Tổng quan về luận án

Sản xuất nông nghiệp toàn cầu đang đứng trước bước ngoặt chuyển đổi mô hình tăng trưởng khi phải đối mặt với tình trạng suy thoái môi trường và biến đổi khí hậu gay gắt. Tại Việt Nam, số liệu thống kê từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ ra rằng ngành nông nghiệp đóng góp xấp xỉ 30% tổng lượng phát thải khí nhà kính quốc gia. Nhằm hiện thực hóa cam kết đạt mức phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 và cụ thể hóa quan điểm của Đại hội XIII của Đảng: "Nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh", việc chuyển đổi từ nông nghiệp thâm canh hóa học sang nông nghiệp sinh thái (NNST) đã trở thành xu thế tất yếu.

Khoảng trống nghiên cứu then chốt tồn tại trong y văn học thuật hiện nay là sự thiếu vắng các công trình tiếp cận trực diện và toàn diện vấn đề bảo đảm lợi ích của người nông dân dưới lăng kính Kinh tế chính trị. Đa số các nghiên cứu tiền nhiệm chủ yếu tập trung vào khía cạnh kỹ thuật nông học hoặc hiệu quả kinh tế thuần túy ở cấp độ vĩ mô, mà chưa giải quyết căn bản mâu thuẫn giữa chi phí tư nhân mà nông dân bỏ ra với lợi ích công cộng vô hình mà xã hội thụ hưởng. Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Lâm Thị Phượng với đề tài "Lợi ích của nông dân trong phát triển nông nghiệp sinh thái ở các huyện ngoại thành, thành phố Hà Nội" đã lấp đầy khoảng trống khoa học này.

Luận án tập trung giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu cốt lõi:

  1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về lợi ích của nông dân trong phát triển NNST bao gồm những nội hàm, hình thức biểu hiện, tiêu chí đánh giá và nhân tố tác động nào?
  2. Thực trạng phân phối và thụ hưởng lợi ích (cả kinh tế và phi kinh tế) của nông dân ngoại thành Hà Nội giai đoạn 2017 - 2022 diễn ra như thế nào, có tương xứng với giá trị tạo ra hay không?
  3. Hệ thống quan điểm và giải pháp đột phá nào cần được thực thi để bảo đảm hài hòa lợi ích cho nông dân đến năm 2030?

Khung lý thuyết của công trình được xây dựng dựa trên sự giao thoa giữa Kinh tế chính trị Mác - Lênin về quan hệ lợi ích, Lý thuyết Kinh tế học sinh thái (Ecological Economics) và Lý thuyết Chuỗi giá trị nông nghiệp. Phạm vi nghiên cứu khảo sát thực chứng trên mẫu định lượng $N = 400$ hộ nông dân tại 4 huyện ngoại thành trọng điểm của Hà Nội (Sóc Sơn, Thường Tín, Đông Anh, Chương Mỹ) trong khung thời gian 2017 - 2022, định hướng giải pháp đến năm 2030.

Literature Review và Positioning

Tổng quan y văn quốc tế và trong nước cho thấy sự phân hóa rõ nét thành hai dòng nghiên cứu chính:

Dòng nghiên cứu về lý luận lợi ích và quan hệ lợi ích kinh tế: Glen Weisbrod và David Simmonds (2011) đã mở rộng nội hàm lợi ích kinh tế khi khẳng định lợi ích bao gồm cả các giá trị đo lường được bằng tiền và các phúc lợi phi tiền tệ cấu thành nên giá trị toàn nền kinh tế. V.A. Medvedman-kin (1987) phân tích lợi ích kinh tế như sự tương tác giữa các nhu cầu vật chất trong tái sản xuất lực lượng sản xuất. Tại Việt Nam, Hoàng Văn Luận (2004), Nguyễn Danh Sơn (2007), Đặng Quang Định (2015), Nguyễn Linh Khiếu (2008) và Trần Thanh Giang (2019) đã hệ thống hóa lý luận về vai trò động lực của lợi ích kinh tế đối với giai cấp nông dân trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời chỉ ra nguy cơ nông dân bị tổn thương do thu hồi đất canh tác hoặc phân hóa giàu nghèo.

Dòng nghiên cứu về sinh thái học nông nghiệp và hiệu quả kinh tế sinh thái: Fred Magdoff (2007) và Stephen Gliessman (2015) xác lập các nguyên tắc sinh thái học nông nghiệp nhằm thiết kế hệ thống lương thực tự điều chỉnh, giảm lệ thuộc hóa chất. Claire Kremen và Albie Miles (2012) cung cấp bằng chứng thực nghiệm về việc các hệ thống canh tác đa dạng sinh học giúp giảm ngoại tác tiêu cực và bù đắp suy giảm năng suất ngắn hạn thông qua tiết kiệm chi phí đầu vào. Harri Ram Prajapati (2018) và Angelika Hilbeck, Bernadette Oehen (2015) khẳng định tính ưu việt của canh tác hữu cơ trong việc tái cấu trúc chuỗi giá trị nông sản toàn cầu. Tại Việt Nam, Đào Thế Anh (2022), Cao Đức Phát (2021) và Nguyễn Minh Quang cùng cộng sự (2021) nhấn mạnh NNST là chìa khóa ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.

Tranh luận học thuật nổi bật tồn tại giữa hai quan điểm đối nghịch về tính khả thi tài chính của nông hộ khi chuyển đổi sinh thái. Linh Pham và Gerald Shively (2019) khi khảo sát 95 hộ tại Tân Lạc (Hòa Bình) nhận thấy 1 ha rau hữu cơ có lợi nhuận thấp hơn 41% so với canh tác truyền thống do rào cản kỹ thuật và năng suất giảm. Ngược lại, Marie Phamova, Jan Banout, Vladimir Verner, Tatiana Ivanova và Jana Mazancova (2021) khi phân tích hồi quy 312 hộ tại Gia Lâm và Sóc Sơn (Hà Nội) lại chứng minh rằng hệ thống canh tác càng sinh thái thì thu nhập tiền mặt thuần của nông dân càng cao nhờ giá trị gia tăng của nhãn mác sản phẩm an toàn.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế điển hình, công trình của Funes-Monzote và Paulo Petersen (2011) tại Cuba, Brazil và Philippines cho thấy nông nghiệp sinh thái giải quyết bài toán chủ quyền lương thực và gia tăng khả năng chống chịu cho nông hộ nhỏ thông qua trao quyền cộng đồng. Trong khi đó, khảo sát của Rahul Katiyar, Arun Kumar Pal và Brij Mohan (2018) tại huyện Kanpur Dehat (Ấn Độ) với 120 hộ chỉ ra rằng nông dân chỉ áp dụng thực hành sinh thái ở mức độ thấp nếu thiếu vắng sự hỗ trợ kỹ thuật và thể chế đồng bộ. Luận án định vị sự đóng góp vượt trội của mình bằng cách tích hợp cả hai chiều kích: đánh giá lợi ích kinh tế trực tiếp và lượng hóa mức độ thụ hưởng môi trường, thể chế của nông dân ngoại thành thủ đô – nơi chịu sức ép đô thị hóa khốc liệt nhất cả nước.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án làm phong phú và phát triển lý luận Kinh tế chính trị Mác - Lênin về lợi ích kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với chuyển đổi xanh. Công trình mở rộng phạm trù lợi ích của nông dân vượt ra ngoài giới hạn thu nhập tiền tệ thuần túy, phân tách thành hai hợp phần hữu cơ:

  • Lợi ích kinh tế hữu hình: Thu nhập trực tiếp từ tiêu thụ nông sản sinh thái, cắt giảm chi phí phân bón/thuốc bảo vệ thực vật hóa học, và thụ hưởng các gói hỗ trợ tài chính, hạ tầng từ Nhà nước.
  • Lợi ích phi kinh tế và giá trị vô hình: Môi trường lao động an toàn không tồn dư hóa chất độc hại, sức khỏe thể chất được bảo vệ, nâng cao vị thế làm chủ trong chuỗi liên kết Hợp tác xã (HTX) - Doanh nghiệp, và giá trị sinh thái công cộng được bảo tồn (đất, nước, không khí trong lành, bảo tồn đa dạng sinh học).

Đóng góp mang tính đột phá về mặt lý thuyết là luận giải sự mâu thuẫn giữa tính chất tư nhân của chi phí sản xuất sinh thái và tính chất xã hội hóa của giá trị sinh thái vô hình. Khi nông dân tạo ra các dịch vụ hệ sinh thái (hạn chế phát thải carbon, tạo cảnh quan du lịch sinh thái), những giá trị này chưa được thị trường hóa và hạch toán kinh tế, dẫn đến việc lợi ích của nông dân bị chia cắt và tổn thương.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án được xây dựng dựa trên sự tích hợp của 3 lý thuyết nền tảng:

  1. Lý thuyết Quan hệ lợi ích kinh tế trong Kinh tế chính trị Mác - Lênin (phân tích sự thống nhất và mâu thuẫn lợi ích giữa Nông dân - Doanh nghiệp - Nhà nước - Người tiêu dùng).
  2. Lý thuyết Kinh tế học sinh thái và Dịch vụ hệ sinh thái (phân tích việc nội hóa ngoại ứng tích cực và bảo tồn vốn tự nhiên).
  3. Lý thuyết Chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững (phân tích cơ chế phân phối giá trị gia tăng qua các khâu sản xuất, chế biến, chứng nhận và tiêu thụ).

Điều kiện biên của khung phân tích được xác lập rõ: Áp dụng cho địa bàn nông nghiệp ngoại thành chịu áp lực đô thị hóa mạnh mẽ, quy mô canh tác nông hộ phân tán, tập trung vào lĩnh vực trồng trọt và thủy sản nước ngọt (không bao gồm lâm nghiệp).

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Công trình được triển khai dựa trên lập trường triết học của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp luận của Chủ nghĩa hiện thực phê phán (Critical Realism) nhằm bóc tách các tầng cấu trúc kinh tế - xã hội chi phối động lực sản xuất của nông dân.

Thiết kế nghiên cứu đa tầng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Nghiên cứu định tính: Sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học và phân tích - tổng hợp để hệ thống hóa khung lý thuyết, tổng thuật tài liệu và đúc rút bài học kinh nghiệm từ các địa phương.
  • Nghiên cứu định lượng: Thiết kế điều tra xã hội học trên quy mô $N = 400$ mẫu khảo sát cấu trúc nhằm thu thập dữ liệu sơ cấp thực chứng.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Chiến lược chọn mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích kết hợp ngẫu nhiên tại 4 huyện ngoại thành Hà Nội đại diện cho các vùng sinh thái nông nghiệp đặc thù:

  • Huyện Sóc Sơn ($n = 100$): Đại diện cho vùng gò đồi, tiên phong phát triển nông nghiệp hữu cơ theo Hệ thống đảm bảo cùng tham gia (PGS) và du lịch sinh thái.
  • Huyện Thường Tín ($n = 100$): Đại diện cho vùng đồng bằng chuyên canh rau an toàn, ứng dụng công nghệ cao và thâm canh cải tiến.
  • Huyện Đông Anh ($n = 100$): Đại diện cho khu vực có tốc độ đô thị hóa nhanh, phát triển mô hình chuỗi cung ứng thực phẩm sinh thái đô thị.
  • Huyện Chương Mỹ ($n = 100$): Đại diện cho vùng bán sơn địa kết hợp đồng bằng trũng với các mô hình lúa - cá, Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và Thâm canh lúa bền vững (SRI).

Đối tượng khảo sát bao gồm nông dân tham gia các HTX, trang trại, nông hộ canh tác VietGAP, hữu cơ, SRI, IPM và mô hình lúa - cá. Quy trình tam giác đạc dữ liệu (Data Triangulation) được thực hiện thông qua việc đối chiếu chéo số liệu điều tra sơ cấp với các báo cáo thứ cấp giai đoạn 2017 - 2022 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Nội, cùng số liệu thống kê kinh tế - xã hội của 4 huyện.

Data và phân tích

Dữ liệu sơ cấp từ 400 phiếu khảo sát được làm sạch, mã hóa và xử lý bằng phần mềm chuyên dụng SPSS (Statistical Package for the Social Sciences, phiên bản 20.0). Các kỹ thuật phân tích bao gồm:

  • Thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình) nhằm phác họa thực trạng thu nhập, chi phí sản xuất và năng suất.
  • Phân tích bảng chéo (Cross-tabulation) và kiểm định so sánh giá trị trung bình (Comparative Mean Analysis) để đánh giá sự khác biệt về thu nhập, mức độ thụ hưởng môi trường làm việc và chính sách hỗ trợ giữa các mô hình canh tác và giữa 4 địa bàn nghiên cứu.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Thứ nhất, hiệu quả kinh tế vượt trội của các mô hình sinh thái chuyên sâu: Dữ liệu phân tích chi phí và lợi nhuận chỉ ra rằng mô hình SRI và IPM giúp nông dân cắt giảm đáng kể chi phí giống và thuốc bảo vệ thực vật, đồng thời duy trì năng suất lúa ổn định. Đặc biệt, các mô hình nông nghiệp hữu cơ, mô hình lúa - cá và NNST kết hợp du lịch đem lại tỷ suất lợi nhuận trên một đơn vị diện tích cao hơn rõ rệt so với nông nghiệp truyền thống lạm dụng hóa chất.

Thứ hai, "khuyết tật thị trường" đối với các giá trị sinh thái vô hình: 100% nông dân tham gia sản xuất NNST tại 4 huyện tạo ra giá trị sinh thái công cộng lớn (giảm thiểu tồn dư hóa chất trong đất, cắt giảm phát thải khí nhà kính, phục hồi hệ vi sinh vật và kiến tạo cảnh quan sinh thái), song tỷ lệ nông dân nhận được sự chi trả hay hạch toán kinh tế từ các sản phẩm vô hình này là 0%.

Thứ ba, sự thiếu hụt và bất cập trong việc thụ hưởng chính sách hỗ trợ: Kết quả khảo sát cho thấy mức độ thụ hưởng của nông dân đối với các chính sách hỗ trợ yếu tố đầu vào, hỗ trợ kỹ thuật - công nghệ và đặc biệt là hỗ trợ xây dựng thương hiệu, chứng nhận OCOP, kết nối thị trường tiêu thụ còn ở mức thấp và phân tán. Phần lớn nông hộ sản xuất nhỏ lẻ gặp khó khăn trong việc tiếp cận các chuỗi cung ứng hiện đại.

Thứ tư, vai trò mang tính quyết định của thể chế liên kết: Thu nhập của nông dân trong các chuỗi liên kết bền vững thông qua HTX kiểu mới và Doanh nghiệp bao tiêu có độ ổn định cao hơn từ 25% đến 40% so với các hộ tự tiêu thụ trên thị trường tự do.

Implications đa chiều

Về mặt lý luận: Luận án cung cấp luận cứ khẳng định tính tất yếu của việc hoàn thiện phạm trù phân phối trong Kinh tế chính trị, đòi hỏi phải thể chế hóa cơ chế chi trả dịch vụ hệ sinh thái (PES) và tín chỉ carbon trong nông nghiệp để bù đắp thỏa đáng công sức của người nông dân.

Về phương pháp luận: Thiết lập khung tiêu chí đánh giá đa chiều về lợi ích nông dân kết hợp giữa biến số kinh tế tài chính và biến số phúc lợi xã hội - môi trường, có khả năng nhân rộng áp dụng cho các vùng ven đô khác tại Việt Nam.

Về thực tiễn và chính sách: Đề xuất lộ trình giải pháp 4 trọng tâm đến năm 2030 cho Hà Nội:

  1. Quy hoạch ổn định các vùng sản xuất NNST chuyên canh, tháo gỡ rào cản tích tụ và tập trung đất đai nông nghiệp.
  2. Thiết lập cơ chế hỗ trợ tài chính trực tiếp và bù lãi suất cho các cơ sở sản xuất chuyển đổi hữu cơ, đạt chuẩn VietGAP/GlobalGAP.
  3. Hoàn thiện chuỗi giá trị nông sản khép kín từ trang trại đến bàn ăn thông qua vai trò hạt nhân của HTX nông nghiệp kiểu mới.
  4. Đẩy mạnh chuyển giao khoa học công nghệ, truy xuất nguồn gốc điện tử và phát triển mô hình NNST tích hợp đa giá trị (nông nghiệp - giáo dục - du lịch trải nghiệm).

Limitations và Future Research

Luận án thẳng thắn chỉ ra 4 giới hạn nghiên cứu:

  1. Giới hạn không gian: Nghiên cứu tập trung tại 4 huyện ngoại thành Hà Nội, do đó các đặc thù về kinh tế đô thị và quy mô thị trường tiêu thụ có thể tạo ra ranh giới về tính tổng quát hóa khi ngoại suy cho các vùng trung du, miền núi.
  2. Giới hạn đối tượng: Tập trung vào trồng trọt và thủy sản, chưa đi sâu vào phân ngành lâm nghiệp sinh thái và chăn nuôi đại gia súc hữu cơ quy mô công nghiệp.
  3. Giới hạn đo lường: Chưa xây dựng mô hình kinh tế lượng phức tạp (như mô hình cấu trúc tuyến tính SEM hay hàm thỏa dụng tổng quát) để định lượng chính xác giá trị tiền tệ của từng dịch vụ sinh thái.
  4. Giới hạn chuỗi thời gian: Dữ liệu cắt ngang phân tích trong khung 2017 - 2022, chưa phản ánh đầy đủ tác động dài hạn của các biến động kinh tế vĩ mô sau đại dịch.

Chương trình nghiên cứu 10 năm tới mở ra các hướng đi:

  • Ứng dụng mô hình Contingent Valuation Method (CVM) để lượng hóa giá trị kinh tế của dịch vụ hệ sinh thái do nông dân tạo ra.
  • Thiết kế cơ chế giao dịch tín chỉ carbon nông nghiệp cho nông hộ nhỏ tại Đồng bằng sông Hồng.
  • Nghiên cứu so sánh xuyên quốc gia giữa mô hình ngoại thành Hà Nội với các vùng đô thị nông nghiệp tại Đông Nam Á (Bangkok, Manila).

Tác động và ảnh hưởng

Về học thuật: Công trình cung cấp tài liệu tham khảo chuyên khảo giá trị cho các viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo đại học và sau đại học chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển và Quản lý kinh tế nông thôn.

Về kinh tế - ngành: Định hướng tái cấu trúc mô hình sản xuất nông nghiệp ngoại thành theo hướng giảm thâm dụng vật tư hóa học, gia tăng tỷ trọng nông sản hữu cơ, nông sản chế biến sâu có giá trị gia tăng cao.

Về chính sách và xã hội: Cung cấp luận cứ thực chứng quan trọng giúp Thành ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội điều chỉnh, ban hành các nghị quyết chuyên đề về chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp sinh thái, bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao thu nhập thực tế cho nông dân ngoại thành.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và Giới học thuật: Tiếp cận khung phân tích lý luận Kinh tế chính trị hiện đại về quan hệ lợi ích sinh thái và phương pháp luận khảo sát thực chứng $N=400$.
  • Cơ quan Hoạch định chính sách (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội): Nhận diện cụ thể các điểm nghẽn thể chế và mức độ hấp thu chính sách của nông hộ để ban hành chính sách hỗ trợ chuẩn xác.
  • Doanh nghiệp nông nghiệp và Hợp tác xã: Nắm bắt cấu trúc chi phí - lợi nhuận của các mô hình sinh thái để thiết kế hợp đồng liên kết bao tiêu bền vững, chia sẻ rủi ro công bằng với nông dân.
  • Nông dân ngoại thành: Nâng cao nhận thức về quyền và lợi ích hợp pháp, làm chủ quy trình kỹ thuật sinh thái và chủ động tham gia chuỗi liên kết giá trị cao.

Câu hỏi chuyên sâu

  1. Đóng góp lý luận độc đáo nhất của luận án là gì? Đó là việc mở rộng phạm trù lợi ích kinh tế trong Kinh tế chính trị Mác - Lênin bằng cách chỉ rõ bản chất "mâu thuẫn ngoại tác": nông dân gánh chịu toàn bộ chi phí chuyển đổi sinh thái tư nhân nhưng tạo ra giá trị sinh thái công cộng vô hình không được thị trường định giá và chi trả.

  2. Tính mới trong phương pháp nghiên cứu so với các công trình trước đây? So với nghiên cứu của Linh Pham và Gerald Shively (2019) chỉ khảo sát 95 hộ tại một huyện miền núi hoặc Marie Phamova và cộng sự (2021) khảo sát 312 hộ thuần túy định lượng, luận án thiết kế mẫu điều tra đa tầng $N = 400$ tại 4 huyện ngoại thành có tốc độ đô thị hóa khác biệt, phân tích xử lý dữ liệu qua phần mềm SPSS 20.0 kết hợp tam giác đạc với chuỗi số liệu thứ cấp 5 năm (2017 - 2022).

  3. Phát hiện thực nghiệm nào gây bất ngờ nhất từ dữ liệu? Đó là nghịch lý: Mặc dù các mô hình nông nghiệp sinh thái (như hữu cơ, lúa - cá kết hợp du lịch) mang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn canh tác truyền thống trên lý thuyết, nhưng diện tích mở rộng thực tế lại rất chậm do nông dân thiếu năng lực tự chứng nhận và hoàn toàn không nhận được hỗ trợ kinh tế từ việc giảm phát thải carbon.

  4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập nghiên cứu (Replication Protocol) không? Có. Luận án mô tả chi tiết bảng câu hỏi điều tra xã hội học 3 phần, tiêu chí phân tầng chọn mẫu tại 4 huyện, mã hóa biến số và quy trình làm sạch dữ liệu trong SPSS 20.0, cho phép các nhà nghiên cứu tái lập hoàn toàn trên các địa bàn nông nghiệp ven đô khác.

  5. Luận án đề xuất chương trình nghiên cứu tiếp nối trong giai đoạn tới như thế nào? Luận án định hình chương trình nghiên cứu tập trung vào cơ chế thị trường hóa sản phẩm vô hình: định giá dịch vụ hệ sinh thái nông nghiệp và xây dựng sàn giao dịch tín chỉ carbon nông nghiệp cho nông dân.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lâm Thị Phượng xác lập 5 đóng góp học thuật và thực tiễn cốt lõi:

  1. Hoàn thiện khung lý luận Kinh tế chính trị về nội hàm, hình thức biểu hiện và tiêu chí đánh giá lợi ích toàn diện của nông dân trong phát triển NNST.
  2. Phân tích thực chứng toàn diện trên mẫu $N = 400$ về thực trạng phân phối lợi ích kinh tế và phi kinh tế của nông dân tại 4 huyện ngoại thành Hà Nội giai đoạn 2017 - 2022.
  3. Bóc tách căn nguyên của các rào cản thể chế, chuỗi giá trị và thị trường khiến lợi ích nông dân chưa tương xứng với giá trị tạo ra.
  4. Đúc rút hệ thống bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn từ các địa phương trong nước có điều kiện tương đồng.
  5. Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá, đồng bộ và khả thi nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích cho nông dân ngoại thành Hà Nội đến năm 2030.

Công trình tạo ra bước tiến quan trọng trong tư duy khoa học kinh tế nông nghiệp, khẳng định nông dân phải thực sự là chủ thể trung tâm và là người thụ hưởng xứng đáng trong tiến trình phát triển nền nông nghiệp sinh thái hiện đại, bền vững.