Cơ sở thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò quần chúng nhân dân

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò quần chúng là nền tảng tư tưởng quan trọng trong lãnh đạo cách mạng, nhấn mạnh sức mạnh to lớn của nhân dân.

Tác giả

Luan An

Số trang

2.4K

Thời gian đọc

5 giờ 57 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

30 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
Bối cảnh lịch sử: Nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh về quần chúng
Số trang:
2,378 trang
Chuyên ngành:
Tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I.Bối cảnh lịch sử Nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh về quần chúng

Tư tưởng Hồ Chí Minh gắn liền lịch sử cách mạng Việt Nam. Đặc biệt, tư tưởng về vai trò quần chúng nhân dân hình thành trên cơ sở thực tiễn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Giai đoạn này đầy biến động. Xã hội Việt Nam trải qua nhiều chuyển biến sâu sắc. Giữa thế kỷ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng nghiêm trọng. Triều đình nhà Nguyễn suy vong. Chiến tranh nông dân bùng phát trên cả nước. Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam ngày 01/09/1858. Sự kiện này mở đầu một thời kỳ đen tối. Việt Nam đứng trước nguy cơ mất độc lập. Tình hình tạo tiền đề cho sự xuất hiện của một tư tưởng cách mạng mới. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò quần chúng nhân dân được nuôi dưỡng từ hoàn cảnh này. Nhận thức rõ thực trạng đất nước là yếu tố cốt lõi. Từ đó hình thành con đường giải phóng dân tộc đúng đắn.

1.1. Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Việt Nam trải qua thời kỳ khủng hoảng sâu sắc. Chế độ phong kiến suy yếu. Triều đình nhà Nguyễn bất lực. Thực dân Pháp tăng cường xâm lược. Tình hình chính trị, xã hội rối ren. Các cuộc nổi dậy của nông dân diễn ra liên tiếp. Nhưng chưa có lực lượng đủ mạnh dẫn dắt. Nhu cầu một đường lối cách mạng mới rất cấp thiết. Đó là bối cảnh lịch sử quan trọng. Nó thúc đẩy Hồ Chí Minh tìm tòi. Tư tưởng về quần chúng nhân dân bắt đầu hình thành.

1.2. Khủng hoảng xã hội dưới triều Nguyễn

Triều đình nhà Nguyễn đại diện cho chế độ phong kiến suy tàn. Không thể bảo vệ độc lập dân tộc. Ngược lại, họ yếu hèn, bất lực. Nhanh chóng nhượng bộ thực dân Pháp. Cuối cùng, đầu hàng. Dâng toàn bộ lãnh thổ Việt Nam cho giặc. Điều này tạo nên sự phẫn nộ trong nhân dân. Các cuộc đấu tranh tự phát bùng nổ. Nhưng thiếu sự lãnh đạo thống nhất. Khủng hoảng triều Nguyễn càng làm nổi bật sức mạnh tiềm ẩn của quần chúng. Đồng thời, cho thấy thiếu một đường lối cách mạng đúng đắn.

II.Chế độ phong kiến Hèn nhát bất lực trước thực dân Pháp

Giai cấp phong kiến cầm quyền đã thể hiện sự hèn nhát và bất lực. Họ không lãnh đạo nhân dân kháng chiến. Ngược lại, triều đình nhà Nguyễn nhanh chóng phân hóa. Dần nhượng bộ giặc. Cuối cùng, đầu hàng hoàn toàn. Bán rẻ độc lập dân tộc. Thái độ này tương phản rõ rệt. Nhân dân cả nước sôi nổi vùng dậy chống giặc. Ngay từ những ngày đầu. Thực dân Pháp xâm phạm bờ cõi. Phong trào kháng chiến của nhân dân dâng cao. Trong khi đó, đại phong kiến triều Nguyễn trở thành tay sai. Hành động này càng khẳng định sự suy đồi của chế độ. Nó tạo tiền đề cho một nhận thức mới. Về vai trò lãnh đạo và sức mạnh của quần chúng nhân dân. Bài học về sự thất bại của giai cấp thống trị là rất rõ ràng.

2.1. Triều đình nhà Nguyễn đầu hàng

Triều đình nhà Nguyễn ban đầu hoang mang, dao động. Sau đó nhanh chóng ngăn trở cuộc kháng chiến. Rồi chuyển sang phá hoại có hệ thống. Cuối cùng, hoàn toàn làm tay sai cho Pháp. Hiệp ước ô nhục ngày 6/6/1884 được ký kết. Phong kiến triều Nguyễn phản bội nhân dân. Bỏ rơi cuộc kháng chiến. Đầu hàng đế quốc. Thỏa hiệp với kẻ thù. Họ sợ mất ngôi vua hơn mất nước. Quyền lợi ích kỷ của giai cấp đặt lên trên. Không màng đến vận mệnh dân tộc. Sự kiện này là minh chứng lịch sử. Về sự bất lực, hèn nhát của giai cấp thống trị lúc bấy giờ. Nó đặt ra yêu cầu mới. Về một lực lượng lãnh đạo khác.

2.2. Sự phản bội quyền lợi dân tộc

Hành động đầu hàng của triều Nguyễn là sự phản bội. Phản bội quyền lợi thiêng liêng của dân tộc. Phản bội lòng yêu nước của nhân dân. Mặc dù Việt Nam là nước nghèo, lạc hậu. Nhưng có truyền thống yêu nước nồng nàn. Tinh thần đấu tranh kiên cường. Nhân dân ta đã phát huy truyền thống cha anh. Đứng dậy tập hợp quần chúng. Chống thực dân Pháp xâm lược. Bảo vệ độc lập. Nhưng triều đình đã đứng ngoài. Thậm chí chống lại. Điều này càng khắc sâu ý nghĩa. Về sự cần thiết của một lãnh đạo chân chính. Lãnh đạo phải đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu. Và dựa vào sức mạnh quần chúng.

III.Phong trào yêu nước Bài học tập hợp quần chúng nhân dân

Các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX tuy anh dũng. Nhưng cuối cùng đều thất bại. Phong trào Cần Vương (1885 – 1896) là một ví dụ. Nó phát triển rầm rộ khắp cả nước. Kéo dài gần hai thập kỷ. Dưới sự lãnh đạo của các sỹ phu yêu nước. Tuy nhiên, Cần Vương không tập hợp được quần chúng nông dân. Giai cấp địa chủ phong kiến phần lớn đầu hàng Pháp. Thậm chí áp bức bóc lột nhân dân. Điều này làm phong trào mất đi nền tảng. Các sỹ phu yêu nước giàu lòng căm thù giặc. Nhưng xuất thân từ giai cấp phong kiến đã mất vai trò lịch sử. Họ không còn tiêu biểu cho dân tộc. Sự thất bại này chỉ ra một bài học lớn. Muốn thành công, cần có đường lối đúng. Phải tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân. Đặc biệt là tầng lớp nông dân.

3.1. Phong trào Cần Vương và giới hạn

Phong trào Cần Vương bùng nổ mạnh mẽ. Kêu gọi vua giúp nước. Nhưng nó có những hạn chế cố hữu. Không tập hợp được rộng rãi quần chúng nông dân. Đây là lực lượng đông đảo nhất. Hầu hết giai cấp địa chủ phong kiến đã đầu hàng Pháp. Họ không còn là chỗ dựa. Ngược lại, còn bóc lột nông dân. Phong trào mang nặng tính chất phong kiến đã lỗi thời. Không thể tạo nên cao trào cách mạng. Không thể đánh đuổi đế quốc. Không thể lật đổ phong kiến tay sai. Cần Vương không đáp ứng được yêu cầu lịch sử.

3.2. Hạn chế của lãnh đạo sĩ phu

Các sỹ phu cuối thế kỷ XIX như Phan Đình Phùng, Nguyễn Xuân Ôn đều yêu nước. Họ căm thù giặc sâu sắc. Nhưng họ xuất thân từ giai cấp phong kiến. Điều kiện giai cấp và thời đại đã hạn chế họ. Họ vẫn phải dùng ngọn cờ phong kiến suy đồi. Ngọn cờ này không còn phù hợp. Không còn đại diện cho dân tộc. Do đó, phong trào ban đầu phát triển bùng bột. Sau đó dần trở nên rời rạc, lẻ tẻ. Cuối cùng tan rã. Không có khả năng giành độc lập. Cũng không mang lại ruộng đất cho nông dân. Điều này chứng tỏ sự khủng hoảng. Về đường lối và giai cấp lãnh đạo cách mạng.

