Ngoại giao Giáo dục của Việt Nam (2001 - 2020): Trường hợp Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Ngoại giao giáo dục Việt Nam 2001-2020: Phân tích trường hợp Đại học Quốc gia TP.HCM. Khám phá chiến lược & tác động.
Số trang
216
Thời gian đọc
33 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Tổng quan ngoại giao giáo dục trong thời kỳ đổi mới
- Số trang:
- 216 trang
- Trường:
- Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
- Chuyên ngành:
- Quan hệ quốc tế
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Tổng quan ngoại giao giáo dục trong thời kỳ đổi mới
Ngoại giao là nghệ thuật giao tiếp và đối thoại then chốt giữa các quốc gia. Bối cảnh toàn cầu hóa tạo ra nhiều chuyển dịch sâu sắc. Công nghệ thông tin phát triển vượt bậc. Người dân tiếp cận tin tức toàn cầu với tốc độ nhanh chóng. Thực tế này tạo áp lực lớn lên chính sách đối ngoại cổ điển. Tương tác truyền thống giữa nhà nước với nhà nước không còn là kênh duy nhất. Các phương thức đối ngoại phi truyền thống xuất hiện ngày càng nhiều. Ngoại giao giáo dục ra đời như một xu thế tất yếu. Đây là kênh chiến lược trong cuộc cạnh tranh quyền lực mềm toàn cầu. Hoạt động đối ngoại này bổ trợ trực tiếp cho ngoại giao nhà nước. Giáo dục mở rộng tầm ảnh hưởng văn hóa và tri thức ra thế giới. Nhiều quốc gia tận dụng giáo dục để nâng cao vị thế ngoại giao.
1.1. Khái niệm và nguồn gốc của ngoại giao giáo dục
Ngoại giao giáo dục là khái niệm mới trong quan hệ quốc tế đương đại. Khái niệm này gắn liền với sự chuyển dịch sang nền kinh tế tri thức. Giáo dục đóng vai trò nền tảng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Các tổ chức quốc tế coi giáo dục là mục tiêu phát triển bền vững hàng đầu. Nhiều cường quốc sớm triển khai các chương trình giáo dục đối ngoại quy mô lớn. Các ví dụ điển hình gồm chương trình Fulbright của Hoa Kỳ và Viện Pháp. Hội đồng Anh và Viện Goethe cũng là minh chứng rõ nét. Các cơ quan này quảng bá ngôn ngữ và tri thức ra toàn cầu. Ngoại giao giáo dục không áp đặt quyền lực cưỡng chế. Phương thức này tạo sức hút tự nhiên thông qua trao đổi học thuật. Tri thức trở thành cầu nối hòa bình và hữu nghị bền vững giữa các dân tộc.
1.2. Xu thế ngoại giao phi truyền thống trên thế giới
Các thách thức an ninh phi truyền thống gia tăng nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu. Ngoại giao truyền thống đòi hỏi sự bổ trợ từ nhiều kênh tiếp cận linh hoạt. Ngoại giao phi truyền thống tạo không gian hợp tác cởi mở và đa dạng. Các chủ thể tham gia đối ngoại ngày càng phong phú. Trường đại học, viện nghiên cứu và chuyên gia đóng vai trò trung tâm. Giao lưu học thuật giúp các quốc gia thấu hiểu lẫn nhau sâu sắc hơn. Mối quan hệ đối tác qua giáo dục có tính ổn định lâu dài. Phương thức này giảm thiểu xung đột chính trị và tạo dựng lòng tin chiến lược. Hợp tác tri thức hỗ trợ giải quyết các vấn đề cấp thiết toàn cầu. Biến đổi khí hậu, dịch bệnh và chuyển đổi số đòi hỏi sự chung tay của giới học thuật.
II. Ngoại giao giáo dục và vai trò quyền lực mềm quốc gia
Giáo dục là công cụ quyền lực mềm mang lại hiệu quả bền vững. Nelson Mandela từng khẳng định giáo dục là vũ khí quyền năng nhất để thay đổi thế giới. Sức hút giáo dục đại học tạo ra giá trị lan tỏa tự nhiên. Các quốc gia dùng giáo dục để xây dựng hình ảnh đối ngoại thân thiện. Quyền lực mềm giúp nâng cao năng lực thuyết phục trong quan hệ quốc tế. Việt Nam vận dụng giáo dục để củng cố uy tín đối ngoại. Hoạt động này tạo môi trường hòa bình phục vụ phát triển kinh tế xã hội. Đầu tư cho ngoại giao học thuật giúp mở rộng mạng lưới đối tác tin cậy. Giáo dục kết nối con người với con người một cách tự nhiên.
2.1. Quyền lực mềm giáo dục đại học trong thời đại số
Quyền lực mềm giáo dục đại học thể hiện qua chất lượng đào tạo và nghiên cứu. Môi trường đại học tiên tiến thu hút nhân tài và học giả quốc tế. Sinh viên quốc tế trở thành cầu nối văn hóa sau khi tốt nghiệp. Công nghệ số giúp mở rộng biên giới của giáo dục đại học. Các khóa học trực tuyến và hội thảo khoa học xuyên quốc gia phát triển mạnh. Cơ sở giáo dục đại học trở thành không gian ngoại giao công chúng năng động. Uy tín học thuật đóng góp trực tiếp vào sức mạnh mềm quốc gia. Một hệ thống đại học tiên tiến nâng cao chỉ số tín nhiệm quốc tế. Năng lực cạnh tranh tri thức định hình vị thế của mỗi quốc gia trên trường quốc tế.
2.2. Sự gắn kết với ngoại giao văn hóa Việt Nam
Ngoại giao văn hóa Việt Nam luôn đồng hành cùng ngoại giao giáo dục. Giáo dục lan tỏa các giá trị văn hóa, lịch sử và truyền thống dân tộc. Sinh viên quốc tế học tập tại Việt Nam tiếp nhận trực tiếp bản sắc văn hóa Việt. Việc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài mở rộng không gian văn hóa quốc gia. Sự phối hợp này tạo nên sức mạnh tổng hợp cho nền ngoại giao toàn diện. Ngoại giao giáo dục xây dựng hình ảnh một Việt Nam đổi mới, hòa bình và mến khách. Tương tác học thuật củng cố sự đồng thuận của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam. Đường lối ngoại giao văn hóa tạo nền tảng vững chắc cho hội nhập giáo dục sâu rộng.
III. Ngoại giao giáo dục tại Việt Nam giai đoạn 2001 2020
Giai đoạn 2001-2020 ghi nhận bước chuyển mình lớn của đối ngoại Việt Nam. Đất nước khẳng định chủ trương hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng. Việt Nam thể hiện hình ảnh một quốc gia tầm trung chủ động và tự tin. Năng lực, chính sách và sự công nhận quốc tế đều gia tăng rõ rệt. Đổi mới giáo dục đại học gắn liền với xu thế hội nhập toàn cầu. Ngoại giao giáo dục trở thành trụ cột quan trọng trong chiến lược đối ngoại. Giáo dục hỗ trợ đắc lực cho mục tiêu phát triển kinh tế tri thức. Nghiên cứu thực tiễn giai đoạn này rút ra nhiều bài học quý báu cho chính sách quốc gia.
3.1. Hội nhập quốc tế giáo dục 2001 2020 và chuyển biến
Hội nhập quốc tế giáo dục 2001-2020 đã tạo ra nhiều đột phá căn bản. Hệ thống giáo dục đại học chuyển đổi mạnh mẽ từ quy mô sang chất lượng. Việt Nam chủ động tham gia các điều ước quốc tế về giáo dục. Việc công nhận văn bằng và tín chỉ giữa các nước được đẩy mạnh. Các trường đại học trong nước tăng cường tiếp thu chuẩn mực giáo dục tiên tiến. Nhiều chương trình liên kết với các đại học danh tiếng thế giới được mở rộng. Nguồn lực đầu tư cho hợp tác giáo dục quốc tế tăng nhanh. Những đổi mới này nâng cao năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực Việt Nam. Giáo dục trở thành kênh đối thoại hiệu quả giữa Việt Nam và thế giới.
3.2. Ngoại giao học thuật academic diplomacy hiện đại
Ngoại giao học thuật (academic diplomacy) khẳng định vai trò cầu nối chuyên môn độc lập. Các nhà khoa học và giảng viên là những sứ giả tri thức tiêu biểu. Các hội nghị khoa học quốc tế tạo không gian đối thoại học thuật bình đẳng. Giới nghiên cứu chia sẻ dữ liệu và giải pháp cho các thách thức chung. Ngoại giao học thuật hỗ trợ đắc lực cho việc hoạch định chính sách đối ngoại. Kênh đối thoại này duy trì sự hợp tác ngay cả khi quan hệ chính trị gặp trở ngại. Hợp tác nghiên cứu chuyển giao công nghệ thúc đẩy tiến bộ kinh tế xã hội. Ngoại giao học thuật củng cố vị thế khoa học của Việt Nam trên bản đồ tri thức thế giới.
IV. Vai trò ngoại giao giáo dục tại hệ thống ĐHQG TP
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh giữ sứ mệnh đầu tàu giáo dục đại học. Đơn vị chủ động tiên phong triển khai ngoại giao giáo dục đa phương. Hệ thống thực hiện đường lối đổi mới giáo dục đại học theo chuẩn quốc tế. Hợp tác quốc tế ĐHQG TP.HCM đạt nhiều thành tựu nổi bật trong hai thập kỷ qua. Cơ sở đào tạo này mở rộng quan hệ đối tác với hàng trăm đại học uy tín toàn cầu. Các hoạt động đối ngoại tại đây thể hiện sinh động chính sách đối ngoại quốc gia. Năng lực nghiên cứu và đào tạo nâng tầm thương hiệu giáo dục Việt Nam. ĐHQG TP.HCM khẳng định vai trò trung tâm học thuật hàng đầu khu vực.
4.1. Thực tiễn hợp tác quốc tế ĐHQG TP.HCM giai đoạn qua
Thực tiễn hợp tác quốc tế ĐHQG TP.HCM giai đoạn 2001-2020 diễn ra toàn diện. ĐHQG TP.HCM ký kết nhiều thỏa thuận hợp tác chiến lược với các đối tác lớn. Các dự án nghiên cứu chung nhận được tài trợ từ nhiều quỹ khoa học quốc tế. Đơn vị tham gia tích cực vào các diễn đàn đại học đa phương toàn cầu. Hoạt động ngoại giao giáo dục tại đây gắn liền với chuyển giao tri thức ứng dụng. Hệ thống thu hút nhiều chuyên gia quốc tế đến làm việc và giảng dạy. ĐHQG TP.HCM đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Uy tín quốc tế của trung tâm giáo dục này không ngừng gia tăng.
4.2. Liên kết đào tạo quốc tế và chuyển giao tri thức
Liên kết đào tạo quốc tế là hướng đi chiến lược của ĐHQG TP.HCM. Các chương trình đào tạo liên kết cấp bằng kép thu hút nhiều người học. Chương trình giảng dạy được nhập khẩu và chuyển giao từ các nền giáo dục tiên tiến. Sinh viên được tiếp cận phương pháp học tập hiện đại ngay tại Việt Nam. Cơ chế chuyển giao công nghệ và đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh được mở rộng. Mô hình này giúp tiết kiệm ngoại tệ và nguồn lực đào tạo cho đất nước. Chất lượng các chương trình liên kết được giám sát chặt chẽ theo tiêu chuẩn quốc tế. Liên kết đào tạo góp phần cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho thị trường lao động toàn cầu.
4.3. Trao đổi sinh viên và giảng viên quốc tế hiệu quả
Trao đổi sinh viên và giảng viên quốc tế tạo môi trường học thuật đa văn hóa phong phú. ĐHQG TP.HCM tiếp nhận hàng ngàn sinh viên quốc tế đến học tập và nghiên cứu ngắn hạn. Giảng viên trong hệ thống tham gia các chương trình trao đổi học thuật ở nước ngoài. Hoạt động trao đổi này giúp nâng cao năng lực sư phạm và trình độ nghiên cứu. Sinh viên Việt Nam có cơ hội trải nghiệm các môi trường học thuật tiên tiến trên thế giới. Giao lưu văn hóa trực tiếp giúp củng cố tinh thần hữu nghị giữa các thế hệ trẻ. Đây là minh chứng cụ thể cho sức hút quyền lực mềm của giáo dục đại học Việt Nam.
V. Hợp tác quốc tế và kiểm định ngoại giao giáo dục mới
Kiểm định chất lượng là thước đo quan trọng trong ngoại giao giáo dục hiện đại. Hội nhập quốc tế đòi hỏi sự tương thích về chuẩn mực học thuật và chất lượng. Việt Nam đẩy mạnh kiểm định quốc tế để xây dựng niềm tin đối ngoại vững chắc. Các trường đại học nỗ lực chuẩn hóa quy trình quản trị và đào tạo. Sự công nhận quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút nguồn lực phát triển. Hợp tác khu vực mở ra cơ hội liên kết học thuật sâu rộng. Giáo dục đại học Việt Nam từng bước nâng cao vị thế trên bảng xếp hạng toàn cầu. Ngoại giao giáo dục định hình tương lai phát triển bền vững cho đất nước.
5.1. Vai trò mạng lưới đại học ASEAN AUN đối với khu vực
Mạng lưới đại học ASEAN (AUN) đóng vai trò then chốt trong liên kết học thuật khu vực. ĐHQG TP.HCM là một trong những thành viên sáng lập tích cực của tổ chức này. Mạng lưới thúc đẩy hợp tác nghiên cứu và công nhận tín chỉ giữa các nước Đông Nam Á. Các chương trình học bổng và diễn đàn sinh viên AUN tạo sự gắn kết chặt chẽ. Hợp tác trong khuôn khổ AUN góp phần xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh. Ngoại giao giáo dục qua kênh AUN củng cố sự đoàn kết và thịnh vượng chung. Vị thế của các đại học thành viên được nâng tầm rõ rệt trên trường quốc tế. Mạng lưới là cầu nối chiến lược giữa giáo dục Đông Nam Á và thế giới.
5.2. Kiểm định chất lượng quốc tế AUN QA và nâng tầm vị thế
Kiểm định chất lượng quốc tế AUN-QA khẳng định uy tín giáo dục của ĐHQG TP.HCM. Hệ thống dẫn đầu cả nước về số lượng chương trình đạt chuẩn AUN-QA. Tiêu chuẩn AUN-QA thúc đẩy cải tiến liên tục chất lượng giảng dạy và nghiên cứu. Kết quả đánh giá độc lập tạo niềm tin vững chắc cho phụ huynh và người học. Kiểm định quốc tế mở đường cho việc công nhận bằng cấp lẫn nhau trong khu vực ASEAN. Thương hiệu học thuật của Việt Nam được nâng cao rõ rệt trên trường quốc tế. Việc đáp ứng chuẩn mực AUN-QA tạo đòn bẩy vững chắc cho tiến trình hội nhập toàn cầu. Ngoại giao giáo dục thông qua kiểm định chất lượng khẳng định năng lực nội tại của nền giáo dục.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (216 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộLý do chọn đề tài Ngoại giao - nghệ thuật của giao tiếp và đối thoại - từ lâu đã được lãnh đạo các nước chú trọng trong việc phát triển chính sách đối ngoại của quốc gia. Môi trường quốc tế đang thay đổi và sự tiến bộ của thông tin và công nghệ truyền thông đã tạo điều kiện thuận lợi cho các tầng lớp công dân tiếp cận với tình hình và các sự kiện diễn ra trên thế giới thậm chí còn nhanh hơn chính phủ các nước. Điều này đã đặt “chính sách đối ngoại cổ điển dưới áp lực lớn để vượt ra khỏi sự tương tác truyền thống giữa quốc gia – quốc gia” [Pahlavi, 2012, p. Từ đó, các hình thức ngoại giao kiểu mới ra đời, trở thành xu thế phổ biến trong hoạt động ngoại giao phi truyền thống của một quốc gia và dần trở thành một thành phần quan trọng của cuộc cạnh tranh “sức mạnh mềm” toàn cầu giữa các quốc gia có ảnh hưởng.
Giáo dục được xem là “công cụ sức mạnh mềm hiệu quả” [Amirbek, 2014, p. 515] để hỗ trợ cho các hoạt động ngoại giao Nhà nước. Tầm quan trọng của giáo dục từng được Nelson Mandela – cố Tổng thống Nam Phi và là người được trao giải Nobel Hoà bình vào năm 1993 – nhận định: “Giáo dục là vũ khí quyền năng nhất mà bạn có thể dùng để thay đổi thế giới” 1. Tầm quan trọng của giáo dục cũng được xác định rõ trong các chương trình nghị sự toàn cầu, cụ thể là trong Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ đến năm 2015 và Mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030 của Liên Hợp Quốc.
Trong đó, giáo dục được nâng lên tầm quan trọng hàng đầu vì giáo dục được xem là nền tảng để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững và hỗ trợ các nỗ lực toàn cầu mang tính cấp thiết, bao gồm cả việc phát triển lực lượng lao động của các quốc gia [Whitehead, 2016]. Ngoại giao giáo dục là một khái niệm mới trong quan hệ quốc tế. Thậm chí khái niệm này vẫn chưa được đề cập đến trong các chương trình nghị sự toàn cầu của Liên Hợp Quốc như đã nêu ở trên. Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hoá với sự chuyển đổi từ kinh tế tài nguyên sang kinh tế tri thức, ngoại giao giáo dục đã được nhiều quốc gia sử dụng như một hình thức hiệu quả để triển khai các chính 1 “Education is the most powerful weapon which you can use to change the world” (Speech, Madison Park High School, Boston, 23 June 1990).
1 sách ngoại giao, mở rộng tầm ảnh hưởng và vị thế của quốc gia. Hàng loạt các thể chế, chương trình được các quốc gia thiết lập có thể được xem là điển hình cho ngoại giao giáo dục như Cơ quan Thông tin Hoa Kỳ và chương trình trao đổi Fulbright của Hoa Kỳ, các trung tâm của Liên minh châu Âu, Viện Pháp, Hội đồng Anh, Viện Goethe và Cơ quan Trao đổi Hàn lâm Đức, v.v… Sau hơn 35 năm của công cuộc đổi mới và tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước, có thể nói Việt Nam đã khẳng định được hội nhập quốc tế là một quyết sách chiến lược đúng đắn, gắn với nhu cầu phát triển nội tại của đất nước và xuất phát từ những xu thế, chuyển biến của môi trường quốc tế bên ngoài. Việt Nam đã thể hiện được đường lối đối ngoại độc lập, tự tin, tích cực, chủ động để dần vươn lên thể hiện hình ảnh của một quốc gia tầm trung trong quan hệ quốc tế xét theo ba tiêu chí năng lực, chính sách và sự công nhận quốc tế [Lê Đình Tĩnh, 2018, tr. Trong bối cảnh mới với sự phát triển của khoa học công nghệ, xu thế toàn cầu hoá cùng sự gia tăng của các thách thức an ninh phi truyền thống, việc xác định đúng các ưu tiên mới cho chính sách đối ngoại sẽ giúp tiết kiệm nguồn lực quốc gia; đồng thời phát huy được bản sắc và nâng cao hình ảnh và vị thế quốc tế của Việt Nam.
Chính vì vậy, ngoại giao giáo dục đóng vai trò bổ trợ cho ngoại giao truyền thống, là công cụ phát huy sức mạnh mềm của quốc gia, tạo thuận lợi cho các hoạt động đối ngoại quốc gia thông qua các phương thức hợp tác phong phú, mềm mỏng, tạo ra tác động và sức hấp dẫn mang tính lan toả tự nhiên góp phần phục vụ mục tiêu chung của chính sách đối ngoại. Việc nghiên cứu ngoại giao giáo dục của Việt Nam (2001 - 2020); đặc biệt là nghiên cứu trường hợp của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG- HCM) là điều rất cần thiết bởi ngoại giao giáo dục là khái niệm mới được tiếp cận trong quan hệ quốc tế và là vấn đề hoàn toàn mới tại Việt Nam, mang tính thời sự, vừa góp phần thể hiện rõ chủ trương về quan điểm hội nhập toàn diện và sâu rộng và quan điểm về xây dựng một nền ngoại giao Việt Nam toàn diện nói chung; vừa đánh giá cho đường lối đổi mới hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam theo hướng hội nhập, hiện đại phù hợp với xu thế của giáo dục đại học trên thế giới. Việc nghiên cứu 2 đề tài này sẽ giúp Việt Nam hiểu biết thêm về vai trò của giáo dục như một công cụ để phát triển, để hội nhập quốc tế và để thúc đẩy quan hệ đối ngoại của đất nước. Qua đó, Việt Nam có thể chủ động hơn trong việc phát huy những mặt tích cực, khắc phục những mặt tiêu cực trong ngoại giao giáo dục cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Đồng thời, trong thời đại phát triển của xu hướng hợp tác toàn cầu hiện nay, việc nghiên cứu trường hợp của ĐHQG-HCM – một chủ thể thuộc Nhà nước và là một trong hai đại học giữ vai trò, trọng trách là “đại học thực hiện nhiệm vụ chiến lược quốc gia, nhiệm vụ phát triển vùng của đất nước” [Quốc hội, 2018] - cũng góp phần khẳng định vai trò quan trọng của ngoại giao giáo dục trong việc thúc đẩy chính sách đối ngoại của Việt Nam và tác động đối với uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Vì thế, đề tài nghiên cứu “Ngoại giao giáo dục của Việt Nam (2001 - 2020): Trường hợp Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh” hoàn toàn phù hợp với chuyên ngành Quan hệ Quốc tế, điều này khẳng định tính khoa học của công trình nghiên cứu. Mặc dù ngoại giao giáo dục là vấn đề lớn, quan trọng và ngày càng phổ biến trong bối cảnh hội nhập hiện nay, nghiên cứu về vấn đề ngoại giao giáo dục của Việt Nam chưa được quan tâm khai thác đúng mức và toàn diện. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần nâng cao hiểu biết về đề tài này, không chỉ về mặt khoa học mà còn về mặt thực tiễn.
Ngoài ra, do đang công tác tại ĐHQG-HCM và từng có thời gian dài gắn bó với lĩnh vực quan hệ quốc tế, việc thực hiện đề tài trên được nghiên cứu sinh hết sức quan tâm, giúp cho bản thân nghiên cứu sinh tiếp cận và phát triển tư duy, phương pháp luận đặc thù của quan hệ quốc tế; từ đó tạo nền tảng phục vụ tốt hơn cho công tác sau này. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu - Mục đích của luận án là phân tích, làm rõ về ngoại giao giáo dục của Việt Nam từ năm 2001 đến 2020, trong đó nghiên cứu trường hợp ĐHQG-HCM như một ví dụ điển hình; từ đó, đưa ra những kiến nghị nhằm phát huy ngoại giao giáo dục để thúc đẩy quan hệ đối ngoại của Việt Nam. - Để làm sáng tỏ được mục đích nghiên cứu trên, luận án tập trung giải quyết 3 các nhiệm vụ sau: Tình hình nghiên cứu ngoại giao giáo dục trên thế giới và tại Việt Nam; Các khái niệm và nội hàm của ngoại giao giáo dục; các đặc điểm của ngoại giao giáo dục và bản chất của ngoại giao giáo dục khi đặt trong nghiên cứu với các hình thức ngoại giao khác; từ đó đưa ra một gợi ý mở về phương thức tiếp cận ngoại giao giáo dục hiệu quả cho trường hợp của Việt Nam; Bối cảnh quốc tế, khu vực và trong nước đối với việc tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ngoại giao giáo dục tại Việt Nam; Thực tiễn triển khai ngoại giao giáo dục của Việt Nam từ năm 2001 đến 2020; Thực tiễn triển khai ngoại giao giáo dục tại ĐHQG-HCM, mối liên hệ và đóng góp của ngoại giao giáo dục tại ĐHQG-HCM vào bức tranh tổng thể ngoại giao giáo dục của Việt Nam; Nhận xét và triển vọng ngoại giao giáo dục của Việt Nam; Các kiến nghị thúc đẩy ngoại giao giáo dục của Việt Nam. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.
Đối tượng nghiên cứu Luận án tập trung nghiên cứu về ngoại giao giáo dục của Việt Nam giai đoạn từ 2001 đến 2020. Trong đó, việc nghiên cứu trường hợp ĐHQG-HCM là điểm mới của luận án. Phạm vi nghiên cứu Về thời gian: luận án này được bắt đầu nghiên cứu từ năm 2001 đến năm 2020. Năm 2001 đánh dấu cột mốc quan trọng trong nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; gắn liền với quan điểm nhấn mạnh tầm quan trọng của phát triển giáo dục và đào tạo với phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế.
Thực hiện đường lối, chủ trương chung của đất nước, năm 2001 cũng là thời điểm đánh dấu bước ngoặt trong ngoại giao giáo dục của ĐHQG-HCM. Nếu như trước đây, ngoại giao giáo dục của ĐHQG-HCM còn mờ nhạt, chưa có nhiều hoạt động; từ năm 2001, với quá trình nghiên cứu và chuẩn bị trước đó, ĐHQG-HCM bắt đầu triển khai hoạt động của hệ thống thông qua việc thiết lập các kế hoạch chiến lược trung hạn có thời hạn 5 năm, tạo nền tảng cho các định hướng phát triển 4 của ĐHQG-HCM. Thông qua các kế hoạch chiến lược trung hạn, ngoại giao giáo dục của ĐHQG-HCM dần khởi sắc qua từng giai đoạn và đến năm 2020 đánh dấu năm kết thúc của kế hoạch chiến lược giai đoạn 2016-2020. Về không gian: luận án xem xét tổng quan ngoại giao giáo dục ở một số quốc gia và đi sâu vào nghiên cứu ngoại giao giáo dục của Việt Nam; đặc biệt là nghiên cứu, đánh giá trường hợp ĐHQG-HCM trong tổng thể ngoại giao giáo dục của Việt Nam.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Ngoại giao giáo dục Việt Nam 2001-2020: ĐHQG TP.HCM (n.d.) [Luận án tiến sĩ, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh]. LuanAn.net. https://luanan.net/chinh-tri-hoc/ngoai-giao-giao-duc-viet-nam-2001-2020-dhqg-tphcm
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Ngoại giao giáo dục Việt Nam 2001-2020: ĐHQG TP.HCM" nghiên cứu về vấn đề gì?
Ngoại giao giáo dục Việt Nam 2001-2020: Phân tích trường hợp Đại học Quốc gia TP.HCM. Khám phá chiến lược & tác động.
Luận án "Ngoại giao giáo dục Việt Nam 2001-2020: ĐHQG TP.HCM" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
Luận án "Ngoại giao giáo dục Việt Nam 2001-2020: ĐHQG TP.HCM" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Ngoại giao giáo dục Việt Nam 2001-2020: ĐHQG TP.HCM" thuộc chuyên ngành Quan hệ quốc tế. Danh mục: Chính Trị Học.
Luận án "Ngoại giao giáo dục Việt Nam 2001-2020: ĐHQG TP.HCM" có bao nhiêu trang?
Luận án "Ngoại giao giáo dục Việt Nam 2001-2020: ĐHQG TP.HCM" có 216 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Ngoại giao giáo dục Việt Nam 2001-2020: ĐHQG TP.HCM" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.