do co ngót từ biến tại VN" thuộc chuyên ngành Kỹ thuật XD công trình Giao thông-Xây dựng Cầu hầm. Danh mục: Kỹ Thuật Xây Dựng Dân Dụng & Công Nghiệp.
Luận án "Mất mát ứng suất trước dầm GPC do co ngót từ biến tại VN" có bao nhiêu trang?
Luận án "Mất mát ứng suất trước dầm GPC do co ngót từ biến tại VN" có 178 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Mất mát ứng suất trước dầm GPC do co ngót từ biến tại VN" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.