IV.Khởi nghĩa Yên Thế Giới hạn phong kiến sức mạnh dân

Bên cạnh các phong trào Cần Vương, khởi nghĩa nông dân Yên Thế cũng là một ví dụ. Do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo (1885 – 1913). Khởi nghĩa này là cuộc đấu tranh tự phát của nông dân. Đạt đến đỉnh cao trong thời kỳ đó. Nó thể hiện tinh thần quật cường của quần chúng. Chống lại ách áp bức của thực dân và phong kiến. Tuy nhiên, khởi nghĩa Yên Thế cũng thất bại. Nguyên nhân chính là 'còn nặng cốt cách phong kiến'. Khởi nghĩa thiếu một đường lối rõ ràng. Vì thế không nhận được sự ủng hộ rộng rãi. Của đông đảo nhân dân cả nước. Mặc dù không đạt mục đích. Nhưng khởi nghĩa có ý nghĩa lớn. Nó khơi dậy lòng yêu nước. Thể hiện ý chí chống thực dân Pháp. Từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Nó cũng cho thấy sức mạnh tiềm tàng của quần chúng. Cần một đường lối lãnh đạo cách mạng tiến bộ.

4.1. Khởi nghĩa nông dân tự phát

Khởi nghĩa Yên Thế là phong trào nông dân tự phát. Bùng nổ mạnh mẽ. Đạt được những thắng lợi nhất định. Khởi nghĩa thể hiện tinh thần yêu nước. Tinh thần chống Pháp của tầng lớp nông dân. Họ trực tiếp chịu áp bức. Khởi nghĩa chứng minh sức mạnh của quần chúng. Khi họ vùng lên đấu tranh. Đây là một điểm sáng trong bức tranh u tối. Của các phong trào yêu nước thời kỳ này. Tuy nhiên, tính chất tự phát. Thiếu liên kết rộng lớn là điểm yếu. Nó không thể phát triển thành cuộc cách mạng toàn diện.

4.2. Hạn chế về đường lối lãnh đạo

Khởi nghĩa Yên Thế thất bại vì 'còn nặng cốt cách phong kiến'. Không có đường lối rõ ràng. Không có khả năng tập hợp lực lượng. Để tạo nên phong trào cách mạng lớn. Dẫn đến không có sự ủng hộ của đông đảo nhân dân. Các phong trào yêu nước, dù anh dũng đến đâu. Nếu thiếu đường lối cách mạng đúng đắn. Thiếu sự lãnh đạo khoa học. Sẽ khó đạt được thắng lợi cuối cùng. Điều này càng làm nổi bật nhu cầu. Về một lý luận và lãnh đạo tiên phong. Có khả năng khai thác triệt để sức mạnh của quần chúng nhân dân. Để giải phóng dân tộc.

V.Khủng hoảng lãnh đạo Nhu cầu cấp thiết về vai trò quần chúng

Sự thất bại của các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX. Bộc lộ tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Về sự lãnh đạo cách mạng. Các sỹ phu yêu nước bị hạn chế. Bởi điều kiện giai cấp và thời đại. Họ mang ngọn cờ phong kiến suy đồi. Không còn tiêu biểu cho dân tộc. Chế độ phong kiến không còn thích hợp. Ngay cả khi độc lập. Vì vậy, phong trào dần rời rạc, tan rã. Tuyệt nhiên không thể thành cao trào cách mạng. Không thể đánh đuổi đế quốc. Không thể lật đổ phong kiến tay sai. Không khôi phục được độc lập. Không mang lại ruộng đất cho nông dân. Thực dân Pháp nhận thấy sự kiên cường của dân tộc Việt Nam. Quần chúng nhân dân chưa bao giờ khuất phục. Nhưng vẫn thiếu một ngọn cờ lãnh đạo đúng đắn. Đây chính là nhu cầu cấp thiết. Đặt ra cho Hồ Chí Minh. Để Người tìm ra con đường mới. Dựa vào sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân. Để giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.

5.1. Tình trạng khủng hoảng lãnh đạo

Thất bại của Cần Vương và Yên Thế là minh chứng. Cho cuộc khủng hoảng nghiêm trọng trong lãnh đạo. Giai cấp phong kiến đã suy đồi. Không thể dẫn dắt cách mạng. Các sỹ phu yêu nước tuy có lòng. Nhưng hạn chế về tư tưởng. Không thể đưa ra đường lối phù hợp. Tình trạng này khiến dân tộc bế tắc. Dù quần chúng có tinh thần đấu tranh mạnh mẽ. Nhưng thiếu ngọn cờ hiệu triệu. Thiếu một tổ chức vững chắc. Tình hình đòi hỏi một sự thay đổi căn bản. Về phương pháp và lực lượng lãnh đạo.

5.2. Yêu cầu về đường lối mới

Các phong trào trước đó chưa đạt mục đích. Tuy nhiên, chúng khẳng định một thực tế. Thực dân Pháp đối mặt với dân tộc kiên cường. Dân tộc thống nhất với ý thức không suy yếu. Quần chúng nhân dân không hề khuất phục. Vấn đề là thiếu một đường lối cách mạng đúng đắn. Một lãnh đạo đủ sức tập hợp và dẫn dắt. Nhu cầu về một con đường cứu nước mới rất cấp thiết. Con đường này phải phát huy tối đa vai trò quần chúng. Phải giải quyết được mâu thuẫn dân tộc và giai cấp. Đây là bài học xương máu. Nó thúc đẩy Hồ Chí Minh tìm tòi và hình thành tư tưởng vĩ đại. Về việc dựa vào sức mạnh của nhân dân.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luan an tien si

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (2.4K trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

CƠ SỞ THỰC TIỄN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN Đặc điểm, điều kiện, yêu cầu lịch sử của cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Có thể thấy, cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Hồ Chí Minh gắn liền với hoàn cảnh và tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng của Người về vai trò của quần chúng nhân dân nói riêng được hình thành, phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. đó là thời kỳ có nhiều biến động, với những bước chuyển sâu sắc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Giữa thế kỷ XIX, chế độ phong kiến ở Việt Nam, do triều đình nhà Nguyễn đại diện, đang trong quá trình khủng hoảng trầm trọng và suy vong, biểu hiện cụ thể và tập trung là sự bộc phát kịch liệt của chiến tranh nông dân trên phạm vi cả nước.

Sau một quá trình điều tra, dòm ngó lâu dài và chuẩn bị ráo riết về mọi mặt, sáng ngày 1/9/1958, thực dân Pháp đã nổ súng công khai xâm lược Việt Nam. Trước sự xâm lược trắng trợn của thực dân Pháp, giai cấp phong kiến cầm quyền lúc đó có trách nhiệm phải lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cuộc kháng chiến để bảo vệ nền độc lập của dân tộc. Nhưng ngay từ đầu, giai cấp cầm quyền đó đã tỏ ra hèn nhát và bất lực, nhanh chóng phân hóa, từng bước nhượng bộ giặc, để cuối cùng đầu hàng, dâng toàn bộ lãnh thổ nước ta cho chúng. đối lập hẳn với thái độ của triều Nguyễn, nhân dân cả nước đã sôi nổi vùng dậy chống giặc ngay từ những ngày đầu khi chúng xâm phạm bờ cõi thiêng liêng của Tổ quốc.

Sau một thời kỳ dài, từ năm 1858 đến năm 1884, trong khi bè lũ đại phong kiến quý tộc triều Nguyễn từ thái độ hoang mang dao động buổi đầu rồi chuyển nhanh sang những hành động ngăn trở phá hoại có hệ thống cuộc kháng chiến, để cuối cùng hoàn toàn làm tay sai cho giặc, thì phong trào nhân dân kháng chiến vẫn mỗi ngày một dâng cao, trong đó yêu cầu kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến ngày càng trở nên cấp thiết và tất yếu. Với bản hiệp ước ô nhục được ký kết ngày 6/6/1884, phong kiến triều Nguyễn vì quyền lợi ích kỷ, thiển cận của giai cấp, sợ mất ngôi vua hơn là sợ mất nước, đã phản bội nhân dân, bỏ rơi cuộc kháng chiến, đầu hàng với đế quốc, thỏa hiệp với đế quốc. Việt Nam là một nước nghèo, lạc hậu về kinh tế nhưng vốn có truyền thống yêu nước nồng nàn, có tinh thần đấu tranh anh dũng, kiên cường chống giặc ngoại xâm. Với tinh thần đó, nhân dân ta đã phát huy truyền thống cha anh đứng dậy tập hợp quần chúng đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược bảo vệ nền độc lập nước nhà.

Phong trào chống Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương (1885 – 1896) dưới sự lãnh đạo của các sỹ phu yêu nước chống thực dân Pháp đã phát triển rầm rộ trong cả nước, kéo dài gần trọn 20 năm cuối thế kỷ XIX. Nhưng phong trào Cần Vương bị thất bại vì đã không tập hợp được quần chúng nông dân và vì giai cấp địa chủ phong kiến phần lớn đã đầu hàng thực dân Pháp, lại áp bức bóc lột nhân dân một cách thậm tệ. Những sỹ phu cuối thế kỷ XIX như Phan Đình Phùng, Nguyễn Xuân Ôn, Tống Duy Tân, Nguyễn Thiện Thuật, Ngô Quang Bích… tuy giàu lòng yêu nước, căm thù sâu sắc bọn Pháp xâm lược, đều xuất thân từ giai cấp phong kiến đã mất vai trò lịch sử. Cùng trong các thời kỳ đó, bên cạnh các phong trào do họ cầm đầu vẫn có các cuộc đấu tranh tự phát của nông dân với đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo (1885 – 1913), nhưng cuối cùng cũng bị thất bại, vì vẫn “còn nặng cốt cách phong kiến” và vì không có đường lối rõ ràng nên không có sự ủng hộ đông đảo của nhân dân cả nước.

Các phong trào chưa đạt được mục đích nhưng có ý nghĩa lớn lao trong việc khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần chống thực dân Pháp từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Kẻ thù mặc dù trên đà thắng thế vẫn phải kinh hoàng nhìn nhận một thực tế vô cùng nguy hiểm đối với chúng. đó là thực dân Pháp đang xâm lược một dân tộc kiên cường, gắn bó với lịch sử của riêng mình và thiết tha nền độc lập của mình. Thực dân Pháp phải đương đầu với một dân tộc thống nhất mà ý thức dân tộc không hề bị suy yếu, quần chúng nhân dân chưa bao giờ khuất phục trước kẻ thù xâm lược.

Sự thất bại của các phong trào yêu nước bộc lộ một tình trạng khủng hoảng trầm trọng về sự lãnh đạo. Những sỹ phu yêu nước chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX bị điều kiện giai cấp và thời đại hạn chế, nên khi dựng cờ cứu nước họ vẫn phải mang ngọn cờ phong kiến đã suy đồi, không còn tiêu biểu cho dân tộc. Một chế độ phong kiến – dù là độc lập, với những điều kiện lịch sử của Việt Nam lúc đó, không còn thích hợp nữa. Vì vậy, chỉ sau một thời kỳ phát triển bồng bột buổi đầu, phong trào đã dần dần trở nên rời rạc, lẻ tẻ và cuối cùng tan rã.

Nó tuyệt nhiên không có điều kiện mở rộng để phát triển thành một cao trào cách mạng sôi nổi, có khả năng đánh đuổi được bọn đế quốc xâm lược, lật đổ được bọn phong kiến tay sai để khôi phục nền độc lập của dân tộc và mang lại ruộng đất cho nông dân. Phong trào đấu tranh vũ trang của dân tộc ta vào cuối thế kỷ XIX thất bại đã kết thúc thời kỳ xâm lược và “bình định” của giặc Pháp ở Việt Nam. Vào đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp bắt tay ngay vào cuộc khai thác, bóc lột để biến Việt Nam thành thuộc địa bảo đảm siêu lợi nhuận cao nhất cho chúng. Đợt khai thác bóc lộc thuộc địa Việt Nam lần thứ nhất bắt đầu trên quy mô cả nước, với một tốc độ nhanh, có tính hệ thống, đã gây nhiều biến đổi mới cho xã hội Việt Nam về các mặt.

Một phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa dưới hình thái thực dân đã được du nhập vào nước ta; đồng thời quan hệ bóc lột phong kiến vẫn được duy trì ở nông thôn. Cơ cấu xã hội bắt đầu thay đổi, kéo theo luôn sự thay đổi ý thức xã hội, của đời sống con người. Đúng vào lúc đó, từ những năm đầu của thế kỷ XX, trào lưu tư tưởng tư sản từ ngoài dồn dập dội vào Việt Nam qua hai con đường: Nhật Bản và Trung Quốc. Từ sau Cách mạng Tân Hợi (1911) của Trung Quốc thì chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn cũng ảnh hưởng tới Việt Nam.

Việt Nam cũng là thuộc địa của Pháp nên thông qua các trường học, báo chí, tư tưởng cách mạng tư sản Pháp cũng được du nhập vào, tất nhiên một cách thiếu hệ thống và bị cắt xén, bị tước bỏ mất phần tích cực. Những điều kiện trong và ngoài của Việt Nam vào đầu thế kỷ XX cụ thể như vậy đã tác động mạnh mẽ đến tính chất cuộc đấu tranh cách mạng ngày càng quyết liệt giữa dân tộc ta với bè lũ đế quốc và tay sai. Trong hoàn cảnh mới, một tầng lớp sĩ phu mới với tấm lòng yêu nước lại cùng nhân dân cả nước lại cùng lên đường nhận lấy nhiệm vụ viết tiếp những trang sử vàng của dân tộc. Các phong trào Đông Du (1905 – 1908), Đông Kinh Nghĩa Thục (1907), vận động Duy Tân và chống thuế ở Trung Kỳ (1908) lần lượt diễn ra sôi nổi từ năm 1905 đến 1908 chứng tỏ phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam đã phát triển trở lại, nhưng theo những xu hướng mới.

Rõ ràng trong cuộc đấu tranh của nhân dân ta hồi đó, tuyệt đại đa số các xu hướng đã có những yếu tố độc lập, tích cực, dân chủ, nghĩa là muốn vượt ra ngoài khuôn khổ của ý thức hệ phong kiến để tiến lên phía trước. Tuy đã chuyển sang phạm trù mới, có tính chất tư sản, phong trào cách mạng của nhân dân Việt Nam đầu thế kỷ XX vẫn chưa đồng đều, mức độ tư sản giữa các phong trào không giống nhau. Bộ phận sĩ phu tiến bộ đầu thế kỷ vì vậy phân hóa theo hai xu hướng là bạo động và cải cách, tuy cả hai xu hướng đó đều có cơ sở chung là ý chí giành độc lập cho dân tộc, là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Trong hoàn cảnh một nước thuộc địa như Việt Nam ta dưới nanh vuốt của tư bản Pháp, tất nhiên xu hướng bạo động là duy nhất đúng.

Nhưng bạo động theo con đường của Phan Bội Châu, hy vọng quân phiệt Nhật Bản giúp đỡ để đánh đuổi đế quốc Pháp, lại là một điều rất nguy hiểm, chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Mặt khác, cũng trong hoàn cảnh Việt Nam là thuộc địa của đế quốc Pháp mà muốn “ỷ Pháp cầu tiến bộ” theo kiểu Phan Chu Trinh, đó cũng lại là một sai lầm lớn, một sự ngộ nhận tai hại về bản chất của kẻ thù, một ảo tưởng chính trị, “chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương”. Sự thật hiển nhiên là do điều kiện lịch sử hạn chế, các nhà lãnh đạo phong trào đầu thế kỷ XX đều chưa nhận rõ được kẻ thù, không phân biệt được thực dân Pháp với giai cấp công nhân và nhân dân lao động Pháp, chưa nhận rõ được nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là phải đánh đổ đế quốc Pháp giành độc lập dân tộc và đánh đổ giai cấp địa chủ phong kiến mang lại ruộng đất cho nông dân, chưa nhận rõ lực lượng cơ bản của cách mạng là công nhân và nông dân. Chính do những hạn chế của các phong trào như vậy mà kết quả sau cùng là chỉ sau một thời kỳ phát triển rầm rộ, sôi nổi, các phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, vận động Duy Tân, khởi nghĩa Yên Thế đều lần lượt bị kẻ thù dập tắt trong máu lửa, cũng như các hội cứu nước Duy Tân, Việt Nam Quang Phục, Nghĩa Hưng đều nối tiếp nhau tan rã trước sự đàn áp khủng bố man rợ của kẻ thù.

Điều này cho thấy, mấy chục năm đầu thế kỷ XX đã diễn ra một cuộc khủng hoảng sâu sắc nhất về đường lối cách mạng trong phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò quần chúng (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/chinh-tri-hoc/ly-luan-chinh-tri/co-so-thuc-tien-hinh-thanh-tu-tuong-ho-chi-minh-vai-tro-quan-chung

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò quần chúng" nghiên cứu về vấn đề gì?

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò quần chúng là nền tảng tư tưởng quan trọng trong lãnh đạo cách mạng, nhấn mạnh sức mạnh to lớn của nhân dân.

Luận án "Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò quần chúng" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò quần chúng" thuộc chuyên ngành Tư tưởng Hồ Chí Minh. Danh mục: Lý Luận Chính Trị.

Luận án "Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò quần chúng" có bao nhiêu trang?

Luận án "Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò quần chúng" có 2378 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò quần chúng" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter