Luận án: Vận dụng bút pháp nghệ thuật Thơ Đường vào giảng dạy tại trường phổ thông
Luận án nghiên cứu ứng dụng bút pháp thơ Đường vào giảng dạy thơ Đường ở phổ thông, đề xuất phương pháp tiếp cận hiệu quả.
Phương pháp giảng dạy Ngữ văn
Luan An
Số trang
141
Thời gian đọc
22 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
40 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Phương pháp giảng dạy thơ Đường theo đặc trưng loại thể
- Số trang:
- 141 trang
- Chuyên ngành:
- Phương pháp giảng dạy Ngữ văn
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Phương pháp giảng dạy thơ Đường theo đặc trưng loại thể
Giảng dạy văn chương theo loại thể là nguyên tắc khoa học cơ bản. Tác giả sáng tác theo thể loại nào, người tiếp nhận cảm thụ theo thể loại đó. Quy luật cấu tạo hình tượng quy định phương thức tiếp nhận. Việc dạy thơ Đường đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về đặc trưng thể loại thơ Đường. Thơ Đường là thành tựu rực rỡ của văn học cổ điển phương Đông. Tác phẩm thơ Đường chữ Hán và thơ Nôm xuất hiện xuyên suốt chương trình ngữ văn. Quá trình tiếp nhận thơ Đường tại Việt Nam diễn ra qua nhiều thế kỷ. Nhiều thế hệ độc giả yêu thích và sáng tác theo phong cách này. Phương pháp giảng dạy đúng đắn giúp mở khóa giá trị thẩm mỹ. Việc đổi mới phương pháp tiếp cận nâng cao hiệu quả giờ học.
1.1. Cơ sở lý luận về tiếp nhận văn học theo loại thể
Lý luận văn học khẳng định mối liên hệ chặt chẽ giữa sáng tác và tiếp nhận. Thể loại đóng vai trò định hình cấu trúc tác phẩm. Mọi văn bản nghệ thuật đều mang dấu ấn thi pháp riêng biệt. Khi phân tích tác phẩm, việc bám sát đặc trưng thể loại là yêu cầu bắt buộc. Nhà nghiên cứu Trần Thanh Đạm từng nhấn mạnh nguyên tắc giảng dạy theo loại thể. Người tiếp nhận cần sử dụng đúng mã nghệ thuật để giải mã văn bản. Việc áp đặt phương pháp tùy tiện làm sai lệch nội dung tác phẩm. Nắm vững thi pháp thơ Đường giúp quá trình tiếp nhận đi đúng hướng. Văn bản văn học cổ điển đòi hỏi cái nhìn hệ thống và chuẩn xác. Đây là nền tảng khoa học vững chắc cho giáo dục ngữ văn.
1.2. Vị trí của thơ Đường trong chương trình giáo dục
Thơ Đường giữ vị trí trang trọng trong chương trình ngữ văn phổ thông và giáo dục thường xuyên. Số lượng bài học không nhiều nhưng giá trị tư tưởng rất lớn. Các bài thơ chữ Hán và thơ Đường Nôm phản ánh chiều sâu văn hóa truyền thống. Tác phẩm thơ Đường cung cấp chuẩn mực thẩm mỹ mẫu mực cho người học. Việc giảng dạy thơ Đường tạo cầu nối giao lưu văn hóa Đông Á. Người học tiếp cận kho tàng ngôn ngữ hàm súc và giàu hình ảnh. Thực tế giảng dạy cho thấy đối tượng học viên có sự thay đổi lớn. Độ tuổi học viên ngày càng trẻ hóa tạo động lực đổi mới phương pháp. Việc chuẩn hóa kiến thức giúp nâng cao chất lượng dạy học toàn diện.
II. Nắm vững thi pháp thơ Đường và niêm luật thơ Đường chuẩn
Nắm vững thi pháp thơ Đường là chìa khóa then chốt trong quá trình giảng dạy. Thể loại này sở hữu hệ thống quy phạm nghiêm ngặt bậc nhất. Niêm luật thơ Đường quyết định tính hài hòa và nhạc tính của toàn bộ bài thơ. Mỗi câu chữ đều tuân thủ chặt chẽ luật bằng trắc và phép đối. Việc hiểu rõ quy luật hình thức giúp việc cảm thụ nội dung đạt độ chính xác cao. Người học cần phân biệt rõ cấu trúc của từng dạng thể thơ cổ điển. Nền tảng thi pháp mở đường cho việc khám phá chiều sâu tư tưởng thi nhân. Bài học ngữ văn đạt hiệu quả tối ưu khi khai thác đúng quy luật thể loại. Mọi phân tích nghệ thuật đều bắt nguồn từ cấu trúc ngôn từ chuẩn mực.
2.1. Quy tắc niêm luật và vần điệu thơ Đường luật
Luật thơ Đường quy định sự phối hợp âm thanh chặt chẽ. Nguyên tắc nhị tứ lục phân minh tạo nên tính nhạc độc đáo. Các tiếng ở vị trí thứ hai, thứ tư và thứ sáu phải tuân theo trật tự bằng trắc đối xứng. Luật niêm liên kết các cặp câu thành một chỉnh thể thống nhất. Quy tắc dính âm luật đảm bảo sự liền mạch trong mạch cảm xúc thơ. Vần trong thơ Đường luật chủ yếu là vần bằng ở cuối câu chẵn. Vị trí gieo vần độc vận tạo độ vang và nhịp điệu dứt khoát. Người học dễ dàng ghi nhớ bài học khi nắm vững bảng quy tắc niêm luật. Việc phân tích âm luật giúp phát hiện vẻ đẹp nhạc tính tinh tế.
2.2. Phân loại thất ngôn bát cú và thất ngôn tứ tuyệt
Hệ thống thơ Đường chia thành hai thể loại chính là thất ngôn bát cú và thất ngôn tứ tuyệt. Thể thất ngôn bát cú gồm tám câu, mỗi câu bảy chữ. Đây là cấu trúc hoàn chỉnh nhất của thơ ca cổ điển. Thể thất ngôn tứ tuyệt là dạng rút gọn gồm bốn câu, mỗi câu bảy chữ. Thơ tứ tuyệt yêu cầu dung lượng ngắn gọn nhưng ý tứ vô cùng sâu xa. Ngôn ngữ thơ cô đọng đạt đến đỉnh cao của tính hàm súc. Cả hai thể thơ đều đòi hỏi sự chuẩn xác tuyệt đối về luật và vần. Nhận diện đúng thể loại giúp xác định chiến lược phân tích phù hợp. Mỗi khuôn mẫu thể loại phản ánh một cách thức biểu đạt cảm xúc riêng.
III. Bố cục đề thực luận kết và nghệ thuật đối trong thơ Đường
Cấu trúc bài thơ Đường thể hiện tư duy nghệ thuật chặt chẽ và chuẩn mực. Bài thơ thất ngôn bát cú vận hành theo mô hình bố cục đề thực luận kết mẫu mực. Trong khi đó, bài thơ tứ tuyệt thường triển khai qua bố cục khai thừa chuyển hợp biến hóa. Song song với bố cục, nghệ thuật đối trong thơ Đường đóng vai trò trụ cột thẩm mỹ. Nghệ thuật đối tạo nên sự cân xứng hoàn hảo về thanh điệu lẫn ngữ nghĩa. Khai thác đúng bố cục và phép đối giúp làm sáng tỏ mạch cảm xúc của tác giả. Giảng dạy theo cấu trúc chỉnh thể ngăn ngừa cách hiểu vụn vặt, rời rạc. Đây là phương pháp tối ưu để giải mã tư tưởng thi nhân.
3.1. Cấu trúc bố cục đề thực luận kết chặt chẽ
Cấu trúc tám câu thơ được chia thành bốn cặp mạch lạc. Hai câu đề mở ra không gian, thời gian và sự việc khởi đầu. Hai câu thực đi sâu miêu tả cụ thể hiện thực cảnh vật và con người. Hai câu luận bàn bạc, mở rộng ý nghĩa và khái quát triết lý đời sống. Hai câu kết đúc kết cảm xúc toàn bài và thể hiện nỗi niềm thầm kín. Mối liên kết giữa các phần tạo nên một dòng chảy tư tưởng thống nhất. Việc phân tích theo bố cục đề thực luận kết giúp làm nổi bật chủ đề tác phẩm. Bài thơ cổ điển đạt đến đỉnh cao nhờ sự phân chia lớp lang rành mạch.
3.2. Vai trò của bố cục khai thừa chuyển hợp
Thể thơ bốn câu vận hành linh hoạt theo bố cục khai thừa chuyển hợp. Câu khai mở đề tài trực tiếp hoặc gợi mở bối cảnh. Câu thừa tiếp nối và mở rộng ý thơ của câu thứ nhất. Câu chuyển đóng vai trò bản lề tạo bước ngoặt bất ngờ cho cảm xúc. Câu hợp thâu tóm toàn bộ ý tứ và khép lại bài thơ trong dư ba vô tận. Bố cục này tạo nên sức nén dung lượng và độ mở không gian tối đa. Người đọc cảm nhận được sự chuyển hóa tâm trạng sâu sắc qua từng bước chuyển nhịp. Phương pháp phân tích theo mô hình này giúp khám phá trọn vẹn điểm sáng thẩm mỹ.
3.3. Đặc trưng nghệ thuật đối trong thơ Đường
Phép đối là thủ pháp nghệ thuật cốt lõi trong thơ Đường cổ điển. Trong bài bát cú, hai cặp câu thực và luận bắt buộc phải đối nhau nghiêm ngặt. Nghệ thuật đối trong thơ Đường đòi hỏi sự tương xứng về từ loại, ngữ nghĩa và bằng trắc. Phép đối tạo nên thế cân bằng hài hòa giữa tĩnh và động, cảnh và tình. Sự tương phản hoặc bổ sung giữa các vế câu làm nổi bật tư tưởng nghệ thuật. Việc giải mã phép đối giúp người học thấy rõ trình độ điêu luyện của tác giả. Phép đối không chỉ là kỹ thuật hình thức mà còn là phương tiện chuyển tải triết lý nhân sinh.
IV. Vận dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình khi dạy thơ Đường luật
Bút pháp nghệ thuật cổ điển thể hiện sâu sắc thế giới nội tâm của nhà thơ. Bút pháp tả cảnh ngụ tình là phương thức biểu cảm quen thuộc và giàu sức gợi. Cảnh vật trong thơ không đơn thuần là bức tranh thiên nhiên khách quan. Cảnh vật luôn mang màu sắc tâm trạng và phản chiếu tư tưởng của chủ thể trữ tình. Khi phân tích tác phẩm thơ Đường luật, việc bóc tách lớp nghĩa cảnh và tình là trọng tâm. Phương pháp giảng dạy cần dẫn dắt người học đi từ chi tiết tả cảnh đến khám phá tâm tình. Sự kết hợp giữa hình ảnh ước lệ và xúc cảm chân thực tạo nên sức sống lâu bền cho tác phẩm.
4.1. Bản chất của bút pháp tả cảnh ngụ tình cổ điển
Thi pháp phương Đông luôn đề cao sự giao hòa giữa thiên nhiên và con người. Ý tại ngôn ngoại là tôn chỉ thẩm mỹ xuyên suốt thời Đường. Nhà thơ mượn nét vẽ thiên nhiên để ký thác tâm sự thời thế và khát vọng sống. Hình tượng ước lệ như mây, trăng, cánh chim, dòng sông đều mang tính biểu trưng cao độ. Cảnh vật trở thành phương tiện chuyên chở tâm tư kín đáo. Sự tinh tế nằm ở chỗ cảm xúc không bộc lộ lộ liễu mà ẩn giấu sau từng cảnh sắc. Người tiếp nhận cần khả năng liên tưởng phong phú để thấu hiểu tâm tình tác giả. Đây là nét độc đáo bậc nhất của thi ca cổ điển.
4.2. Phương pháp phân tích mối quan hệ cảnh và tình
Quá trình phân tích cần bắt đầu từ việc giải mã hệ thống từ ngữ miêu tả cảnh quan. Từng chi tiết tạo hình, màu sắc và đường nét đều chứa đựng dụng ý nghệ thuật. Mối quan hệ tương hỗ giữa cảnh và tình làm nổi bật cảm xúc nhân vật trữ tình. Người học cần đặt cảnh vật vào bối cảnh không gian, thời gian lịch sử cụ thể. Việc liên hệ hoàn cảnh sáng tác giúp làm sáng tỏ tâm tư sâu kín của thi nhân. Hoạt động giảng dạy hiệu quả phải khơi gợi được năng lực cảm thụ thẩm mỹ độc lập. Phân tích mối quan hệ cảnh và tình giúp nâng tầm nhận thức văn học toàn diện.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (141 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộPHƢƠNG PHÁP GIẢNG DẠY THƠ ĐƢỜNG THEO ĐẶC TRƢNG LOẠI THỂ Phần I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Giảng dạy tác phẩm văn chƣơng trong nhà trƣờng theo đặc trƣng loại thể là vấn đề có cơ sở khoa học và ý nghĩa thực tiễn đà đúc kết thành lý luận. Năm 1970, nhóm tác giả do ông Trần Thanh Đạm đứng đầu đã công bố đề tài khoa học này qua cuốn sách" Vấn đề giảng dạy tác phẩm theo loại thể” Tác giả đã chỉ rõ: "Nhà văn sáng tác theo loại thể thì người đọc cũng cảm thụ theo loại thể và người dạy cũng giảng theo loại thể. Nói một cách khác, phương thức cấu tạo hình tượng mà tác giả đã sử dụng khi sáng tác qui định phương thức cảm thụ hình tượng đó của người đọc và cũng từ đó qui định phương thức giảng dạy của chúng ta". Đây là luận điểm có tính nguyên tắc phổ biến.
Dựa trên luận điểm đó, tôi đã nghiên cứu phƣơng pháp giảng dạy thơ Đƣờng theo đặc trƣng loại thể từ vài năm qua. Thơ Đƣờng Trung Quốc là mảng văn học nƣớc ngoài nằm trong chƣơng trình lớp 9 và lớp 10 phổ thông, bổ túc. Tuy có ít bài nhƣng chỗ đứng của nó không thể bỏ qua. Vì "Thơ Đường là một thành tựu xuất sắc của nền văn học cổ Trung Hoa, đồng thời cũng là một hiện tượng đặc biệt trong lịch sử văn học thế giới"(*) Trong quá trình giao lƣu văn hóa giữa hai dân tộc, hàng nghìn năm qua, nhân dân ta đã tiếp nhận thơ Đƣờng Trung Quốc nhƣ một món ăn tinh thần bổ ích, Thơ Đƣờng chữ Hán đã đƣợc đọc theo âm Việt, dịch ra tiếng Việt.
Nhiều ngƣời thuộc thơ Đƣờng, yêu thơ Đƣờng và sáng tác thơ Đƣờng, để lại những áng (*) Văn học 10 PTTH. 1 thơ hay cho nền văn học nƣớc nhà. Nhƣ vậy, trong nền văn học Việt Nam, thơ Đƣờng đã có mặt, có hình thức riêng, cùng tồn tại với các thể loại văn học khác Trong nhiều thế kỷ qua. Việc tìm ra phƣơng pháp giảng dạy theo đặc trƣng loại thể thơ Đƣờng không chỉ đáp ứng với một số bài thơ Đƣòng Trung Quốc trong chƣơng trình: Ý nghĩa thực tiễn của vấn đề mở ra phạm vi rộng, nhằm dạy tốt những bài thơ Đƣờng chữ Hán nói chung và cả những bài thơ Đƣờng Nôm của các tác giả xƣa nay có trong chƣơng trình văn học của trƣờng phổ thông và bổ túc.
Thơ Đƣờng hay nhƣng dạy thơ Đƣờng không dễ. Đó là một ngƣỡng cửa chuyên môn khó vƣợt qua. Cuốn sách "cẩm nang" do nhóm tác giả Trần Thanh Đạm biên soạn, chúng tôi chƣa có may mắn đƣợc đọc (*). Từ nhiều năm nay, các cấp chuyên môn ngành và những nhà nghiên cƣu cũng chƣa đặt chân đến vùng đất bỏ ngỏ này.
Nhiều năm đứng lớp, dạy văn trƣờng BTTH, mỗi lần đụng đến bài thơ Đƣờng, tôi cảm thấy ngại ngùng nhƣng vẫn cứ phải làm cái việc bất đắc dĩ. Dạy xong thì không bằng lòn với kết qủa. Giáo án mỗi năm mỗi sửa. Mãi đến khi đƣợc đọc những tài liệu về thi pháp thơ Đƣờng 1(**) tôi mới tìm ra cánh cửa, mở lời vào phƣơng pháp giảng dạy thơ Đƣờng theo đặc trƣng loại thể.
Những gì trình bày dƣới đây chỉ là công việc phải làm và đã làm của ngƣời giáo viên dạy văn chƣơng trong nhà trƣờng chúng ta. (*) Cuốn sách: "Dạy học giảng văn ở trƣờng PTTH" của tác giả Nguyễn Đức Ân do nhà xuất bản Đồng Tháp phát hành năm 1997 có giới thiệu chuyên đề "Giảng dạy văn học theo loại thể" của nhóm tác giả Trần Thanh Đạm. (**) 1Tài liệu về thi pháp thơ Đƣờng: - "Hình thức Thơ ca cổ điển Trung Quốc "tác giả PTS. Hồ Sĩ Hiệp" Đại học Quốc Gia TP.
Hô Chí Minh, Trƣờng Đại học lƣu hành nội bộ 1997. - "Thi pháp thơ Đƣờng" của PTS Nguyễn Thị Bích Hải. Nhà xuất bản Thuận Hóa - Huế 1995. 2 Phần II ĐỐI TƢỢNG ÁP DỤNG I.
THỐNG KÊ SỐ LƢỢNG: Năm học 1996 - 1997 và 1997 - 1998: Thành phần HV Số lƣợng Độ tuổi Lớp 10 Tổng số Nữ 18 25 26 30 31 40 Cán bộ 12 3 / 1 11 Công nhân l6 5 2 13 1 Nhà sƣi 6 3 / 6 / Nữ tu sĩ 7 7 3 4 / Học sinh cũ 40 24 40 / / Tống số 81 42 45 24 12 II. PHÂN TÍCH : - Đối tƣợng áp dụng phƣơng pháp giảng dạy thơ Đƣòng theo đặc trƣng loại thể là những học viên cán bộ, công nhân, những thanh niên nông thôn sau khi học xong PTCS về sản xuất ở địa phƣơng mấy năm và một số nhà sù, nữ tu sĩ. Nói chung, họ là những học viên lớn tuổi vừa trực tiếp công tác, lao động sản xuất và làm việc đạo vừa đi học. - Thực tế từ 5 năm lại đây, số học viên độ tuổi 31 đến 40 ngày càng giảm, ngƣợc lại, học viên độ tuổi từ 18 đến 25 tăng nhanh và đang trở thành đối tƣợng chính trong lớp học.
Học viên ở độ tuổi 18 đến 25 tăng; là một chuyển biến khách quan có lợi để nhà trƣờng xây dựng củng cố nề nếp học tập, có những yêu cầu cao hơn về chất lƣợng dạy và học. Trong điều kiện đó, phƣơng pháp giảng dạy thơ Đƣờng 3 theo đặc trƣng loại thể đƣợc áp dụng là một thuận lợi. Mặc dù đƣợc Ban giám đốc Trung tâm GDTX khuyến khích, tạo điều kiện và các bạn dồng nghiệp trong tổ hỗ trợ, tôi vẫn thấy việc dò dẫm đi vào phƣơng pháp giảng dạy thơ Đƣờng theo đặc trƣng loại thể là một thu thách quá sức. đầy khó khăn.
Tinh thần của tôi là vừa học hỏi trang bị lý thuyết vừa vận dụng vào thực tế giảng dạy, làm đến đâu xem xét lại đến đấy để rút tỉa kinh nghiệm đặc biệt là chú trọng những thu hoạch bổ ích cho mình. Phần III CÁC PHƢƠNG PHÁP SỬ DỤNG Thơ Đƣờng Trung Quốc đƣợc các giới nghiên cứu phê bình văn học xƣa nay đánh giá là một công trình nghệ thuật sáng tạo độc đáo. Bƣớc vào giảng dạy thơ Đƣờng phải tiếp cận với rất nhiều vấn đề. Riêng về thế loại, đã có một hệ thống đa dạng về hình thức.
Ở đây không dám bàn đến tất cả những thể loại sáng tác vào đời Đƣờng Trung Quốc mà chỉ nói tới những thể thơ cách luật ngũ ngôn hoặc thất ngôn bát cú, tuyệt cú hoặc bài luật cũng có nhiều vấn đề. Thể thất ngôn bát cú luật thi đƣợc coi là dạng cơ bản, vì từ đó có thể suy ra tất cả các dạng khác của thơ Đƣờng. Do đó đi vào phƣơng pháp giảng dạy thơ Đƣờng theo đặc trƣng loại thể, trƣớc hết và chủ yếu là tìm hiểu ở những bài thất ngôn bát cú luật thi. TRANG BỊ CHO HỌC SINH MỘT CHÚT VỐN LIẾNG ĐỂ HỌC THƠ ĐƢỜNG: 1.
Thơ Đƣờng luật theo qui phạm có ba dạng chính: a. Thơ bát cú: - Thất ngôn bát cú (cả bài tám câu, mỗi câu bảy chữ) - Ngũ ngôn bát cú (Cả bài tám câu, mỗi cáu năm chữ). Thơ tuyệt cú: - Thất ngôn tuyệt cú (cả bài bốn câu, mỗi câu bảy chữ). - Ngũ ngôn tuyệt cú (cả bài bốn câu, mỗi câu bốn chừ).
Thơ bài luật: Dạng kéo dài của thơ Đƣờng luật. Cả bài gồm mƣời câu trở lên, thƣờng lấy số vần chẵn chục, tên bài thơ ghi rõ "thập vận", hoặc "nhị thập vận". Bố cục truyền thống của bài thơ Đƣờng là đề, thực, luận, kết: a. Ở bài tuyệt cú (Tứ tuyệt): - Đề: câu 1 - Thực: câu 2 - Luận: câu 3 - Kết: câu 4 b.
Ở bài bát cú: - Đề: câu 1 và 2 - Thực: câu 3 và 4 - Luận: câu 5 và 6 - Kết: câu 7 và 8 c. Nhiệm vụ của đề, thực, luận, kết: - "Đề" có nhiệm vụ mở ý cho cả bài thơ. Ở bài bát cú, câu thứ nhất là "phá đề" thực hiện nhiệm vụ của "đề"; câu thứ hai là "thừa đề" tiếp ý của "phá đề" để chuyển vào thân bài. Bút pháp thơ Đƣờng thƣờng "phá đề" theo lối "khai môn kiến sơn" (mỏ cửa thấy núi), tức là nói thẳng vào sự việc.
- "Thực", còn gọi là thích thực hay cặp trạng để giải thích rõ ý của đầu bài. Các cụ xƣa nói "Thảo xà hôi tuyến, bất túc bất ly" nghĩa là rắn cỏ, đƣờng tro, chẳng tới sát mà cũng chẳng rời xa. "Thực" nghĩa là đƣa ra những hình ảnh 5 thực để phát triển ý thơ cho "đề". - "Luận" là nói rõ, là khai thác mở rộng ý của "đề" và "thực" - "Kết" là kết thúc ý toàn bài thơ, cần làm nổi bật tứ thơ, dụng ý của bài thơ, thái độ tƣ tƣởng, tình cảm của tác giả.
Bố cục bài thơ tuyệt cú có quan hệ gần gũi với bài bát cú luật thi: "Tuyệt cú" là một thể thơ có nguồn gốc và đời sống riêng, nhƣng từ khi có luật thi đời Đƣờng, thì nó trở nên rất gần gũi với kiểu bài bát cú. Bố cục của nó giống nhƣ đƣợc "cắt" từ bài bát cú ra. Dạng thứ nhất: Cắt lấy bốn câu trên. Trƣờng hợp này hai câu đuổi đổi nhau.
Dạng thứ hai: Cắt lấy bón câu đuổi. Trƣờng hợp này hai câu trên đối nhau. Dạng thứ ba: Cắt lấy bốn câu giữa. Trƣờng hợp này cả bốn câu phải đối nhau từng đôi môt d.
Dạng thứ tư: Cắt lấy hai câu đầu và hai câu cuối. Trƣờng họp này không đối. Sơ đồ niêm, luật, vần của bài bát cú: Minh họa qua bài "Đăng cao" của Đỗ Phủ Ký hiệu : a/ Đòn cân thanh điệu; (T) thanh trắc, (B) thanh bằng b/ Niêm là chất dính về thanh điệu giữa các liên thơ. 6 c/ Mỗi cặp câu: l với 2; 3 với 4; 5 với 6 và 7 với 8 là những liên thơ.
ý liên kết với nhau. Bài bát cú luật thi có 5 vần gieo ở tiếng cuối các câu 1; 2; 4; 6 và 8. Bài tứ tuyệt có 3 vần, gieo ở cuối câu 1, 2 và 4. Đó là hệ thống vần chính cách, chƣa kể phá cách.
SƠ ĐỒ VỀ NIÊM, LUẬT, VẦN CỦA THƠ ĐƢỜNG. Thi nhãn (còn gọi là nhãn tự) Theo pháp tự của thơ cổ thể, câu thơ ngũ ngôn, lấy chữ thứ ba làm cơ nữu; câu thơ thất ngôn, lấy chữ thứ năm làm cơ nữu. Đó là những chữ hay nhất khéo nhất trong câu thơ, hội tụ những tình cảm, vẻ đẹp của ý thơ. Trong một bài bát cú hay tuyệt cú có thể có một đến hai chữ cơ nữu, tập trung ý tình, tạo nên cái thần của bài thơ, những chữ đó đƣợc gọi là "thi nhãn" hay "nhãn tự".
Trƣờng hợp đặc biệt, "thi nhãn" (nhãn tự) không nằm ở vị trí cơ nữu, có thể nằm ở chữ cuối cùng của bài thơ để gây ấn tƣợng mạnh.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Giảng dạy Thơ Đường theo đặc trưng loại thể (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/giao-duc-hoc/phuong-phap-giang-day/luan-an-van-dung-but-phap-nghe-thuat-tho-duong-giang-day
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Giảng dạy Thơ Đường theo đặc trưng loại thể" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án nghiên cứu ứng dụng bút pháp thơ Đường vào giảng dạy thơ Đường ở phổ thông, đề xuất phương pháp tiếp cận hiệu quả.
Luận án "Giảng dạy Thơ Đường theo đặc trưng loại thể" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Giảng dạy Thơ Đường theo đặc trưng loại thể" thuộc chuyên ngành Phương pháp giảng dạy Ngữ văn. Danh mục: Phương Pháp Giảng Dạy.
Luận án "Giảng dạy Thơ Đường theo đặc trưng loại thể" có bao nhiêu trang?
Luận án "Giảng dạy Thơ Đường theo đặc trưng loại thể" có 141 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Giảng dạy Thơ Đường theo đặc trưng loại thể" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.