Luận án: Vai trò Khu ủy Trị-Thiên-Huế trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1966-1975)

Nghiên cứu vai trò của Khu ủy Trị Thiên Huế trong kháng chiến chống Mỹ (1966-1975) qua tư liệu lịch sử.

Chuyên ngành

Lịch sử Đảng

Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án

Số trang

208

Thời gian đọc

32 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt của tác giả

Trích nguyên văn từ luận án

của đề tài luận án Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc (KCCMCN) của dân tộc Việt Nam lùi xa vào lịch sử hơn bốn thập niên nhƣng luôn in đậm trong trang sử vàng của dân tộc và luôn ngời sáng cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Đó là thắng lợi của bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của sự đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế, của các lực lƣợng vũ trang nhân dân… và trên hết là thắng lợi của đƣờng lối, phƣơng pháp cách mạng đúng đắn của Đảng. Một trong những nét độc đáo, sáng tạo trong đƣờng lối cách mạng của Đảng là lãnh đạo công tác xây dựng tổ chức Đảng ở các địa phƣơng, các chiến trƣờng phù hợp với thực tiễn cuộc KCCMCN. Việc Bộ Chính trị (BCT) quyết định tổ chức lại, thành lập mới nhiều tổ chức của Đảng, trong đó có Khu ủy Trị - Thiên - Huế (TTH) cũng không ngoài mục đích nêu trên. Theo quy định của Hiệp định Giơnevơ (21-7-1954), Việt Nam bị chia cắt làm hai miền, Vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời. Đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH), TTH nằm ở phía Nam Vĩ tuyến 17, trở thành “đầu cầu” chiến lƣợc nối liền hai miền Nam - Bắc; địa bàn trực tiếp bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa (XHCN), bảo vệ vùng giải phóng Trung, Hạ Lào; bàn đạp tiến công địch ở TTH và điểm xuất phát để tiến công vào miền Nam; là hành lang chiến lƣợc của ba nƣớc Đông Dƣơng. Đối với đế quốc Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa (CQVNCH), TTH là địa

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Quá trình thành lập Khu ủy Trị - Thiên - Huế năm 1966
Số trang:
208 trang
Chuyên ngành:
Lịch sử Đảng
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Quá trình thành lập Khu ủy Trị Thiên Huế năm 1966

Khu ủy Trị - Thiên - Huế ra đời vào tháng 4 năm 1966 theo quyết định của Bộ Chính trị. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Đảng bộ Trị Thiên Huế 1966-1975. Vùng đất Trị - Thiên nằm ở vị trí địa - chính trị xung yếu, ngay sát vĩ tuyến 17. Nơi đây là cầu nối hai miền Nam - Bắc, đồng thời là bàn đạp chiến lược của cách mạng. Trước năm 1966, địa bàn này thuộc Liên Tỉnh ủy Trị - Thiên dưới sự chỉ đạo của Khu ủy V. Khi Mỹ mở rộng chiến lược Chiến tranh cục bộ, tính chất cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trở nên khốc liệt. Yêu cầu thực tiễn đòi hỏi sự chỉ đạo trực tiếp, tập trung và thống nhất từ Trung ương Đảng.

1.1. Bối cảnh lịch sử và vị trí chiến lược của Trị Thiên

Chiến trường Trị - Thiên giữ vị trí tiền tiêu đặc biệt quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Địa bàn này là cửa ngõ bảo vệ hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, đây là bàn đạp tấn công vào căn cứ đối phương ở miền Nam. Địa hình Trị - Thiên có chiều ngang hẹp, dốc, chia cắt phức tạp bởi sông suối và đồi núi hiểm trở. Phía Tây giáp Lào, phía Đông giáp Biển Đông. Đối phương chọn nơi đây làm tuyến phòng ngự kiên cố nhằm ngăn chặn chi viện từ miền Bắc. Do tính chất chiến lược sống còn, Trung ương Đảng xác định Trị - Thiên là hướng tiến công trọng điểm. Nơi đây diễn ra các cuộc đọ sức quân sự quyết liệt nhất giữa hai bên.

1.2. Quyết định thành lập Khu ủy và Mặt trận B4 năm 1966

Tháng 4 năm 1966, Bộ Chính trị quyết định thành lập Khu ủy Trị - Thiên - Huế trực thuộc Trung ương. Đồng thời, Quân ủy Trung ương thành lập Quân khu Trị - Thiên, mang mật danh Mặt trận B4. Việc tách Trị - Thiên khỏi Khu V tạo điều kiện chỉ đạo kịp thời, sát sao mọi diễn biến chiến trường. Khu ủy đảm nhận trọng trách tổ chức lực lượng, củng cố cơ sở chính trị và phát triển lực lượng vũ trang. Sự ra đời của tổ chức Đảng thống nhất giúp nâng cao hiệu quả lãnh đạo chiến tranh nhân dân. Bộ máy lãnh đạo mới nhanh chóng kiện toàn tổ chức từ cấp khu đến cơ sở, sẵn sàng bước vào các chiến dịch quy mô lớn.

II. Khu ủy lãnh đạo cuộc tiến công Xuân Mậu Thân 1968 ở Huế

Giai đoạn 1966-1968 là thời kỳ chiến đấu gay go, quyết liệt trên chiến trường Trị - Thiên. Khu ủy Trị - Thiên - Huế tập trung xây dựng căn cứ địa, phát triển ba thứ quân và củng cố phong trào quần chúng. Đỉnh cao của giai đoạn này là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 ở Huế. Quân và dân Trị - Thiên làm chủ thành phố Huế suốt 26 ngày đêm liên tục. Chiến công vang dội này giáng đòn sấm sét vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Thắng lợi khẳng định năng lực lãnh đạo tài tình của Đảng bộ địa phương trong việc nắm bắt thời cơ cách mạng.

2.1. Xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân giai đoạn 1966 1967

Trong hai năm 1966 và 1967, Khu ủy đẩy mạnh công tác xây dựng lực lượng trên cả ba vùng chiến lược: rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị. Lực lượng vũ trang Mặt trận B4 phối hợp chặt chẽ với dân quân du kích địa phương. Các đơn vị liên tục đánh phá tuyến giao thông huyết mạch, tiêu hao sinh lực địch. Song song với mặt trận quân sự, công tác vận động quần chúng diễn ra sôi nổi. Phong trào đấu tranh chính trị của học sinh, sinh viên và nhân dân lao động tại thành phố Huế phát triển mạnh mẽ. Thế trận chiến tranh nhân dân hình thành vững chắc, chuẩn bị bàn đạp cho các đòn tiến công lớn tiếp theo.

2.2. Lãnh đạo Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 ở Huế

Đêm 30 rạng sáng 31 tháng 1 năm 1968, các lực lượng cách mạng đồng loạt nổ súng đánh chiếm thành phố Huế. Khu ủy lãnh đạo quân và dân phối hợp nhịp nhàng giữa tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng. Lực lượng ta đánh chiếm nhiều cơ quan đầu não, căn cứ quân sự và làm chủ thành phố suốt 26 ngày đêm. Chiến dịch làm đảo lộn hoàn toàn kế hoạch chiến lược của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trên toàn miền Nam. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 ở Huế ghi dấu mốc chói lọi trong lịch sử Đảng bộ Trị Thiên Huế 1966-1975, tạo bước ngoặt lớn cho cuộc kháng chiến.

III. Lãnh đạo khôi phục thế trận và giải phóng Quảng Trị 1972

Sau năm 1968, đối phương điên cuồng phản kích, đánh phá ác liệt hòng bình định lại địa bàn. Chiến trường Trị - Thiên trải qua giai đoạn muôn vàn khó khăn, thử thách. Khu ủy Trị - Thiên - Huế kịp thời đề ra chủ trương bám đất, bám dân, khôi phục phong trào và củng cố hệ thống chính trị. Nhờ sự kiên trì, linh hoạt trong chỉ đạo, lực lượng cách mạng từng bước lấy lại thế chủ động. Đỉnh cao là Chiến dịch giải phóng Quảng Trị 1972, đánh bại tuyến phòng ngự kiên cố nhất của địch. Thắng lợi này tạo ưu thế lớn cho cách mạng Việt Nam trên bàn đàm phán quốc tế.

3.1. Củng cố lực lượng và khôi phục phong trào sau năm 1968

Từ năm 1969 đến năm 1971, địch tăng cường gom dân, lập ấp chiến lược và càn quét vùng giải phóng. Đứng trước tình thế hiểm nghèo, Khu ủy chỉ đạo các cấp bộ Đảng kiên cường bám trụ địa bàn, chuyển hướng hoạt động linh hoạt. Các đội công tác bí mật thâm nhập vào vùng nông thôn và ven đô để củng cố cơ sở cách mạng. Lực lượng vũ trang Quân khu Trị - Thiên tổ chức nhiều trận đánh tập kích, phục kích tiêu diệt các toán biệt kích, bình định. Phong trào du kích chiến tranh từng bước hồi sinh. Quần chúng nhân dân giữ vững niềm tin sắt son vào sự lãnh đạo của Đảng và thắng lợi cuối cùng.

3.2. Tiến công tiêu diệt địch trong Chiến dịch Quảng Trị 1972

Mùa xuân năm 1972, Trung ương Đảng mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam. Trên hướng chủ yếu Trị - Thiên, bộ đội chủ lực phối hợp với lực lượng vũ trang Mặt trận B4 tấn công dồn dập vào hệ thống phòng ngự đối phương. Chiến dịch giải phóng Quảng Trị 1972 giành thắng lợi rực rỡ, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị vào ngày 2 tháng 5 năm 1972. Sau đó, quân và dân ta kiên cường chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị suốt 81 ngày đêm rực lửa. Thắng lợi to lớn này góp phần trực tiếp buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris năm 1973, rút toàn bộ quân viễn chinh về nước.

IV. Thắng lợi Chiến dịch Trị Thiên Huế tháng 3 năm 1975

Sau Hiệp định Paris 1973, Khu ủy tập trung xây dựng, củng cố vùng giải phóng rộng lớn và tích cực chuẩn bị lực lượng cho trận quyết chiến chiến lược. Tháng 3 năm 1975, thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam xuất hiện. Đảng bộ lãnh đạo quân và dân phối hợp với Quân đoàn 2 mở Chiến dịch Trị - Thiên - Huế tháng 3 năm 1975. Bằng đòn tiến công thần tốc, táo bạo kết hợp nổi dậy mạnh mẽ, toàn bộ vùng Trị - Thiên được giải phóng vào ngày 26 tháng 3 năm 1975. Thắng lợi này mở toang cánh cửa phía Bắc, tạo tiền đề giải phóng Đà Nẵng và tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam.

4.1. Xây dựng và bảo vệ vùng giải phóng giai đoạn 1973 1974

Trong hai năm 1973-1974, Khu ủy Trị - Thiên - Huế chỉ đạo ổn định đời sống nhân dân, khôi phục sản xuất và xây dựng cơ sở hạ tầng vùng giải phóng. Hệ thống đường giao thông chiến lược và kho tàng hậu cần được mở rộng, kết nối thông suốt với hậu phương miền Bắc. Các lực lượng vũ trang thường xuyên huấn luyện, nâng cao trình độ kỹ chiến thuật và sẵn sàng chiến đấu. Đồng thời, lực lượng cách mạng kiên quyết đập tan các cuộc hành quân lấn chiếm của đối phương, giữ vững thế trận. Mọi nguồn lực kinh tế, quân sự và chính trị được tích lũy đầy đủ cho cuộc tổng công kích quyết định.

4.2. Lãnh đạo Tổng tiến công giải phóng hoàn toàn mùa xuân 1975

Ngày 5 tháng 3 năm 1975, chiến dịch tiến công Trị - Thiên chính thức phát hỏa. Khu ủy chỉ đạo các cánh quân phối hợp chặt chẽ, nhanh chóng bao vây, chia cắt và tiêu diệt các sư đoàn chủ lực đối phương. Ngày 26 tháng 3 năm 1975, lá cờ cách mạng tung bay trên đỉnh Phu Văn Lâu, đánh dấu thành phố Huế và toàn tỉnh Thừa Thiên hoàn toàn giải phóng. Chiến dịch Trị - Thiên - Huế tháng 3 năm 1975 toàn thắng đã đập tan tuyến phòng thủ chiến lược kiên cố nhất của đối phương. Chiến công xuất sắc này góp phần quyết định vào Đại thắng mùa Xuân 1975 của dân tộc.

V. Bài học lãnh đạo chiến tranh nhân dân tại Trị Thiên

Thực tiễn lãnh đạo kháng chiến của Khu ủy Trị - Thiên - Huế giai đoạn 1966-1975 để lại nhiều bài học lịch sử sâu sắc. Đảng bộ luôn nắm vững đường lối quân sự của Đảng, vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương. Lãnh đạo chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Khu ủy biết kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự, chính trị và binh vận; kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy. Những kinh nghiệm quý báu này làm phong phú thêm kho tàng lý luận quân sự và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh cách mạng Việt Nam.

5.1. Kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự và nổi dậy

Bài học nổi bật nhất là nghệ thuật kết hợp giữa tiến công quân sự của các binh đoàn chủ lực với sự nổi dậy đều khắp của quần chúng. Lực lượng vũ trang giữ vai trò nòng cốt, tiêu diệt sinh lực và đập tan bộ máy kìm kẹp của địch. Phong trào quần chúng tạo áp lực chính trị, hỗ trợ bộ đội nắm bắt địa hình, tiếp tế hậu cần và giành quyền làm chủ. Sự kết hợp nhuần nhuyễn hai chân, ba mũi trên cả ba vùng chiến lược tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn. Nhờ đó, quân và dân Trị - Thiên luôn giữ vững thế chủ động tiến công trong mọi tình huống.

5.2. Ý nghĩa lịch sử đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc

Lịch sử Đảng bộ Trị Thiên Huế 1966-1975 khẳng định vai trò lãnh đạo kiên cường, sáng suốt của tổ chức Đảng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tinh thần tự lực, tự cường, bám trụ kiên cường của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân nơi đây trở thành biểu tượng sáng ngời. Những kinh nghiệm về xây dựng thế trận lòng dân, củng cố quốc phòng - an ninh và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc vẫn nguyên giá trị thời sự. Các bài học lịch sử này tiếp tục soi sáng công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn mới.

Mục lục chi tiết luận án

MỞ ĐẦU
1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
1.2. Những vấn đề luận án kế thừa và những vấn đề đặt ra luận án cần tập trung nghiên cứu
2. CHƯƠNG 2: KHU ỦY TRỊ - THIÊN - HUẾ THÀNH LẬP, LÃNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC TỪ NĂM 1966 ĐẾN NĂM 1968
2.1. Thành lập và kiện toàn tổ chức Khu ủy Trị - Thiên - Huế
2.2. Khu ủy Trị - Thiên - Huế lãnh đạo kháng chiến từ năm 1966 đến năm 1968
3. CHƯƠNG 3: KHU ỦY TRỊ - THIÊN - HUẾ XÂY DỰNG TỔ CHỨC VÀ LÃNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC TỪ NĂM 1969 ĐẾN NĂM 1975
3.1. Củng cố tổ chức và lực lượng, lãnh đạo khôi phục thế trận, chủ động tiến công, giải phóng Quảng Trị (1969-1972)
3.2. Phát triển tổ chức, lãnh đạo xây dựng vùng giải phóng, Tổng tiến công và nổi dậy ở Trị - Thiên - Huế (1973-1975)
4. CHƯƠNG 4: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
4.1. Một số kinh nghiệm
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án khu ủy trị thiên huế trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước từ năm 1966 đến năm 1975

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (208 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU. 1 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án. Những vấn đề luận án kế thừa và những vấn đề đặt ra luận án cần tập trung nghiên cứu.

20 Chƣơng 2: KHU ỦY TRỊ - THIÊN - HUẾ THÀNH LẬP, LÃNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƢỚC TỪ NĂM 1966 ĐẾN NĂM 1968. Thành lập và kiện toàn tổ chức Khu ủy Trị - Thiên - Huế. Khu ủy Trị - Thiên - Huế lãnh đạo kháng chiến từ năm 1966 đến năm 1968. 38 Chƣơng 3: KHU ỦY TRỊ - THIÊN - HUẾ XÂY DỰNG TỔ CHỨC VÀ LÃNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƢỚC TỪ NĂM 1969 ĐẾN NĂM 1975.

Củng cố tổ chức và lực lƣợng, lãnh đạo khôi phục thế trận, chủ động tiến công, giải phóng Quảng Trị (1969-1972). Phát triển tổ chức, lãnh đạo xây dựng vùng giải phóng, Tổng tiến công và nổi dậy ở Trị - Thiên - Huế (1973-1975). 92 Chƣơng 4: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM. Một số kinh nghiệm.

149 DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN. 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 152 PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BCH Ban Chấp hành BCT Bộ Chính trị CQVNCH Chính quyền Việt Nam Cộng hòa CTND Chiến tranh nhân dân CNXH Chủ nghĩa xã hội CHMNVN Cộng hòa miền Nam Việt Nam KCCMCN Kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc LLCM Lực lƣợng cách mạng LSQSVN Lịch sử Quân sự Việt Nam MTDTGP Mặt trận dân tộc giải phóng QĐND Quân đội nhân dân QĐVNCH Quân đội Việt Nam Cộng hòa QGP Quân Giải phóng QUTW Quân ủy Trung ƣơng TTH Trị - Thiên - Huế VNDCCH Việt Nam Dân chủ Cộng hòa XHCN Xã hội chủ nghĩa 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc (KCCMCN) của dân tộc Việt Nam lùi xa vào lịch sử hơn bốn thập niên nhƣng luôn in đậm trong trang sử vàng của dân tộc và luôn ngời sáng cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Đó là thắng lợi của bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của sự đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế, của các lực lƣợng vũ trang nhân dân… và trên hết là thắng lợi của đƣờng lối, phƣơng pháp cách mạng đúng đắn của Đảng. Một trong những nét độc đáo, sáng tạo trong đƣờng lối cách mạng của Đảng là lãnh đạo công tác xây dựng tổ chức Đảng ở các địa phƣơng, các chiến trƣờng phù hợp với thực tiễn cuộc KCCMCN. Việc Bộ Chính trị (BCT) quyết định tổ chức lại, thành lập mới nhiều tổ chức của Đảng, trong đó có Khu ủy Trị - Thiên - Huế (TTH) cũng không ngoài mục đích nêu trên. Theo quy định của Hiệp định Giơnevơ (21-7-1954), Việt Nam bị chia cắt làm hai miền, Vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời.

Đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH), TTH nằm ở phía Nam Vĩ tuyến 17, trở thành “đầu cầu” chiến lƣợc nối liền hai miền Nam - Bắc; địa bàn trực tiếp bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa (XHCN), bảo vệ vùng giải phóng Trung, Hạ Lào; bàn đạp tiến công địch ở TTH và điểm xuất phát để tiến công vào miền Nam; là hành lang chiến lƣợc của ba nƣớc Đông Dƣơng. Đối với đế quốc Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa (CQVNCH), TTH là địa bàn tổ chức phòng ngự, ngăn chặn sự chi viện sức ngƣời sức của từ miền Bắc đối với miền Nam, Lào và Campuchia; ngăn chặn sự tiến công, ảnh hƣởng của miền Bắc đối với chế độ của đế quốc Mỹ ở miền Nam; là bình phong, “lá chắn” vững chắc cho căn cứ Đà Nẵng; làm bàn đạp để uy hiếp, tiến công xâm lƣợc miền Bắc, trƣớc hết là phía Nam Quân khu IV và vùng giải phóng Trung, Hạ Lào; luôn coi trọng và tăng cƣờng xây dựng TTH thành khu vực trọng điểm. 2 Trong cuộc KCCMCN, TTH là địa bàn tiền tiêu, một hƣớng chiến lƣợc quan trọng về quân sự và chính trị; vừa là chiến trƣờng tác chiến của các binh đoàn chủ lực, vừa là chiến trƣờng chiến tranh nhân dân (CTND) địa phƣơng. Có thời điểm, TTH “đƣợc chọn làm hƣớng tiến công chủ yếu trong một số cuộc tiến công chiến lƣợc của toàn Miền; vừa có nhiệm vụ tiêu diệt, thu hút, kiềm chế quân chủ lực cơ động của Mỹ - ngụy, vừa có nhiệm vụ giành dân, giành quyền làm chủ trên cả ba vùng chiến lƣợc” [125, tr.

Chiến trƣờng TTH thực sự là nơi diễn ra cuộc đọ sức quyết liệt của hai chế độ, hai lực lƣợng cách mạng (LLCM) và phản cách mạng. Hơn mƣời năm đầu của cuộc KCCMCN (từ tháng 3-1955 đến tháng 4- 1966), Quảng Trị và Thừa Thiên đƣợc tổ chức thành Liên Tỉnh ủy Bắc (Liên Tỉnh ủy Trị - Thiên), trực thuộc Khu ủy V. Trong thời gian này, Liên Tỉnh ủy Trị - Thiên thực hiện nhiệm vụ “khu đệm”, hạn chế đấu tranh vũ trang, kết quả đấu tranh thấp so với toàn miền Nam. Khi đế quốc Mỹ triển khai chiến lƣợc “Chiến tranh cục bộ”, cuộc KCCMCN gay go, ác liệt hơn, chiến trƣờng TTH cũng “nóng bỏng” hơn.

Tuy nhiên, cơ quan lãnh đạo Liên Tỉnh ủy Trị - Thiên lại bộc lộ nhiều khuyết điểm, khó đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ mới. Đến giữa năm 1966, thực hiện chủ trƣơng mới của Trung ƣơng Đảng, ở chiến trƣờng TTH có sự thay đổi lớn về tổ chức. Bộ Chính trị quyết định thành lập Khu ủy Trị - Thiên - Huế; đồng thời Quân ủy Trung ƣơng (QUTW) quyết định thành lập Quân khu Trị - Thiên - Huế vào tháng 4-1966. Khu ủy TTH đặt dƣới sự lãnh đạo trực tiếp của BCT và QUTW (khi đƣợc BCT ủy nhiệm).

Quân Khu ủy do “Khu ủy trực tiếp lãnh đạo và chịu sự lãnh đạo, chỉ huy về mọi mặt của Quân ủy Trung ƣơng” [218, tr. Suốt 9 năm hoạt động, Khu ủy TTH thể hiện rõ quá trình kiện toàn, xây dựng, phát triển về tổ chức và lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiều nhiệm vụ quan trọng của CTND ở địa phƣơng, phối hợp chặt chẽ cùng các đơn vị vũ trang chủ lực của Trung ƣơng tiến công địch, giành thắng lợi lớn trong chiến dịch Đƣờng 9 - Khe Sanh năm 1968; Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 3 1968 ở Huế; chiến dịch phản công Đƣờng 9 - Nam Lào năm 1971; chiến dịch tiến công chiến lƣợc Trị - Thiên năm 1972, giải phóng tỉnh Quảng Trị; Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn TTH, góp phần trực tiếp vào đánh thắng các chiến lƣợc chiến tranh mà đế quốc Mỹ và CQVNCH đã tiến hành ở miền Nam Việt Nam từ năm 1966 đến năm 1975. Nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về tổ chức và quá trình Khu ủy lãnh đạo CTND ở chiến trƣờng TTH, một trong những chiến trƣờng phức tạp, ác liệt nhất là cần thiết, góp phần tổng kết sâu sắc hơn về cuộc KCCMCN; góp phần tổng kết công tác xây dựng Đảng; tổng kết một số kinh nghiệm có ý nghĩa trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Vì vậy, tác giả chọn vấn đề Khu ủy Trị - Thiên - Huế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1966 đến năm 1975 làm đề tài luận án tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục đích nghiên cứu Làm rõ quá trình thành lập, xây dựng tổ chức và lãnh đạo CTND của Khu ủy TTH trong cuộc KCCMCN từ năm 1966 đến năm 1975; những thành công, hạn chế và tổng kết một số kinh nghiệm. Nhiệm vụ nghiên cứu - Khái quát tình hình và chủ trƣơng của Trung ƣơng Đảng về cuộc KCCMCN từ năm 1965 đến năm 1975. - Phân tích đặc điểm chiến trƣờng TTH trong cuộc KCCMCN, nhất là từ năm 1965 khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh, thực hiện chiến lƣợc “Chiến tranh cục bộ”; - Nêu rõ yêu cầu khách quan thành lập, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Khu ủy TTH; - Trình bày quá trình kiện toàn, xây dựng, phát triển về tổ chức và quá trình lãnh đạo toàn diện cuộc KCCMCN của Khu ủy từ năm 1966 đến năm 1975 trên địa bàn TTH; 4 - Đánh giá thành công, hạn chế và tổng kết một số kinh nghiệm từ quá trình thành lập, xây dựng Khu ủy; quá trình lãnh đạo cuộc KCCMCN của Khu ủy từ năm 1966 đến năm 1975.

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Luận án nghiên cứu sự thành lập Khu ủy TTH; quá trình xây dựng tổ chức và quá trình lãnh đạo CTND của Khu ủy TTH trong cuộc KCCMCN từ năm 1966 đến năm 1975. Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung khoa học: Luận án nghiên cứu sự thành lập; quá trình kiện toàn, xây dựng, phát triển tổ chức của Khu ủy TTH; quá trình Khu ủy lãnh đạo nhân dân địa phƣơng tiến hành KCCMCN. Do nguồn tƣ liệu lƣu trữ và các nguồn tài liệu khác về công tác tổ chức, xây dựng Khu ủy ít, không liên tục theo trình tự thời gian nên dung lƣợng phần xây dựng tổ chức của Khu ủy trong luận án chỉ trình bày ở mức độ nhất định, mà tập trung nhấn mạnh nhiều hơn về quá trình Khu ủy lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ: đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và công tác vận động quần chúng, đấu tranh binh vận, công tác xây dựng Đảng, công tác phát triển kinh tế và xây dựng vùng giải phóng ở địa bàn TTH.

- Về không gian: Sự lãnh đạo của Khu ủy trên địa bàn TTH bao gồm hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên và thành phố Huế, trải dài từ phía Nam sông Bến Hải (Vĩ tuyến 17) - Vĩnh Linh (Quảng Trị) đến phía Bắc đèo Hải Vân (Phú Lộc - Thừa Thiên Huế); - Về thời gian: Từ tháng 4-1966 (Khu ủy TTH thành lập) đến tháng 4- 1975 (Khu ủy TTH giải thể). Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu 4. Cơ sở lý luận Luận án đƣợc thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của 5 Đảng về CTND, về vai trò của quần chúng nhân dân đối với lịch sử, về công tác xây dựng Đảng. Phương pháp nghiên cứu Trên cơ sở phƣơng pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, tác giả chủ yếu sử dụng phƣơng pháp lịch sử, phƣơng pháp lôgic nhằm tái hiện về Khu ủy TTH trong cuộc KCCMCN từ năm 1966 đến năm 1975.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Luận án Khu ủy Trị-Thiên-Huế kháng chiến chống Mỹ 1966-1975 (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/chinh-tri-hoc/ly-luan-chinh-tri/luan-an-khu-uy-tri-thien-hue-khang-chien-chong-my-1966-1975

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Luận án Khu ủy Trị-Thiên-Huế kháng chiến chống Mỹ 1966-1975" nghiên cứu về vấn đề gì?

Nghiên cứu vai trò của Khu ủy Trị Thiên Huế trong kháng chiến chống Mỹ (1966-1975) qua tư liệu lịch sử.

Luận án "Luận án Khu ủy Trị-Thiên-Huế kháng chiến chống Mỹ 1966-1975" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Luận án Khu ủy Trị-Thiên-Huế kháng chiến chống Mỹ 1966-1975" thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng. Danh mục: Lý Luận Chính Trị.

Luận án "Luận án Khu ủy Trị-Thiên-Huế kháng chiến chống Mỹ 1966-1975" có bao nhiêu trang?

Luận án "Luận án Khu ủy Trị-Thiên-Huế kháng chiến chống Mỹ 1966-1975" có 208 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Luận án Khu ủy Trị-Thiên-Huế kháng chiến chống Mỹ 1966-1975" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter