Luận án TS: Trưng cầu ý dân - Kinh nghiệm quốc tế và vận dụng tại Việt Nam

Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về trưng cầu ý dân và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam. Luận án đề xuất các giải pháp dân chủ trong hoạch định chính sách.

Chuyên ngành

Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án tiến sĩ luật học

Năm xuất bản

Số trang

161

Thời gian đọc

25 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt nội dung

I. Tổng quan về trưng cầu ý dân

Trưng cầu ý dân là một hình thức dân chủ trực tiếp, cho phép nhân dân tham gia vào quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Việc trưng cầu ý dân được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới, với các hình thức và quy trình khác nhau. Tại Việt Nam, trưng cầu ý dân cũng đã được thực hiện thông qua các hình thức khác nhau, nhưng vẫn còn hạn chế.

1.1. Khái niệm trưng cầu ý dân

Trưng cầu ý dân là việc nhân dân tham gia vào quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước thông qua việc bỏ phiếu hoặc các hình thức khác.

1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của trưng cầu ý dân

Trưng cầu ý dân đã được thực hiện từ thời cổ đại, nhưng hình thức và quy trình đã thay đổi qua các thời kỳ lịch sử.

II. Kinh nghiệm quốc tế về trưng cầu ý dân

Nhiều nước trên thế giới đã thực hiện trưng cầu ý dân với các hình thức và quy trình khác nhau. Một số nước như Thụy Sĩ, Mỹ, Úc đã thực hiện trưng cầu ý dân ở cấp quốc gia và địa phương.

2.1. Trưng cầu ý dân ở Thụy Sĩ

Thụy Sĩ là một trong những nước tiên phong trong việc thực hiện trưng cầu ý dân. Nhân dân Thụy Sĩ đã thực hiện trưng cầu ý dân thông qua các hình thức bỏ phiếu và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.

2.2. Trưng cầu ý dân ở Mỹ

Mỹ cũng đã thực hiện trưng cầu ý dân ở cấp quốc gia và địa phương. Nhân dân Mỹ đã tham gia vào quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước thông qua việc bỏ phiếu và các hình thức khác.

III. Vận dụng kinh nghiệm quốc tế vào Việt Nam

Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm từ các nước trên thế giới về trưng cầu ý dân. Việc vận dụng kinh nghiệm quốc tế vào Việt Nam sẽ giúp nâng cao hiệu quả của trưng cầu ý dân và tăng cường tham gia của người dân vào quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.

3.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về trưng cầu ý dân

Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có quan điểm rõ ràng về việc tăng cường dân chủ trực tiếp và trưng cầu ý dân.

3.2. Luật Trưng cầu ý dân của Việt Nam

Luật Trưng cầu ý dân của Việt Nam đã được ban hành để quy định về việc trưng cầu ý dân. Luật này sẽ giúp tăng cường tham gia của người dân vào quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.

IV. Thách thức và giải pháp

Việc vận dụng kinh nghiệm quốc tế vào Việt Nam sẽ gặp một số thách thức. Để giải quyết các thách thức này, cần có các giải pháp phù hợp.

4.1. Thách thức trong việc vận dụng kinh nghiệm quốc tế

Việc vận dụng kinh nghiệm quốc tế vào Việt Nam sẽ gặp một số thách thức, bao gồm khác biệt về hệ thống chính trị, văn hóa và pháp luật.

4.2. Giải pháp tăng cường tham gia của người dân

Để tăng cường tham gia của người dân vào quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, cần có các giải pháp phù hợp, bao gồm tăng cường giáo dục và nhận thức về quyền và nghĩa vụ của người dân.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Trưng cầu ý dân kinh nghiệm của các nước và vận dụng ở việt nam la tiến sĩ

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (161 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRƯƠNG CỘNG HÒA TRƯNG CẦU Ý DÂN: KINH NGHIỆM CÁC NƯỚC VÀ VẬN DỤNG Ở VIỆT NAM Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Mã số: 62.02 LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Ngọc Vượng Hà Nội, 2017 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các tư liệu và số liệu nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng và tôi xin chịu trách nhiệm về tất cả những tư liệu và số liệu đó. Những kết luận khoa học của luận án này chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Hà Nội, tháng 9 năm 2017 Tác giả luận án Trương Cộng Hòa DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT GS.TS Giáo sư, Tiến sĩ KHXH Khoa học xã hội NQ Nghị quyết Nxb Nhà xuất bản PGS.TS Phó Giáo sư, Tiến sĩ SL Sắc lệnh TCYD Trưng cầu ý dân TP.

HCM Thành phố Hồ Chí Minh TSKH Tiến sĩ khoa học TW Trung ương UBTVQH Ủy ban Thường vụ Quốc hội MỤC LỤC MỞ ĐẦU. 1 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam.

Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận án. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu. 29 Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRƯNG CẦU Ý DÂN. Khái niệm trưng cầu ý dân.

Trưng cầu ý dân và các hình thức dân chủ trực tiếp khác. Quá trình hình thành và phát triển của chế định về trưng cầu ý dân ở một số nước trên thế giới. Phân loại trưng cầu ý dân. 69 Chương 3 KINH NGHIỆM TRƯNG CẦU Ý DÂN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI.

Sự điều chỉnh của pháp luật về trưng cầu ý dân ở một số quốc gia trên thế giới. Thực tiễn tổ chức trưng cầu ý dân ở một số quốc gia trên thế giới. Bài học kinh nghiệm của các nước trên thế giới về trưng cầu ý dân. 115 Chương 4 VẬN DỤNG KINH NGHIỆM TRƯNG CẦU Ý DÂN CỦA CÁC NƯỚC VÀO THỰC HIỆN LUẬT TRƯNG CẦU Ý DÂN CỦA VIỆT NAM.

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về trưng cầu ý dân. Trưng cầu ý dân qua các Hiến pháp Việt Nam. Luật Trưng cầu ý dân của Việt Nam 2015. Tổ chức thực hiện Luật Trưng cầu ý dân .151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.

Tính cấp thiết của đề tài Trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền kiểu mới thì nhân dân là người có địa vị cao nhất, dân là chủ, còn Đảng và Chính phủ không chỉ lãnh đạo nhân dân mà còn phải chịu trách nhiệm trước nhân dân, làm đầy tớ của nhân dân, lấy dân làm gốc. Điều này là vấn đề căn cốt nhất của dân chủ. Người nói: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch một nước đều là phân công làm đày tớ cho dân” [28, T6, tr.515] và “… làm cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm” [28, T.

Trong sự nghiệp xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, việc tăng cường, phát huy dân chủ trực tiếp là một trong những vấn đề cấp thiết. Đây cũng là một trong các nội dung của Hiến pháp sửa đổi năm 2013 của Nhà nước ta. Trưng cầu ý dân, biểu tình, trực tiếp đối thoại với quan chức nhà nước…là những cách thức mở rộng dân chủ trực tiếp. Hiện nay chúng ta có đủ điều kiện để thực hiện dân chủ theo hướng này.

Ở nước ta, vẫn thực hiện cách thức sử dụng quyền lực nhà nước của dân thông qua cơ chế dân chủ trực tiếp và cơ chế dân chủ đại diện là Quốc hội và Hội đồng Nhân dân. Tuy nhiên, cách thức thực hiện dân chủ trực tiếp chỉ thể hiện qua bầu cử là quá hạn chế, còn cách thức dân chủ đại diện thì một số việc số việc quan trọng có lấy ý kiến người dân nhưng vẫn chỉ mang tính tham khảo. Trong bối cảnh mới của đất nước và thế giới hiện nay, cần sửa đổi, bổ sung cách thức sử dụng quyền lực Nhà nước của dân theo hướng mở rộng hơn, thông qua cơ chế dân chủ trực tiếp. Về bản chất, Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân, do vậy, ngoài hình thức sử dụng quyền lực nhà nước theo cơ chế dân chủ đại diện thông 1 qua các cơ quan nhà nước thì nhân dân có thể trực tiếp thực hiện quyền làm chủ thông qua việc “phúc quyết” hoặc “trưng cầu ý dân” đối với những vấn đề lớn, hệ trọng của đất nước.

Nếu nhân dân chỉ được sử dụng quyền lực nhà nước thông qua bộ máy nhà nước là dân chủ đại diện thì hình thức dân chủ trực tiếp bị ảnh hưởng, quyền làm chủ của nhân dân bị hạn chế. Do đó, việc tạo cơ sở lý luận để vận dụng đưa vào bản hiến pháp mới hoặc luật hóa chế định dân chủ trực tiếp là cần thiết để cụ thể hóa quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Vì trong cơ chế nhà nước pháp quyền, quyền lực nhà nước thuộc về ai thì chủ thể đó có quyền quyết định, do vậy việc phúc quyết hiến pháp hay quyết định những vấn đề hệ trọng liên quan tới lợi ích cơ bản và vận mệnh quốc gia phải do nhân dân quyết định thông qua trưng cầu ý dân. Trên cơ sở tiếp thu những giá trị tiến bộ của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đổi mới tư duy, cải cách kinh tế và dần dần cải cách về chính trị, lựa chọn con đường đi dựa trên những giá trị phổ cập của văn minh nhân loại là kinh tế thị trường, chính trị và pháp quyền dân chủ theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đây không chỉ là sự lựa chọn sáng suốt mà còn là lựa chọn sống còn trong bối cảnh kinh tế và chính trị thế giới đầy biến động như hiện nay. Theo đó, Đảng ta khẳng định phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ xã hội mới, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới, là một trong những nhiệm vụ lâu dài và trọng yếu của nước ta. Điều 1 Hiến pháp năm 1946 đã khẳng định rõ: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam…”.

Điều 32 - Hiến pháp 1946 cũng quy định: “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết…”. Thực chất đó chính là hình thức trưng cầu ý dân, một hình thức dân chủ trực tiếp. Chế định TCYD đã được thể hiện trong các bản Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001), Hiến pháp sửa 2 đổi năm 2013 Điều thứ 21 - Hiến pháp năm 1946 quy định: "Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, theo Điều thứ 32 và 70". Hiến pháp 1959 quy định tại Khoản 5 - Điều 53 - Quyền hạn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, có ghi nhận thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội là: “Quyết định việc trưng cầu ý kiến nhân dân”.

Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) quy định tại Điều 53: "Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân", và tại Khoản 14 - Điều 84 quy định Quốc hội có quyền: “Quyết định việc trưng cầu ý dân”. Hiến pháp sửa đổi năm 2013 quy định về TCYD tại các Điều 29, khoản 15 Điều 70, khoản 13 Điều 74, khoản 4 Điều 120, đồng thời quy định về quyền dân chủ trực tiếp tại khoản 1 Điều 2 và Điều 6. Điều 70 quy định: “Quốc hội quyết định trưng cầu ý dân”; Điều 74 quy định: “Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn tổ chức TCYD theo quyết định của Quốc hội”. Năm 2015 Quốc hội nước ta đã thông qua Luật Trưng cầu ý dân, sau một thời gian dài, khoảng 10 năm chuẩn bị, soạn thảo.

Như vậy, cho đến nay, chúng ta đã có một văn bản pháp luật, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp Việt Nam từ năm 1946 đến nay. Tuy nhiên, TCYD vẫn còn là vấn đề mới mẻ với nhân dân, ngay cả đối với những người làm công tác pháp luật. Do đó, đứng trước xu hướng dân chủ hóa đời sống xã hội và yêu cầu mở rộng dân chủ trực tiếp, và trước yêu cầu tổ chức thực hiện Luật trưng cầu ý dân hiện nay, việc nghiên cứu kinh nghiệm về TCYD ở các nước trên thế giới từ đó định hướng việc vận dụng chế định TCYD ở Việt Nam một cách phù hợp là cần thiết. Như vậy, cần phải có một công trình nghiên cứu về kinh nghiệm của các nước trong việc thực hiện chế định này để 3 tạo ra cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn khả dĩ có thể vận dụng trog việc thực hiện Luật Trưng cầu ý dân của Việt Nam.

Điều này là lý do chính để chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Trưng cầu ý dân: Kinh nghiệm của các nước và vận dụng ở Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sỹ chuyên ngành Luật Hiến pháp, mã số 62 38 10 01. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2. Mục đích nghiên cứu của Luận án Mục đích nghiên cứu của đề tài: “Trung cầu ý dân: Kinh nghiệm các nước và vận dụng ở Việt Nam” là nhằm nghiên cứu cả phương diện lý luận và thực tiễn về TCYD và kinh nghiệm thực hiện chế định TCYD ở các nước trên thế giới, qua đó hình thành các vấn đề lý luận cơ bản về trưng cầu ý dân, xây dựng luận cứ khoa học cho việc thực hiện Luật Trưng cầu ý dân ở Việt Nam, từ đó, đề xuất một số kiến nghị về khả năng vận dụng chế định TCYD ở Việt Nam thông qua kinh nghiệm các nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Trưng cầu ý dân: Kinh nghiệm quốc tế và vận dụng ở Việt Nam" nghiên cứu về vấn đề gì?

Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về trưng cầu ý dân và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam. Luận án đề xuất các giải pháp dân chủ trong hoạch định chính sách.

Luận án "Trưng cầu ý dân: Kinh nghiệm quốc tế và vận dụng ở Việt Nam" được bảo vệ tại trường nào?

Luận án này được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội. Năm bảo vệ: 2017.

Luận án "Trưng cầu ý dân: Kinh nghiệm quốc tế và vận dụng ở Việt Nam" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Trưng cầu ý dân: Kinh nghiệm quốc tế và vận dụng ở Việt Nam" thuộc chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính. Danh mục: Chính Sách Công.

Luận án "Trưng cầu ý dân: Kinh nghiệm quốc tế và vận dụng ở Việt Nam" có bao nhiêu trang?

Luận án "Trưng cầu ý dân: Kinh nghiệm quốc tế và vận dụng ở Việt Nam" có 161 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Trưng cầu ý dân: Kinh nghiệm quốc tế và vận dụng ở Việt Nam" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter