Luận án: Đánh giá vai trò của xét nghiệm PCA3 trong chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt
Xét nghiệm PCA3 đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán sớm ung thư tuyến tiền liệt nhờ độ đặc hiệu cao, giảm thiểu sinh thiết không cần thiết.
Số trang
150
Thời gian đọc
23 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
40 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Thực trạng ung thư tuyến tiền liệt và hạn chế PSA
- Số trang:
- 150 trang
- Chuyên ngành:
- Y học
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Thực trạng ung thư tuyến tiền liệt và hạn chế PSA
Ung thư tuyến tiền liệt là bệnh lý ác tính phổ biến hàng đầu ở nam giới toàn cầu. Tỷ lệ mắc bệnh và tử vong đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng. Sự gia tăng tuổi thọ trung bình làm tăng số lượng ca bệnh mới tại châu Á và Việt Nam. Diễn tiến bệnh rất đa dạng, từ phát triển âm thầm đến xâm lấn và di căn nguy hiểm. Phương pháp tầm soát truyền thống dựa chủ yếu vào xét nghiệm PSA toàn phần trong huyết thanh. Tuy nhiên, phương pháp này tồn tại nhiều bất cập lớn về tính chính xác. Việc chỉ định sinh thiết thiếu chọn lọc dẫn đến nguy cơ chẩn đoán quá mức. Nhu cầu cấp bách hiện nay là tìm kiếm công cụ chẩn đoán chuyên biệt hơn.
1.1. Gánh nặng bệnh lý và thách thức chẩn đoán sớm
Ung thư tuyến tiền liệt đứng hàng thứ hai về tỷ lệ mắc và thứ năm về tỷ lệ tử vong do ung thư ở nam giới. Tại Việt Nam, số ca mắc mới ghi nhận vào năm 2020 lên tới 22.000 người. Đa số bệnh nhân có tiến triển bệnh rất chậm và có thể sống nhiều năm mà không bị ảnh hưởng. Một số trường hợp có diễn tiến bệnh nhanh, xâm lấn vỏ bao và di căn xa đe dọa tính mạng. Thách thức lớn nhất đối với các bác sĩ lâm sàng là xác định đúng thời điểm can thiệp. Việc chọn lựa chính xác đối tượng bệnh nhân cần thực hiện sinh thiết đóng vai trò quyết định.
1.2. Hạn chế về độ đặc hiệu của xét nghiệm PSA máu
Xét nghiệm PSA toàn phần trong máu đã được áp dụng rộng rãi từ đầu thập niên 1990 để tầm soát sớm. Nồng độ kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt thường tăng từ 5 đến 10 năm trước khi xuất hiện triệu chứng lâm sàng. Dù giúp giảm tỷ lệ tử vong, xét nghiệm PSA có độ đặc hiệu tương đối thấp. Kết quả PSA máu dễ bị ảnh hưởng bởi viêm tuyến tiền liệt, nhiễm khuẩn niệu, tác động cơ học kéo dài hoặc xuất tinh trong vòng 48 giờ. Tỷ lệ chẩn đoán chính xác của xét nghiệm PSA chỉ đạt khoảng 40%. Độ đặc hiệu của xét nghiệm này tại ngưỡng 4 ng/ml chỉ đạt 30,8%. Tình trạng dương tính giả khiến nhiều người bệnh phải chịu đựng các can thiệp xâm lấn không cần thiết.
II. Xét nghiệm PCA3 trong chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt
Sự phát triển của sinh học phân tử đã mở ra bước đột phá mới với xét nghiệm PCA3. Đây là phương pháp xét nghiệm không xâm lấn thông qua mẫu nước tiểu thu thập sau kích thích tuyến tiền liệt. Xét nghiệm giúp đánh giá sự biểu hiện của gen đặc hiệu ung thư ở cấp độ phân tử. Chỉ số thu được cung cấp bằng chứng rõ ràng về nguy cơ ác tính của các tế bào biểu mô. Nhờ tính đặc hiệu cao, phương pháp này khắc phục hiệu quả các nhược điểm của xét nghiệm máu thông thường. Kỹ thuật đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê duyệt chính thức từ tháng 11 năm 2007.
2.1. Nguồn gốc gen và kháng nguyên ung thư tuyến tiền liệt 3
Gen kháng nguyên ung thư tuyến tiền liệt 3 (PCA3 hoặc DD3) được phát hiện lần đầu vào năm 1999 bởi tác giả Bussemakers. Gen này biểu hiện biểu mô đặc hiệu và tăng sinh vượt trội trong các mô ung thư so với mô lành tính. Mức độ biểu hiện mRNA của gen PCA3 trong tế bào ung thư cao hơn rất nhiều lần so với mô bình thường. Điểm đặc biệt là nồng độ PCA3 không bị thay đổi bởi thể tích tuyến hay các tình trạng viêm nhiễm lành tính. Sự hiện diện của phân tử mRNA này trong nước tiểu là dấu ấn sinh học có giá trị vượt trội. Xét nghiệm nước tiểu PCA3 giúp phát hiện sớm tổn thương ác tính ngay từ giai đoạn đầu.
2.2. Ý nghĩa lâm sàng của chỉ số PCA3 score
Chỉ số PCA3 score được tính toán dựa trên định lượng mRNA PCA3 tương quan với mRNA PSA trong nước tiểu. Điểm số định lượng này tương quan trực tiếp với xác suất phát hiện ung thư khi thực hiện can thiệp mô bệnh học. Điểm số càng cao thì nguy cơ xuất hiện khối u ác tính càng lớn. Chỉ số PCA3 score độc lập hoàn toàn với nồng độ PSA trong máu và thể tích tuyến tiền liệt. Đây là công cụ hữu hiệu hỗ trợ bác sĩ phân tầng nguy cơ cho từng cá thể. Phương pháp mang lại độ tin cậy vượt trội trong các quyết định điều trị lâm sàng.
III. Xét nghiệm nước tiểu PCA3 hỗ trợ quyết định sinh thiết
Sinh thiết là tiêu chuẩn vàng để xác định bệnh nhưng tiềm ẩn nhiều biến chứng như chảy máu và nhiễm khuẩn. Xét nghiệm nước tiểu PCA3 đóng vai trò then chốt trong việc định hướng chỉ định thủ thuật này. Bác sĩ sử dụng kết quả xét nghiệm để chọn lọc bệnh nhân có nguy cơ thực sự cao. Điều này giúp tối ưu hóa hiệu quả chẩn đoán và giảm bớt gánh nặng tâm lý cho người bệnh. Phương pháp giúp hạn chế tối đa các ca can thiệp không cần thiết mà vẫn không bỏ sót bệnh lý nguy hiểm. Việc áp dụng đúng thời điểm mang lại lợi ích kinh tế và sức khỏe rõ rệt.
3.1. Giảm thiểu nguy cơ sinh thiết tuyến tiền liệt quá mức
Việc dựa vào nồng độ PSA máu đơn thuần khiến nhiều nam giới phải sinh thiết tuyến tiền liệt dù chỉ mắc bệnh lý lành tính. Thủ thuật sinh thiết tiềm ẩn nguy cơ đau đớn, chảy máu, bí tiểu và nhiễm trùng đường niệu. Xét nghiệm nước tiểu PCA3 với ngưỡng cắt phù hợp giúp loại trừ đáng kể các trường hợp can thiệp không cần thiết. Người có chỉ số PCA3 thấp có thể trì hoãn thủ thuật xâm lấn một cách an toàn. Nhờ đó, chất lượng sống của bệnh nhân được bảo vệ tối đa và chi phí y tế điều trị quá mức được cắt giảm hiệu quả.
3.2. Hỗ trợ quyết định sinh thiết lại ở bệnh nhân PSA cao
Nhiều bệnh nhân có nồng độ PSA toàn phần liên tục tăng cao dù kết quả sinh thiết lần đầu âm tính. Tình trạng này đặt ra bài toán khó về việc có nên tiến hành sinh thiết lặp lại hay không. Xét nghiệm PCA3 cung cấp dữ liệu độc lập giúp giải quyết băn khoăn lâm sàng này. Nếu chỉ số PCA3 score tiếp tục ở mức cao, chỉ định sinh thiết lại là bắt buộc để tìm kiếm tổn thương ác tính bị bỏ sót. Ngược lại, điểm số PCA3 thấp cho phép bác sĩ theo dõi định kỳ mà không cần can thiệp mô học thêm lần nữa.
IV. Độ nhạy và độ đặc hiệu xét nghiệm PCA3 so với các dấu ấn
Độ chính xác của các công cụ tầm soát là tiêu chí hàng đầu trong thực hành niệu khoa hiện đại. Độ nhạy và độ đặc hiệu xét nghiệm PCA3 đã được kiểm chứng qua nhiều thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn. So với các dấu ấn truyền thống, PCA3 thể hiện ưu thế rõ rệt trong việc phân loại tổn thương ác tính. Phương pháp hỗ trợ đắc lực cho công tác chẩn đoán phân biệt các bệnh lý tuyến tiền liệt phức tạp. Khi kết hợp với các kỹ thuật thăm khám lâm sàng, độ tin cậy của chẩn đoán được nâng lên mức tối đa.
4.1. So sánh độ nhạy và độ đặc hiệu xét nghiệm PCA3
Độ đặc hiệu của xét nghiệm PSA tự do chỉ dao động trong khoảng từ 6% đến 18%. Các chỉ số khác như PHI hay 4Kscore đạt độ đặc hiệu khoảng 36%. Trong khi đó, độ đặc hiệu của xét nghiệm PCA3 đạt tới 52%, vượt trội so với các xét nghiệm dấu ấn sinh học khác. Độ nhạy và độ đặc hiệu xét nghiệm PCA3 giữ được tính ổn định cao trong nhiều nhóm đối tượng nguy cơ. Sự vượt trội này giúp giảm bớt tỷ lệ chẩn đoán dương tính giả trong tầm soát ban đầu. Xét nghiệm mang lại giá trị tiên lượng chính xác cho các bác sĩ điều trị.
4.2. Chẩn đoán phân biệt u xơ tuyến tiền liệt và ung thư
U xơ tuyến tiền liệt và viêm tuyến thường làm tăng nồng độ PSA trong máu, gây nhầm lẫn nghiêm trọng trong chẩn đoán. Xét nghiệm PCA3 không bị ảnh hưởng bởi kích thước u xơ hay mức độ viêm mô đệm lành tính. Do đó, xét nghiệm này trở thành công cụ quan trọng trong chẩn đoán phân biệt u xơ tuyến tiền liệt với khối u ác tính. Việc phân định chính xác giúp xây dựng phác đồ điều trị nội khoa hoặc ngoại khoa phù hợp. Bệnh nhân tránh được các can thiệp sai lệch và bảo tồn chức năng sinh lý tốt hơn.
4.3. Kết hợp thăm khám trực tràng bằng ngón tay DRE
Quy trình lấy mẫu nước tiểu xét nghiệm PCA3 được thực hiện ngay sau khi thăm khám trực tràng bằng ngón tay DRE. Bác sĩ xoa bóp nhẹ nhàng tuyến tiền liệt nhằm giải phóng các tế bào biểu mô mang mRNA vào niệu đạo. Thủ thuật khám trực tràng DRE truyền thống có tỷ lệ chẩn đoán từ 41% đến 46%. Khi kết hợp kết quả thăm khám trực tràng bằng ngón tay DRE cùng chỉ số PCA3 score và PSA toàn phần, độ chính xác tổng thể tăng lên rõ rệt. Mô hình dự đoán phối hợp này tạo nên chiến lược chẩn đoán toàn diện và chuẩn xác.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (150 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộ1 MỞ ĐẦU Ung thƣ tuyến tiền liệt (UTTTL) là loại ung thƣ thƣờng gặp thứ hai ở nam giới trên toàn thế giới và là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ năm theo số liệu năm 2020 [54]. Ở Mỹ, ung thƣ tuyến tiền liệt thƣờng gặp nhất và tỉ lệ tử vong chiếm hàng thứ năm ở nam giới [54]. Ngƣời châu Á, ngƣời Mỹ gốc Á và ngƣời Mỹ có nguy cơ mắc bệnh thấp nhất [67]. Tuy tỉ lệ UTTTL ở các nƣớc châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng không cao nhƣng tỉ lệ bệnh ngày càng gia tăng trong dân số do tuổi thọ ngày càng tăng.
Ở Việt Nam, theo số liệu năm 1999, tỉ lệ mắc bệnh là 1,3 - 2,3/100. Đến năm 2020, tỉ lệ mắc bệnh là 22.000 ngƣời và đứng hàng thứ năm trong ung thƣ của nam giới [54]. Đây là một bệnh lý rất khó dự đoán với tỉ lệ tiến triển bệnh từ rất chậm cho đến rất nhanh [15]. Hầu hết bệnh nhân có diễn tiến bệnh rất chậm, có thể sống nhiều năm mà không bị ảnh hƣởng của bệnh, thậm chí có thể chết do các nguyên nhân bệnh lý khác [15], nguy cơ tử vong do UTTTL chỉ có 2.
Một số bệnh nhân có diễn tiến bệnh nhanh, ung thƣ xâm lấn vỏ bao, di căn, thậm chí tử vong. Vì vậy một thử thách trong việc chẩn đoán là quyết định thời điểm và chọn lựa bệnh nhân để sinh thiết TTL. Xét nghiệm PSA toàn phần trong máu tăng ở bệnh nhân có UTTTL đƣợc phát hiện 5-10 năm trƣớc khi có triệu chứng lâm sàng. Việc sử dụng PSA để tầm soát bệnh đã giúp phát hiện bệnh sớm, làm giảm tỉ lệ UTTTL tiến triển xa, giảm tỉ lệ tử vong do UTTTL và cải thiện chất lƣợng cuộc sống [14].
Tuy nhiên độ đặc hiệu của xét nghiệm này không cao do ảnh hƣởng bởi nhiều yếu tố bệnh lý khác nhƣ viêm tuyến tiền liệt, nhiễm khuẩn niệu, tác động cơ học kéo dài trên tuyến tiền liệt, hay xuất tinh trong vòng 48 giờ. Theo nhiều nghiên cứu trên thế giới tỉ lệ chẩn đoán UTTTL của xét nghiệm PSA là 2 khoảng 40% và của thủ thuật khám TT là 41-46% [51]. Theo số liệu của bệnh viện Bình Dân năm 2009, độ đặc hiệu của xét nghiệm PSA là 30,8% với ngƣỡng 4ng/ml [1]. Chi phí cho việc chẩn đoán quá mức cũng nhƣ những tổn hại liên quan đến điều trị quá sớm [32] đã đặt ra một nhu cầu là phải có một xét nghiệm tầm soát UTTTL với độ đặc hiệu cao hơn xét nghiệm PSA.
Nhiều chất đánh dấu ung thƣ đã đƣợc nghiên cứu trên thế giới để tăng tính chính xác trong chẩn đoán ung thƣ. Theo thống kê, độ đặc hiệu của PSA tự do là 6-18%, của PHI và 4Kscore là 36% và độ đặc hiệu của PCA3 là 52% [42]. Nhƣ vậy, so với các chất đánh dấu ung thƣ khác, PCA3 có vai trò khá tốt giúp tăng tính chính xác trong chẩn đoán ung thƣ tuyến tiền liệt. Năm 1999, tác giả Bussemakers đã báo cáo về sự tồn tại của gen PCA3 (hay DD3), gen này hiện diện rất nhiều trong UTTTL so với mô lành tính [23].
Từ đó xét nghiệm đo điểm số PCA3 thông qua mRNA trong nƣớc tiểu đã đƣợc phát triển [43], [75]. Vai trò của xét nghiệm PCA3 giúp quyết định sinh thiết tuyến tiền liệt lần đầu và sinh thiết lại ở bệnh nhân có PSA toàn phần cao hay có các yếu tố nguy cơ khác. Năm 2006, xét nghiệm PCA3 trong nƣớc tiểu (PROGENSA) đã đƣợc sử dụng trên thị trƣờng và đƣợc FDA công nhận vào tháng 11/2007. Tại Việt Nam cho đến nay vẫn chƣa có báo cáo nào đánh giá về vai trò của xét nghiệm PCA3 trong chẩn đoán ung thƣ tuyến tiền liệt và khả năng thay thế hoặc hỗ trợ của xét nghiệm PCA3 so với xét nghiệm PSA toàn phần trong máu.
Một trong những mục tiêu của việc tầm soát ung thƣ tuyến tiền liệt là tránh bỏ sót cũng nhƣ tránh chẩn đoán quá mức. Trƣớc nhu cầu cấp thiết phải có một xét nghiệm tầm soát đặc hiệu hơn, chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu “Đánh giá vai trò của xét nghiệm PCA3 trong chẩn đoán ung thƣ tuyến tiền liệt”. 3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Đánh giá mức độ chính xác của xét nghiệm PCA3 trong nƣớc tiểu để quyết định sinh thiết trong chẩn đoán ung thƣ tuyến tiền liệt? MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát: Xác định giá trị của xét nghiệm PCA3 trong nƣớc tiểu để quyết định sinh thiết trong chẩn đoán ung thƣ tuyến tiền liệt. Mục tiêu chuyên biệt: 1.
So sánh độ đặc hiệu của xét nghiệm PCA3/nƣớc tiểu với PSA/máu. Xây dựng mô hình dự đoán ung thƣ tuyến tiền liệt của PCA3, PSA và các yếu tố phối hợp. TẦM SOÁT UNG THƢ TUYẾN TIỀN LIỆT Sự tăng sản xuất PSA đƣợc phát hiện ở bệnh nhân UTTTL với nồng độ PSA tăng trƣớc khi có diễn tiến lâm sàng 5-10 năm [32]. Chƣơng trình tầm soát sử dụng xét nghiệm PSA toàn phần đã đƣợc áp dụng từ đầu những năm 1990.
Chƣơng trình đã góp phần làm giảm tỉ lệ UTTTL tiến triển, cải thiện chất lƣợng cuộc sống, và giảm tỉ lệ tử vong do UTTTL nhờ vào khả năng phát hiện bệnh sớm [14]. Theo thời gian, mối quan tâm của các nhà lâm sàng lại hƣớng về kết quả tầm soát PSA dƣơng tính giả (chẩn đoán quá mức) và âm tính giả (chẩn đoán sót). Bệnh nhân có kết quả tầm soát dƣơng tính giả phải chịu một hay nhiều lần sinh thiết, do đó tăng nguy cơ gặp các tác dụng phụ từ thủ thuật sinh thiết. Hiện nay có nhiều tranh cãi giữa lợi ích và tác hại của việc tầm soát UTTTL bằng xét nghiệm PSA toàn phần.
Tỉ lệ tử vong do UTTTL đƣợc ghi nhận giảm 40% sau khi có chƣơng trình tầm soát từ năm 1991 đến năm 2007 [21], [66]. Tuy nhiên không thể biết đƣợc sự giảm tỉ lệ tử vong này là do chƣơng trình tầm soát mang lại hay do những cải tiến trong điều trị hoặc các yếu tố khác [66]. Việc áp dụng rộng rãi chƣơng trình tầm soát cũng làm tăng tỉ lệ phát hiện bệnh sớm [14]. Dƣơng tính giả liên quan đến độ đặc hiệu của xét nghiệm và điều trị UTTTL ở giai đoạn sớm tăng dần làm tăng lợi ích y tế mà chƣơng trình tầm soát bằng PSA toàn phần đem lại.
Các hiệp hội Niệu khoa hay ung thƣ trên thế giới có nhiều chƣơng trình tầm soát UTTTL khác nhau tùy thuộc vào tỉ lệ hiện mắc hay tùy theo chủng tộc, tuy nhiên đều khuyến cáo tầm soát có chọn lọc dựa trên từng cá nhân [2], [13], [78], [80]. Mạng lƣới ung thƣ toàn diện quốc gia (NCCN) năm 2021, khuyến cáo tầm soát UTTTL cho nam giới từ 45-75 tuổi hàng năm bằng xét nghiệm PSA 5 toàn phần và khám TT [80]. Đối với ngƣời Mỹ gốc Phi nên tầm soát từ 40 tuổi do có tỉ mắc bệnh cao. Hƣớng dẫn khuyến cáo không nên tầm soát ở nam giới ≥ 75 tuổi ngoại trừ những ngƣời khỏe mạnh và không có nhiều bệnh lý nội khoa phối hợp.
Hƣớng dẫn của Hội niệu khoa châu Âu (2021) khác với NCCN ở việc khuyến cáo tầm soát tất cả nam giới trên 50 tuổi. Hƣớng dẫn chỉ khuyến cáo ngƣng tầm soát ở nam giới có kỳ vọng sống dƣới 15 năm [78]. Hội niệu khoa Mỹ (2021) cũng không khuyến cáo tầm soát UTTTL ở nam giới dƣới 40 tuổi, nam giới từ 40 đến 54 tuổi có nguy cơ trung bình và nam giới trên 70 tuổi hay nam giới có kỳ vọng sống dƣới 10-15 năm [13]. Tại Việt Nam, do tỉ lệ mắc bệnh UTTTL không cao nên Hội Tiết niệu - Thận học Việt Nam (2018) đã đƣa ra khuyến cáo tầm soát UTTTL ở nam giới trên 50 tuổi [2].
CHẨN ĐOÁN UNG THƢ TUYẾN TIỀN LIỆT 1. Khám trực tràng [117] Trƣớc khi có xét nghiệm PSA, bác sĩ lâm sàng dựa hầu nhƣ vào việc khám TT để phát hiện sớm UTTTL. Khám TT thƣờng bỏ sót những thƣơng tổn ung thƣ giai đoạn sớm, chỉ có hiệu quả khi đƣợc những bác sĩ có kinh nghiệm thực hiện. Giá trị của việc thăm khám TT bị giới hạn khi PSA < 3 ng/ml.
Do khám TT đơn giản mà có khả năng phát hiện UTTTL nên hầu hết những chuyên gia niệu khoa đều kết hợp việc khám TT và nồng độ PSA để phát hiện UTTTL. Giá trị tiên đoán dƣơng của khám TT thay đổi theo nồng độ PSA, từ 4-11% khi PSA < 3ng/ml và từ 33-83% khi PSA > 3ng/ml.1: Kỹ thuật khám trực tràng “Nguồn: Raymond E. Các chất đánh dấu ung thƣ trong chẩn đoán ung thƣ tuyến tiền liệt Chất đánh dấu ung thƣ lý tƣởng trong UTTTL là phải xác định đƣợc bệnh, đem lại thông tin về tiến triển bệnh, hiệu quả điều trị, và tiên lƣợng khả năng tái phát hay sống còn [75]. Chất đánh dấu ung thƣ trong UTTTL thƣờng đƣợc chi thành 3 nhóm: dự đoán, chẩn đoán và tiên lƣợng.
Chất đánh dấu ung thƣ dự đoán nhằm đánh giá một bệnh nhân có khả năng mắc bệnh UTTTL hay không. Chất đánh dấu ung thƣ chẩn đoán nhằm phân biệt tế bào ung thƣ và không ung thƣ [109]. Chất đánh dấu ung thƣ tiên lƣợng dùng để tiên lƣợng tiến triển, dự hậu của bệnh cũng nhƣ xác định điều trị cho một số trƣờng hợp [75]. Ngoài ra chất đánh dấu ung thƣ UTTTL cũng đƣơc phân loại theo loại phân tử và cơ chế hoạt động bao gồm gen, ngoại gen và protein.
Chất đánh 7 dấu ung thƣ gen thƣờng dựa trên DNA bao gồm mất, thêm hay chuyển vị nhiễm sắc thể. Trong khi đó chất đánh dấu ung thƣ ngoại gen liên quan đến những thay đổi trong DNA nhƣng không ảnh hƣởng đến trình tự DNA. Dấu ấn ngoại gen thƣờng gặp là những thay đổi trong quá trình methyl hóa DNA, chuyển hóa histon, microDNA và chuyển hóa chromatin [128]. Kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA) PSA là loại glycoprotein đƣợc tế bào thƣợng mô tuyến tiền liệt tiết ra, có nồng độ cao trong tinh dịch, và di chuyển trong máu dƣới dạng kết hợp hoặc không kết hợp.
PSA là chất đặc hiệu cho tuyến tiền liệt, không đặc hiệu cho UTTTL nên PSA cũng tăng trong các bệnh lý lành tính đặc biệt là bệnh tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt và viêm tuyến tiền liệt. Nguy cơ UTTTL theo giá trị của PSA đƣợc mô tả trong Bảng 1.1: Nguy cơ UTTTL liên quan đến giá trị PSA thấp “Nguồn: Heidenreich, 2011” [60] Giá trị tiên đoán dƣơng của PSA > 4ng/ml (10,1% dân số) chỉ đạt 25% cho thấy độ đặc hiệu của xét nghiệm rất thấp [78].
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Vai trò xét nghiệm PCA3 trong chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/y-hoc/vai-tro-xet-nghiem-pca3-chan-doan-ung-thu-tuyen-tien-liet
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Vai trò xét nghiệm PCA3 trong chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt" nghiên cứu về vấn đề gì?
Xét nghiệm PCA3 đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán sớm ung thư tuyến tiền liệt nhờ độ đặc hiệu cao, giảm thiểu sinh thiết không cần thiết.
Luận án "Vai trò xét nghiệm PCA3 trong chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Vai trò xét nghiệm PCA3 trong chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt" thuộc chuyên ngành Y học. Danh mục: Y Học.
Luận án "Vai trò xét nghiệm PCA3 trong chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt" có bao nhiêu trang?
Luận án "Vai trò xét nghiệm PCA3 trong chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt" có 150 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Vai trò xét nghiệm PCA3 trong chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.