Luận án đổi mới sự lãnh đạo của đảng đối với công tác vận động trí thức trong giai đoạn hiện nay
Luận án nghiên cứu đổi mới sự lãnh đạo Đảng đối với vận động trí thức giai đoạn hiện nay, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả.
Luan An
Luận án
Số trang
181
Thời gian đọc
28 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Cơ sở lý luận đổi mới sự lãnh đạo của Đảng với trí thức
- Số trang:
- 181 trang
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Cơ sở lý luận đổi mới sự lãnh đạo của Đảng với trí thức
Đội ngũ trí thức là tinh hoa và nguyên khí quốc gia. Lịch sử dân tộc chứng minh sự hưng thịnh gắn liền với việc thu hút nhân tài. Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức là yêu cầu tất yếu khách quan. Quá trình này giúp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên số. Đảng luôn xác định trí thức giữ vai trò nòng cốt trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Đổi mới tư duy lãnh đạo tạo nền tảng giải phóng sức sáng tạo cho các nhà khoa học. Các cấp ủy đảng cần nhận thức đầy đủ vị trí của trí thức trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu chính là tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh. Sự lãnh đạo đúng đắn sẽ khơi dậy khát vọng cống hiến cho quê hương.
1.1. Quan niệm và vị trí của đội ngũ trí thức trong thời đại mới
Trí thức là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt. Họ tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần to lớn cho xã hội. Trong nền kinh tế tri thức, vai trò của trí thức ngày càng được khẳng định rõ nét. Họ trực tiếp tham gia đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Họ nâng cao dân trí và làm chủ công nghệ mũi nhọn. Việc xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh quyết định tốc độ phát triển của đất nước. Trí thức đóng góp ý kiến chiến lược cho các quyết sách quốc gia. Sự gắn kết giữa trí thức và thực tiễn sản xuất thúc đẩy năng suất lao động. Đầu tư cho trí thức chính là đầu tư cho tương lai bền vững. Lực lượng này là cầu nối chuyển giao tri thức nhân loại vào thực tế Việt Nam.
1.2. Tính cấp thiết đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng hiện nay
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đặt ra nhiều thách thức mới. Phương thức lãnh đạo truyền thống bộc lộ một số điểm hạn chế. Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với giới trí thức trở nên cấp bách. Đảng cần chuyển đổi mạnh mẽ từ chỉ đạo hành chính sang cơ chế đồng hành và kiến tạo. Môi trường nghiên cứu khoa học cần sự linh hoạt và thông thoáng. Công tác vận động cần phù hợp với tâm lý và đặc thù sáng tạo của trí thức. Các cấp ủy đảng cần lắng nghe ý kiến phản biện khách quan từ giới chuyên môn. Đổi mới phương thức giúp củng cố niềm tin của trí thức đối với đường lối của Đảng. Đây là chìa khóa để thu hút chất xám và phòng chống nguy cơ suy thoái tư tưởng.
1.3. Kế thừa quan điểm Nghị quyết 27 NQ TW khóa X về trí thức
Nghị quyết 27-NQ/TW khóa X đánh dấu bước chuyển lớn trong nhận thức về trí thức. Văn kiện khẳng định trí thức là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mục tiêu của nghị quyết là xây dựng đội ngũ trí thức đủ về số lượng và mạnh về chất lượng. Việc tổng kết nghị quyết đem lại nhiều bài học giá trị cho thực tiễn lãnh đạo. Các cấp ủy cần tiếp tục kế thừa những tư tưởng chỉ đạo mang tính đột phá. Hệ thống chính sách cần cụ thể hóa tinh thần tôn trọng tài năng khoa học. Đổi mới công tác vận động phải dựa trên nền tảng lý luận đã được kiểm chứng. Đây là căn cứ vững chắc để hoàn thiện chủ trương của Đảng qua từng giai đoạn phát triển đất nước.
II. Thực trạng đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với trí thức
Công tác vận động trí thức trong những năm qua đạt được nhiều kết quả tích cực. Đội ngũ trí thức Việt Nam phát triển nhanh về quy mô lẫn trình độ chuyên môn. Nhiều công trình khoa học đạt tiêu chuẩn quốc tế và đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, công tác lãnh đạo vẫn còn những bất cập cần tháo gỡ kịp thời. Sự phối hợp giữa các cơ quan ban ngành đôi lúc chưa đồng bộ. Một số cấp ủy đảng chưa đánh giá đúng tiềm năng của các nhà khoa học. Việc thể chế hóa các chủ trương của Đảng thành chính sách cụ thể còn chậm. Đánh giá thẳng thắn thực trạng giúp xác định đúng nguyên nhân và tìm ra giải pháp phù hợp.
2.1. Đánh giá thực trạng phát huy vai trò trí thức giai đoạn qua
Chủ trương phát huy vai trò trí thức đã mang lại nhiều chuyển biến tích cực trong thực tế. Các nhà khoa học tham gia tích cực vào các chương trình kinh tế trọng điểm. Họ đóng góp hàng ngàn giải pháp công nghệ phục vụ đời sống dân sinh. Dù vậy, tiềm năng to lớn của trí thức vẫn chưa được khai thác triệt để. Mối liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp còn lỏng lẻo. Nhiều đề tài nghiên cứu chưa đáp ứng sát sườn nhu cầu sản xuất kinh doanh. Cơ chế giao quyền tự chủ cho các tổ chức khoa học còn nhiều vướng mắc. Cần tạo hành lang pháp lý mở để trí thức tự tin thử nghiệm các ý tưởng mới.
2.2. Hạn chế trong chế độ đãi ngộ trí thức và nguyên nhân cốt lõi
Chế độ đãi ngộ trí thức hiện hành còn mang tính cào bằng và thiếu tính cạnh tranh. Mức thu nhập chưa tương xứng với thời gian và công sức cống hiến. Thủ tục hành chính trong thanh quyết toán đề tài khoa học còn rườm rà. Môi trường làm việc thiếu trang thiết bị hiện đại khiến nhiều nhân tài gặp trở ngại. Nguyên nhân chính là do tư duy quản lý chậm đổi mới và nguồn lực đầu tư dàn trải. Một số địa phương chưa coi trọng đúng mức việc thu hút chuyên gia giỏi. Tình trạng chảy máu chất xám ra khu vực tư nhân hoặc nước ngoài vẫn tiếp diễn. Cần giải quyết căn cơ các rào cản này để giữ chân đội ngũ tinh hoa.
2.3. Hoạt động của Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam giữ vai trò cầu nối vững chắc giữa Đảng với trí thức. Tổ chức này tập hợp đông đảo các nhà khoa học, chuyên gia kỹ thuật trên cả nước. Hoạt động phổ biến kiến thức và chuyển giao tiến bộ công nghệ đạt kết quả nổi bật. Mạng lưới các hội thành viên đã tích cực bảo vệ quyền lợi hợp pháp của hội viên. Tuy nhiên, mô hình tổ chức và phương thức hoạt động ở một số nơi còn hành chính hóa. Nguồn kinh phí hoạt động cho các cấp hội còn hạn hẹp. Cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để nâng cao năng lực tự chủ cho hệ thống liên hiệp hội.
III. Yêu cầu mới trong xây dựng đội ngũ trí thức thời kỳ mới
Thời kỳ chuyển đổi số mở ra nhiều cơ hội bứt phá nhưng cũng đem lại vô vàn thách thức. Đất nước cần một lực lượng trí thức có tư duy đổi mới và năng lực hội nhập quốc tế. Xây dựng đội ngũ tinh hoa là nhiệm vụ chiến lược hàng đầu của hệ thống chính trị. Sự lãnh đạo của Đảng cần thích ứng nhanh với những thay đổi của thế giới công nghệ. Phải coi tri thức là nguồn lực quý giá nhất cho tăng trưởng kinh tế bền vững. Đổi mới công tác vận động trí thức đòi hỏi tính linh hoạt, bao dung và tôn trọng sự khác biệt. Đảng luôn bảo đảm định hướng chính trị vững chắc song hành với tư duy khai phóng.
3.1. Bối cảnh kinh tế tri thức và thách thức đối với nhân tài
Kinh tế tri thức lấy công nghệ và dữ liệu làm động lực phát triển chủ chốt. Các quốc gia trên thế giới cạnh tranh khốc liệt để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao. Việt Nam đối mặt với nguy cơ tụt hậu nếu không có đột phá về khoa học công nghệ. Đội ngũ trí thức trẻ chịu sức ép lớn về việc làm chủ các công nghệ mới nổi. Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và công nghệ sinh học đòi hỏi tư duy nghiên cứu liên ngành. Công tác vận động của Đảng cần nắm bắt nhanh xu hướng phát triển toàn cầu. Việc định hướng mục tiêu nghiên cứu phải gắn liền với bài toán thực tế của đất nước.
3.2. Đảm bảo tự do học thuật và sáng tạo trong nghiên cứu khoa học
Tự do học thuật và sáng tạo là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của các phát minh đột phá. Nghiên cứu khoa học đòi hỏi sự tìm tòi không ngừng và khả năng chấp nhận rủi ro thất bại. Các cấp ủy đảng cần xây dựng môi trường học thuật cởi mở, dân chủ và minh bạch. Cần khuyến khích các nhà khoa học mạnh dạn đề xuất các luận điểm và phương pháp mới. Tôn trọng sự đa dạng trong tư duy khoa học nhưng luôn bảo đảm an ninh tư tưởng quốc gia. Việc dỡ bỏ các rào cản hành chính không cần thiết sẽ giải phóng năng lượng sáng tạo. Trí thức cần được bảo vệ quyền tác giả và quyền sở hữu trí tuệ trọn vẹn.
3.3. Tinh thần chỉ đạo từ Nghị quyết 45 NQ TW về trí thức hiện nay
Nghị quyết 45-NQ/TW về trí thức nhấn mạnh yêu cầu xây dựng đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nghị quyết xác định rõ trách nhiệm của các cấp ủy đảng trong việc đào tạo và bồi dưỡng nhân tài. Đây là kim chỉ nam quan trọng để đổi mới toàn diện công tác vận động trí thức. Tinh thần nghị quyết yêu cầu tạo môi trường sống và làm việc tối ưu cho các chuyên gia. Tăng cường đầu tư ngân sách cho các dự án nghiên cứu trọng điểm quốc gia. Nghị quyết cũng đặt ra mục tiêu kết nối mạng lưới trí thức kiều bào hướng về Tổ quốc. Triển khai đồng bộ nghị quyết sẽ tạo động lực phát triển đất nước mạnh mẽ.
IV. Đột phá đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với trí thức
Để tạo bước chuyển biến căn bản, công tác lãnh đạo của Đảng cần áp dụng hệ thống giải pháp đồng bộ. Trước hết, cần đổi mới nhận thức của toàn xã hội về vai trò của trí thức. Cơ chế quản lý khoa học phải chuyển mạnh từ bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng cần lãnh đạo thông qua cương lĩnh, nghị quyết và sự gương mẫu của đảng viên trí thức. Tạo điều kiện tối đa để giới chuyên gia tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chính sách. Phát huy sức mạnh của các tổ chức đại diện nhằm tập hợp khối đại đoàn kết trí thức. Đây là con đường ngắn nhất để đưa đất nước vươn lên thịnh vượng.
4.1. Hoàn thiện chính sách trọng dụng nhân tài và cơ chế đãi ngộ
Xây dựng chính sách trọng dụng nhân tài mang tính đột phá là giải pháp then chốt. Cần áp dụng cơ chế tuyển chọn, bổ nhiệm dựa trên năng lực và hiệu quả công việc thực tế. Xóa bỏ tư duy xếp hàng theo thâm niên trong bố trí cán bộ khoa học đầu ngành. Cải cách tiền lương và áp dụng mức thưởng xứng đáng cho các công trình có giá trị thực tiễn. Cung cấp trang thiết bị phòng thí nghiệm đạt chuẩn quốc tế cho các nhà khoa học chủ chốt. Có chính sách nhà ở và đãi ngộ đặc biệt cho chuyên gia đầu ngành cùng trí thức trẻ tài năng. Đãi ngộ thỏa đáng sẽ tạo động lực to lớn cho sự cống hiến bền bỉ.
4.2. Nâng cao chất lượng tư vấn phản biện và giám định xã hội
Hoạt động tư vấn phản biện và giám định xã hội cần được luật hóa và coi là khâu bắt buộc trong xây dựng chính sách. Các cơ quan nhà nước cần chủ động đặt hàng các nhà khoa học đánh giá tính khả thi của các dự án lớn. Lắng nghe và tiếp thu nghiêm túc các ý kiến phản biện khoa học độc lập. Khuyến khích tranh biện học thuật lành mạnh vì lợi ích chung của đất nước. Tránh tình trạng hình thức hoặc né tránh các ý kiến phản biện trái chiều mang tính xây dựng. Nâng cao chất lượng phản biện giúp các quyết sách của Đảng và Nhà nước đạt độ chuẩn xác cao. Điều này cũng nâng cao uy tín và trách nhiệm xã hội của giới trí thức.
4.3. Phát huy vai trò tổ chức hội khoa học kỹ thuật trong kỷ nguyên số
Các hội khoa học và kỹ thuật cần đổi mới mạnh mẽ mô hình hoạt động theo hướng chuyển đổi số. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để kết nối các nhà khoa học trong và ngoài nước. Xây dựng các diễn đàn học thuật trực tuyến nhằm chia sẻ nhanh chóng các kết quả nghiên cứu. Tăng cường vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho hội viên. Đảng cần giao quyền chủ động hơn cho các hội trong việc tổ chức các giải thưởng khoa học uy tín. Tạo nguồn tài chính đa dạng từ xã hội hóa để hỗ trợ các sáng kiến nghiên cứu của trí thức trẻ. Mạng lưới các hội vững mạnh là nền tảng lan tỏa tri thức đến toàn xã hội.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (181 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộMỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 6 1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 6 1. Những giá trị của các công trình luận án cần tham khảo và vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 21 Chương 2: ĐỔI MỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG TRÍ THỨC - NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 24 2. Trí thức và công tác vận động trí thức ở nước ta 24 2.
Đảng lãnh đạo công tác vận động trí thức và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức - khái niệm, nội dung 41 và phương thức Chương 3: CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG TRÍ THỨC VÀ ĐỔI MỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG TRÍ THỨC - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM 60 3. Thực trạng đội ngũ trí thức và công tác vận động trí thức ở nước ta hiện nay 60 3. Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức - thực trạng, nguyên nhân, kinh nghiệm 79 Chương 4: NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG, YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TIẾP TỤC ĐỔI MỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG TRÍ THỨC ĐẾN NĂM 2025 116 4. Những nhân tố tác động và yêu cầu tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức 116 4.
Những giải pháp chủ yếu tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức giai đoạn hiện nay 125 KẾT LUẬN 154 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 157 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 158 PHỤ LỤC 169 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNXH Chủ nghĩa xã hội GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo KH&CN Khoa học và công nghệ KH&KT Khoa học và kỹ thuật KTTT Kinh tế tri thức KT-XH Kinh tế - xã hội LHH Liên Hiệp hội MTTQ Mặt trận Tổ quốc UBND Ủy ban nhân dân XHCN Xã hội chủ nghĩa 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án Trí thức là vốn quý của dân tộc, là lực lượng tiêu biểu, thể hiện trình độ trí tuệ của một quốc gia và có vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Lịch sử cho thấy rằng: ở thời nào cũng vậy, sự hưng thịnh của đất nước tùy thuộc phần lớn vào việc coi trọng và sử dụng đội ngũ trí thức như thế nào. Cách đây hơn năm thế kỷ, trong bài Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo năm thứ 3(1942),Thân Nhân Trung đã nêu bật được tầm quan trọng của giáo dục nhân tài đối với sự hưng thịnh của đất nước: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn.
Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết [137]. Hiện nay, Việt Nam đang đứng trước thách thức lớn về sự tụt hậu ngày càng xa so với các nước trong khu vực và quốc tế. Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) để từng bước vượt qua thách thức đó. Đội ngũ trí thức với đặc thù lao động của mình có vai trò quan trọng, có ý nghĩa rất quan trọng.
Không có đội ngũ trí thức đủ mạnh thì không thể tiến hành CNH, HĐH đất nước, không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội (CNXH). Trí thức vừa là một bộ phận của nguồn lực con người, vừa là nguồn tiềm năng khoa học, kỹ thuật, trực tiếp tham gia vào việc nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước. Đánh giá về xu thế phát triển này, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “Kinh tế tri thức phát triển mạnh, do đó, con người và tri thức càng trở thành nhân tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia” [50, tr. Nối tiếp truyền thống của dân tộc, vận dụng những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức, trong sự nghiệp đổi mới Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm lãnh đạo công tác vận động đội ngũ trí thức.
Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị để lãnh đạo công tác vận động trí thức, điển hình là Nghị quyết số 27-NQ/TW, về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HÐH (2008). Quan điểm, chủ trương đúng đắn của Đảng chậm được cụ thể hóa vào tình 2 hình thực tế, chưa tạo ra được những chính sách đồng bộ đủ mạnh để gắn kết khoa học công nghệ với giáo dục đào tạo và sản xuất kinh doanh, phục vụ sự phát triển của đời sống xã hội. Đảng bộ, chính quyền các cấp có lúc, có nơi chưa thấy hết vai trò, vị trí của trí thức trong sự phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH), đặc biệt trong phát triển khoa học, công nghệ, giáo dục, văn hóa. Trong công tác quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng sử dụng, đãi ngộ đối với trí thức còn thiếu tính chiến lược, chưa được xem như là một bộ phận cấu thành của chiến lược con người, chiến lược phát triển KT - XH nên chưa tạo ra được một đội ngũ trí thức có cơ cấu đồng bộ, hợp lý đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH.
Sự quan tâm chỉ đạo đầu tư xây dựng các tổ chức của trí thức chưa đúng mức, cả về tổ chức cũng như kinh phí hoạt động… Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, các thế lực thù địch với chiến lược “diễn biến hòa bình” đang tăng cường các hoạt động chống phá cách mạng nước ta, phá hoại khối đoàn kết toàn dân, chia rẽ dân với Đảng, đặc biệt chúng tập trung lôi kéo, lợi dụng trí thức nhằm hạ thấp, làm lu mờ vai trò lãnh đạo của Đảng. Tình hình đó đòi hỏi chúng ta phải tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận nói chung và công tác vận động trí thức nói riêng. Ngày 03/6/2013, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, đã ra Nghị quyết số 25- NQ/TW về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”. Nghị quyết đã nhấn mạnh mục tiêu lớn nhất của công tác dân vận trong tình hình mới, tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận để củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, tăng cường xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Vận động trí thức là bộ phận trong công tác dân vận, đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức góp phần tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới là yêu cầu bức thiết. Do đó, tiếp tục đổi mới tư duy, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức đang đặt ra những vấn đề về lý luận và thực tiễn cần được nghiên cứu, làm sang tỏ thêm. Xuất phát từ cách nhìn nhận, tiếp cận đó; từ yêu cầu nhiệm vụ, thực tiễn công tác của bản thân, tác giả lựa chọn vấn đề: “Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ 3 chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước, tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.
Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức, đề xuất phương hướng, mục tiêu và giải pháp tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức đến năm 2025. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án - Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án, làm rõ kết quả nghiên cứu về trí thức và sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức; - Nghiên cứu cơ sở lý luận về đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức; - Đánh giá thực trạng đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức, nêu nguyên nhân và rút ra những kinh nghiệm; - Xác định mục tiêu, yêu cầu và đề xuất các giải pháp tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức đến năm 2025. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức trong giai đoạn hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức là một vấn đề rất rộng và phức tạp. Luận án chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận về trí thức và công tác vận động trí thức; nghiên cứu thực trạng đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức từ năm 1986 đến nay, trong đó tập trung chủ yếu vào giai đoạn 2000 đến 2013. Luận án cũng đề cập đến những nhân tố tác động và những yêu cầu đặt ra đối với đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức, từ đó đề ra những giải pháp để tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức trong giai đoạn từ nay đến năm 2025. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4.
Cơ sở lý luận Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về trí thức và công tác vận động trí thức. Phương pháp nghiên cứu Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -Lênin đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu lịch sử - logic, phân tích - tổng hợp, thống kê, so sánh, điều tra, khảo sát thực tiễn, phương pháp chuyên gia và phương pháp điều tra xã hội học.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Đổi mới sự lãnh đạo của đảng đối với công tác vận động trí thức (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/chinh-tri-hoc/ly-luan-chinh-tri/doi-moi-su-lanh-dao-cua-dang-doi-voi-cong-tac-van-dong-tri-thuc
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Đổi mới sự lãnh đạo của đảng đối với công tác vận động trí thức" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án nghiên cứu đổi mới sự lãnh đạo Đảng đối với vận động trí thức giai đoạn hiện nay, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả.
Luận án "Đổi mới sự lãnh đạo của đảng đối với công tác vận động trí thức" có bao nhiêu trang?
Luận án "Đổi mới sự lãnh đạo của đảng đối với công tác vận động trí thức" có 181 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Đổi mới sự lãnh đạo của đảng đối với công tác vận động trí thức" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.