Phát triển năng lực dạy học tích hợp cho SVSP hóa học qua phương pháp DHPPT

Luận văn nghiên cứu phương pháp phát triển năng lực dạy học tích hợp cho sinh viên sư phạm hóa học thông qua học phần phương pháp dạy học hóa học phổ thông.

Chuyên ngành
Hóa học
Tác giả

Luan An

Thể loại

Khóa luận

Số trang

158

Thời gian đọc

24 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt nội dung

I. Đổi mới giáo dục Nền tảng phát triển bền vững

Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập kinh tế sâu rộng. Xã hội văn minh, hiện đại đang được xây dựng. Nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò nền tảng, là chìa khóa cho sự phát triển bền vững. Giáo dục Việt Nam cần đổi mới mạnh mẽ. Mục tiêu là đào tạo công dân có phẩm chất và năng lực tốt, đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội. Nghị quyết số 29 NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã nhất trí nội dung. Nội dung này là “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo (GD&ĐT)”. Mục đích là đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Việc phát triển phẩm chất, năng lực người học được nhấn mạnh. Đảm bảo hài hòa giữa “dạy chữ”, “dạy người” và định hướng nghề nghiệp là yếu tố cần thiết.

1.1. Yêu cầu bức thiết từ hội nhập quốc tế

Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, xây dựng xã hội hiện đại. Nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố then chốt cho sự phát triển bền vững. Giáo dục cần đổi mới để đào tạo công dân có phẩm chất, năng lực tốt. Nghị quyết số 29 NQ/TW đề ra yêu cầu “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”. Mục tiêu là đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

1.2. Mục tiêu giáo dục Phẩm chất và năng lực

Phát triển phẩm chất, năng lực người học là trọng tâm của đổi mới giáo dục. Giáo dục cần đảm bảo hài hòa giữa “dạy chữ”, “dạy người” và định hướng nghề nghiệp. Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP nêu rõ nhiệm vụ đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo. Mục tiêu là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Điều này tạo chuyển biến về chất lượng, hiệu quả và quy mô giáo dục đại học.

1.3. Định hướng phát triển giáo dục đại học

Giáo dục đại học cần đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hội nhập kinh tế quốc tế và nhu cầu học tập của nhân dân cũng là mục tiêu quan trọng. Đến năm 2020, giáo dục đại học Việt Nam đặt mục tiêu đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Ngành này cũng cần tiếp cận trình độ tiên tiến trên thế giới. Giáo dục đại học cần có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

II. Dạy học tích hợp Xu thế khoa học hiện đại

Từ thế kỷ XV đến XIX, các ngành khoa học tự nhiên nghiên cứu giới tự nhiên theo tư duy phân tích. Mỗi ngành khoa học tự nhiên tập trung nghiên cứu một dạng vật chất, một hình thức vận động độc lập. Cách tiếp cận này có những hạn chế nhất định. Giới tự nhiên là một thể thống nhất. Cách tư duy phân tích khó giải quyết các vấn đề trong sự vận động tổng thể của tự nhiên. Thế kỷ XX đã chứng kiến sự xuất hiện của các khoa học liên ngành, giao ngành. Nhiều lĩnh vực tri thức đa ngành, liên ngành đã hình thành. Các ngành khoa học tự nhiên đã chuyển từ tiếp cận "phân tích - cấu trúc" sang tiếp cận "tổng hợp - hệ thống".

2.1. Hạn chế tư duy phân tích truyền thống

Khoa học tự nhiên từng tiếp cận thế giới bằng tư duy phân tích. Mỗi ngành nghiên cứu một phần riêng lẻ của tự nhiên. Cách này tạo ra những hạn chế khi giải quyết các vấn đề liên quan đến sự vận động thống nhất của tự nhiên. Dạy học các môn khoa học như những lĩnh vực tri thức riêng rẽ không còn phù hợp. Sự phát triển hiện đại của khoa học đòi hỏi một cách nhìn toàn diện hơn.

2.2. Sự trỗi dậy của khoa học liên ngành

Thế kỷ XX đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của khoa học liên ngành và giao ngành. Nhiều lĩnh vực tri thức đa ngành đã ra đời. Các ngành khoa học tự nhiên đã chuyển dịch từ tư duy "phân tích - cấu trúc" sang "tổng hợp - hệ thống". Xu thế này phản ánh sự phức tạp và tính liên kết của các hiện tượng tự nhiên. Việc tích hợp kiến thức từ nhiều môn học trở nên cần thiết.

2.3. Tiếp cận cấu trúc hệ thống

Sự thống nhất của tư duy phân tích và tổng hợp rất cần thiết cho sự phát triển nhận thức. Điều này đã tạo nên tiếp cận "cấu trúc - hệ thống" (Structural systemic approach). Tiếp cận này mang lại cách nhận thức biện chứng về mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể. Nó giúp hiểu rõ hơn về tính hệ thống trong tự nhiên và xã hội. Dạy học tích hợp vận dụng triết lý này để mang lại cái nhìn toàn diện cho người học.

III. Lợi ích dạy học tích hợp cho người học

Xã hội đang trên đà phát triển trong xu thế toàn cầu hóa. Điều này đòi hỏi một lực lượng lao động mới. Lực lượng này cần có kiến thức cập nhật, năng lực thích ứng tốt và tư duy sáng tạo. Những phẩm chất này đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế đầy cạnh tranh. Để đạt được điều đó, cần có một thế hệ học sinh (HS) với tư duy độc lập, tư duy hệ thống. Học sinh cần có kiến thức thực tiễn sâu và rộng, cùng các kỹ năng mềm và tinh thần trách nhiệm với xã hội. Với những phẩm chất này, học sinh dễ dàng hội nhập và phát triển. Dạy học tích hợp (DHTH) thông qua những nhiệm vụ mở. Phương pháp này giúp người học phát triển kiến thức và các kỹ năng.

3.1. Phát triển tư duy độc lập hệ thống

Nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu yêu cầu lực lượng lao động có kiến thức cập nhật. Tư duy độc lập, tư duy hệ thống là yếu tố cần thiết cho học sinh. Kỹ năng mềm và kiến thức thực tiễn sâu rộng giúp học sinh dễ dàng hội nhập. Dạy học tích hợp trang bị những phẩm chất này. Điều này giúp học sinh phát triển và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi môi trường.

3.2. Vận dụng kiến thức thực tiễn hiệu quả

Dạy học tích hợp khuyến khích người học tìm tòi và hiện thực hóa kiến thức. Học sinh tạo ra sản phẩm của chính mình thông qua các nhiệm vụ mở. Quá trình này gắn lý thuyết với thực hành, tư duy với hành động. Dạy học tích hợp kết nối nhà trường và xã hội. Học sinh được học cách thu thập, chọn lọc, xử lý thông tin. Sau đó, học sinh vận dụng kiến thức vào các tình huống thực tế của đời sống.

3.3. Nâng cao năng lực tự chủ sáng tạo

Dạy học tích hợp giúp người học phát triển kiến thức và kỹ năng. Phương pháp này khuyến khích người học tìm tòi và tạo ra sản phẩm. Điều này thúc đẩy năng lực tự chủ, sáng tạo. Học sinh được đào tạo khả năng giải quyết các vấn đề phức hợp. Tinh thần trách nhiệm và khả năng cộng tác làm việc cũng được phát huy. Đây là những kỹ năng mềm quan trọng trong xã hội hiện đại.

IV. Nâng cao năng lực dạy học tích hợp SVSP hóa học

Tình hình hiện tại buộc phải xem lại chức năng truyền thống của người giáo viên (GV). Trước đây, giáo viên chủ yếu truyền đạt kiến thức của từng môn khoa học riêng rẽ. Để đáp ứng xu thế mới, giáo viên phải biết dạy tích hợp các khoa học. Giáo viên cần dạy cho học sinh cách thu thập, chọn lọc, xử lý thông tin. Đồng thời, cần giúp học sinh vận dụng kiến thức học được vào các tình huống của đời sống thực tế. Xu thế phát triển của khoa học ngày nay là tiếp tục phân hóa sâu, song song với tích hợp liên môn, liên ngành ngày càng rộng. Quan điểm đổi mới của Bộ GD&ĐT hướng tới “Tích hợp sâu ở cấp Tiểu học, THCS giảm dần và tiến tới phân hóa sâu và định hướng nghề nghiệp ở cấp THPT”.

4.1. Vai trò mới của giáo viên

Chức năng truyền thống của giáo viên là truyền đạt kiến thức đơn môn. Tuy nhiên, xu thế mới yêu cầu giáo viên phải biết dạy tích hợp các khoa học. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách thu thập, chọn lọc, xử lý thông tin. Giáo viên cũng phải giúp học sinh vận dụng kiến thức vào các tình huống thực tế. Vai trò này chuyển từ người truyền đạt sang người định hướng và tạo điều kiện học tập.

4.2. Thách thức năng lực giáo viên THPT

Trong thực tiễn dạy học, năng lực dạy học tích hợp (NLDHTH) của giáo viên THPT còn nhiều hạn chế. Điều này bao gồm cả nội dung kiến thức tích hợp và cách tổ chức quá trình dạy học. Giáo viên thường được đào tạo để dạy học đơn môn. Khối lượng tri thức khoa học gia tăng nhanh chóng. Trong khi đó, thời gian học tập trong nhà trường có hạn. Vì vậy, cần chuyển từ dạy các môn học riêng rẽ sang dạy các môn học tích hợp.

4.3. Quan tâm phát triển năng lực SVSP

Việc phát triển năng lực dạy học tích hợp cho sinh viên sư phạm (SVSP) tại các trường Đại học Sư phạm đang nhận được sự quan tâm. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự cần thiết này. Một nguyên nhân quan trọng là sinh viên chưa có sự hiểu biết thấu đáo về dạy học tích hợp. Việc đào tạo SVSP hóa học cần được chú trọng hơn. Điều này đảm bảo họ có đủ năng lực để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và giảng dạy tích hợp trong tương lai.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án phát triển năng lực dạy học tích hợp cho sinh viên sư phạm hóa học thông qua học phần phương pháp dạy học hóa học phổ thông

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (158 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Nước ta đang trong giai đoạn hội nhập kinh tế sâu rộng với các quốc gia trên thế giới và đang trong quá trình xây dựng một xã hội văn minh, hiện đại. Trong xã hội đó, nguồn nhân lực chất lượng cao được coi là nền tảng, là chìa khoá cho sự phát triển bền vững. Vì vậy, nhiệm vụ của giáo dục Việt Nam là phải đổi mới mạnh mẽ để đào tạo được công dân có phẩm chất và năng lực tốt, đáp ứng yêu cầu sự phát triển của xã hội. Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã nhất trí thông qua Nghị quyết số 29 NQ/TW với nội dung: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo (GD&ĐT), đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”.

Phát triển phẩm chất, năng lực người học, đảm bảo hài hòa giữa “dạy chữ”, “dạy người” và định hướng nghề nghiệp [48], [61]. Theo Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP nêu rõ nhiệm vụ quan trọng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực [48]: Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học, tạo được chuyển biến cơ bản về chất lượng, hiệu quả và quy mô, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và nhu cầu học tập của nhân dân. Đến năm 2020, giáo dục đại học Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và tiếp cận trình độ tiên tiến trên thế giới; có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ thế kỉ XV đến thế kỷ XIX, các ngành khoa học tự nhiên đã nghiên cứu giới tự nhiên theo tư duy phân tích, mỗi ngành khoa học tự nhiên nghiên cứu một dạng vật chất, một hình thức vận động của vật chất trong tự nhiên qua lăng kính của từng chuyên ngành một cách độc lập.

Nhưng bản thân giới tự nhiên là một thể thống nhất nên cách tiếp cận với tư duy phân tích của mỗi ngành khoa học tự nhiên sẽ có những hạn chế nhất định khi giải quyết vấn đề trong sự vận động của tự nhiên. Thế kỷ XX đã xuất hiện những khoa học liên ngành, giao ngành, hình thành những lĩnh vực tri thức đa ngành, liên ngành. Các ngành khoa học tự nhiên đã chuyển từ tiếp 2 cận "phân tích - cấu trúc" sang tiếp cận "tổng hợp - hệ thống". Sự thống nhất của tư duy phân tích và tổng hợp - đều cần thiết cho sự phát triển nhận thức đã tạo nên tiếp cận "cấu trúc - hệ thống” (Structural systemic approach) đem lại cách nhận thức biện chứng về mối quan hệ giữa bộ phận với toàn thể.

Xã hội đang trên đà phát triển, trong xu thế toàn cầu hóa, đòi hỏi chúng ta phải có một lực lượng lao động mới có kiến thức cập nhật, có năng lực thích ứng tốt, có tư duy sáng tạo, đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế đầy cạnh tranh, đang phát triển. Để đạt được điều đó chúng ta cần có một thế hệ HS có tư duy độc lập, tư duy hệ thống; có kiến thức thực tiễn sâu và rộng, có các kỹ năng mềm và có trách nhiệm với xã hội. Với những phẩm chất này, học sinh (HS) dễ dàng hội nhập với bất cứ môi trường nào để phát triển và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tình hình trên buộc phải xem lại chức năng truyền thống của người giáo viên (GV) từ trước đến nay là truyền đạt kiến thức, đặc biệt là những kiến thức của từng môn khoa học riêng rẽ (vật lí, hoá học, sinh học, địa chất, thiên văn,…).

Để đáp ứng với xu thế mới, GV phải biết dạy tích hợp các khoa học, dạy cho HS cách thu thập, chọn lọc, xử lí các thông tin, biết vận dụng các kiến thức học được vào các tình huống của đời sống thực tế. Thế kỉ XXI thông qua những nhiệm vụ mang tính mở, dạy học tích hợp (DHTH) giúp người học phát triển kiến thức và các kỹ năng, khuyến khích người học tìm tòi, hiện thực hoá những kiến thức đã học trong quá trình thực hiện và tạo ra những sản phẩm của chính mình, gắn lí thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, tham gia tích cực vào việc đào tạo năng lực tự chủ, sáng tạo, giải quyết các vấn đề phức hợp, phát huy tinh thần trách nhiệm và khả năng cộng tác làm việc. Xu thế phát triển của khoa học ngày nay là tiếp tục phân hoá sâu, song song với tích hợp liên môn, liên ngành ngày càng rộng. Theo quan điểm đổi mới của Bộ GD&ĐT theo hướng “Tích hợp sâu ở cấp Tiểu học, THCS giảm dần và tiến tới phân hóa sâu và định hướng nghề nghiệp ở cấp THPT”.

Việc dạy học các khoa học trong nhà trường phải phản ánh sự phát triển hiện đại của khoa học, bởi vậy không thể cứ tiếp tục dạy học các khoa học như là những lĩnh vực tri thức riêng rẽ. Mặt khác, như đã nói ở trên, khối lượng tri thức khoa học đang gia tăng nhanh chóng mà 3 thời gian học tập trong nhà trường lại có hạn, do đó phải chuyển từ dạy các môn học riêng rẽ sang dạy các môn học tích hợp. Hiện nay, trong thực tiễn dạy học, năng lực dạy học tích hợp (NLDHTH) của GV THPT còn nhiều hạn chế không những về nội dung kiến thức tích hợp mà còn về cách tổ chức quá trình dạy học vì họ được đào tạo để dạy học đơn môn. Việc phát triển NLDHTH cho sinh viên sư phạm (SVSP) ở các trường Đại học sư phạm (ĐHSP) đang được quan tâm.

Có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân quan trọng là sinh viên (SV) chưa có sự hiểu biết thấu đáo về lí luận DHTH nên chưa lựa chọn phương pháp dạy học (PPDH) và nội dung tích hợp phù hợp. Vì vậy, cần có thêm các nghiên cứu để làm rõ hơn lí luận về DHTH cũng như đề xuất các biện pháp sư phạm để giúp đỡ SV trong quá trình dạy học (QTDH) hóa học. Như vậy, đổi mới đào tạo GV ở các trường ĐHSP trong cả nước cần phải đi trước làm cơ sở đổi mới giáo dục phổ thông. Vì đây là nơi đào tạo GV, mỗi năm hàng nghìn GV sẽ tỏa đi các miền của đất nước để thực hiện nhiệm vụ cao cả của nghề dạy học.

Chất lượng đội ngũ nhà giáo là nhân tố quyết định thành công của việc đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục Việt Nam trong giai đoạn mới. Hiện nay, chưa có nghiên cứu nào về phát triển năng lực DHTH cho SVSP hóa học. Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: Phát triển năng lực dạy học tích hợp cho sinh viên Sư phạm hóa học thông qua học phần Phương pháp dạy học hóa học phổ thông. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Nghiên cứu các biện pháp nhằm phát triển NLDHTH cho SVSP Hóa học tại các trường ĐHSP thông qua học phần Phương pháp dạy học hóa học phổ thông.

NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3. Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về NLDHTH cho SVSP Hóa học - Tổng quan cơ sở lí luận về NLDHTH và các nội dung liên quan. - Điều tra thực trạng việc hình thành và phát triển NLDHTH cho SVSP Hóa học ở một số trường ĐHSP trong nước. Nghiên cứu, đề xuất các biện pháp phát triển NLDHTH cho SVSP Hóa học tại các trường ĐHSP 4 - Xác định cấu trúc của NLDHTH.

Xây dựng khung NLDHTH. - Đề xuất các biện pháp phát triển NLDHTH cho SVSP hóa học thông qua học phần PPDH Hóa học phổ thông. + Xây dựng và sử tài liệu tự học về DHTH cho SVSP ở trường THPT. + Đề xuất bổ sung nội dung về DHTH cho SVSP trong học phần PPDH hóa học phổ thông.

+ Xây dựng nguồn tài liệu hỗ trợ cho việc phát triển NLDHTH cho SV thông qua trang web ‘hoahocsupham.com” + Hướng dẫn SV xây dựng kế hoạch dạy học và nội dung một số chủ đề DHTH, chuẩn bị cho SVSP có khả năng thực hiện tốt DHTH trong dạy học hóa học ở THPT. Xây dựng bộ công cụ đánh giá NLDHTH cho SVSP 3. Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá hiệu quả, sự phù hợp và tính khả thi của việc phát triển NLDHTH cho SVSP hóa học. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 4.

Khách thể nghiên cứu Quá trình đào tạo GV hoá học ở trường ĐHSP. Đối tượng nghiên cứu NLDHTH và các biện pháp phát triển NLDHTH cho SVSP Hóa học trong đào tạo SVSP hóa học thông qua học phần PPDH hóa học phổ thông. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5. Nội dung nghiên cứu Phát triển NLDHTH trong đào tạo GV hóa học ở các trường ĐHSP thông qua dạy học học phần: Phương pháp dạy học hóa học phổ thông.

Địa bàn nghiên cứu Một số trường ĐHSP trong nước: ĐHSP Hà Nội, ĐHSP Hà Nội 2, ĐHSP Thái Nguyên, ĐHSP Huế, ĐHSP Tp. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12/2012 đến tháng 12/2016. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC Nếu vận dụng tốt quan điểm DHTH, đề xuất các biện pháp hiệu quả, khả thi 5 trong dạy học học phần phương pháp dạy học hóa học thì sẽ phát triển được NL DHTH cho SVSP hóa học. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7.

Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp cơ sở lí luận có liên quan đến đề tài, những quan điểm về DHTH trong môn Hóa học, cơ sở lí luận liên quan đến PPDH môn Hoá học ở trường ĐHSP. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn - Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi đối với SV và giảng viên (GgV) về thực trạng sử dụng DHTH trong đào tạo SV của các trường ĐHSP. - Phương pháp trao đổi kinh nghiệm, lấy ý kiến của các chuyên gia, GgV về các đề xuất trong đề tài (tài liệu tự học, trang web,. - Phương pháp TNSP để kiểm nghiệm giá trị thực tiễn, tính khả thi và hiệu quả của các kết quả nghiên cứu.

Phương pháp thống kê toán học Sử dụng phương pháp thống kê toán học trong nghiên cứu khoa học giáo dục ứng dụng để xử lí định lượng các số liệu, kết quả của việc điều tra và quá trình TNSP nhằm xác nhận giả thuyết khoa học và đánh giá tính hiệu quả, tính khả thi của đề tài. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN 8. Về mặt lí luận Hệ thống hóa, phân tích và làm sáng tỏ một số khái niệm liên quan, làm cơ sở lí luận và thực tiễn về DHTH tạo cơ sở cho việc vận dụng trong việc phát triển NLDHTH trong đào tạo SVSP hóa học. Về mặt thực tiễn - Đề xuất cấu trúc NLDHTH, khung NLDHTH.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Phát triển năng lực dạy học tích hợp cho SVSP hóa học" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận văn nghiên cứu phương pháp phát triển năng lực dạy học tích hợp cho sinh viên sư phạm hóa học thông qua học phần phương pháp dạy học hóa học phổ thông.

Luận án "Phát triển năng lực dạy học tích hợp cho SVSP hóa học" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Phát triển năng lực dạy học tích hợp cho SVSP hóa học" thuộc chuyên ngành Hóa học. Danh mục: Phương Pháp Giảng Dạy.

Luận án "Phát triển năng lực dạy học tích hợp cho SVSP hóa học" có bao nhiêu trang?

Luận án "Phát triển năng lực dạy học tích hợp cho SVSP hóa học" có 158 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Phát triển năng lực dạy học tích hợp cho SVSP hóa học" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter