Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật cắt túi mật nội soi một lỗ tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
"Ứng dụng phẫu thuật cắt túi mật nội soi một lỗ là phương pháp tiên tiến giúp giảm thiểu thời gian hồi phục và đau đớn cho bệnh nhân, mang lại kết quả tốt hơn."
Ngoại khoa / Phẫu thuật nội soi
Luan An
Luận văn
Số trang
189
Thời gian đọc
29 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Lịch sử phát triển phẫu thuật cắt túi mật nội soi
- Số trang:
- 189 trang
- Chuyên ngành:
- Ngoại khoa / Phẫu thuật nội soi
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Lịch sử phát triển phẫu thuật cắt túi mật nội soi
Phẫu thuật cắt túi mật đã trải qua một hành trình dài. Từ những mô tả đầu tiên về bệnh lý túi mật cấp tính vào năm 1528, đến ca dẫn lưu túi mật của John Stough Bobbs năm 1876. Năm 1882, Carl Johann August Langenbuch đã thực hiện thành công ca phẫu thuật cắt túi mật mổ mở đầu tiên trên người. Phương pháp mổ mở này duy trì là tiêu chuẩn điều trị cho các bệnh lý túi mật lành tính trong hơn một thế kỷ. Đến năm 1985, một bước ngoặt lớn xuất hiện với ca cắt túi mật nội soi đầu tiên do bác sĩ Muhe thực hiện. Tuy nhiên, sự kiện này chưa được công chúng biết đến rộng rãi. Philippe Mouret đã thực hiện thành công một ca cắt túi mật nội soi khác vào năm 1987. Sự kiện này được nhiều người công nhận là khởi đầu của kỷ nguyên phẫu thuật nội soi hiện đại. Phẫu thuật cắt túi mật nội soi nhanh chóng chứng minh ưu điểm vượt trội so với mổ mở, trở thành tiêu chuẩn vàng trong điều trị bệnh lý túi mật. Kỹ thuật này đã mở ra hướng đi mới cho phẫu thuật ít xâm lấn, mang lại nhiều lợi ích cho người bệnh.
1.1. Khởi đầu từ phẫu thuật mổ mở truyền thống
Viêm túi mật đã được mô tả từ thế kỷ 16. John Stough Bobbs thực hiện dẫn lưu túi mật năm 1876. Carl Johann August Langenbuch thực hiện ca cắt túi mật mở đầu tiên năm 1882. Phương pháp mổ mở này là lựa chọn duy nhất cho đến trước năm 1985. Cắt túi mật mổ mở điều trị hiệu quả các bệnh lý như sỏi túi mật, viêm túi mật, nhưng thường đi kèm vết mổ lớn, đau nhiều và thời gian phục hồi kéo dài.
1.2. Kỷ nguyên phẫu thuật cắt túi mật nội soi đa cổng
Bác sĩ Muhe thực hiện ca cắt túi mật nội soi đầu tiên năm 1985. Philippe Mouret tiếp nối thành công năm 1987. Phương pháp cắt túi mật nội soi nhanh chóng phổ biến. Nó mang lại lợi ích về giảm đau, vết mổ nhỏ hơn, và phục hồi nhanh chóng. Phẫu thuật này trở thành tiêu chuẩn vàng điều trị các bệnh lý túi mật lành tính. Sự phát triển này thúc đẩy tìm kiếm các phương pháp phẫu thuật ít xâm lấn hơn nữa.
II. Tiến bộ phẫu thuật cắt túi mật nội soi một lỗ SPLC
Sự phát triển của phẫu thuật nội soi không ngừng tiến bộ, hướng tới mục tiêu giảm thiểu tối đa xâm lấn. Với suy luận giảm số lượng và kích thước trocar sẽ giảm biến chứng, các phẫu thuật viên đã nghiên cứu cắt túi mật nội soi một lỗ. Năm 1997, Navara thực hiện ca cắt túi mật nội soi một lỗ đầu tiên. Ông sử dụng hai trocar 10mm qua một đường mổ duy nhất. Sau đó, năm 2007, Podolsky ER trình bày kỹ thuật SPLC cải tiến với ba trocar 5mm đặt qua đường rạch xuyên rốn. Kỹ thuật này không cần khâu treo túi mật, đơn giản hóa quy trình. Bên cạnh SPLC, một số phương pháp phẫu thuật nội soi qua lỗ tự nhiên (NOTES) cũng được nghiên cứu. Các kỹ thuật như cắt túi mật nội soi hỗ trợ qua đường âm đạo đã được thực hiện, dù còn hạn chế về đối tượng và tính nhạy cảm. Phẫu thuật cắt túi mật nội soi một lỗ ngày càng được chấp nhận rộng rãi nhờ ưu điểm vượt trội.
2.1. Phát triển kỹ thuật nội soi một lỗ tiên phong
Navara là người tiên phong thực hiện cắt túi mật nội soi một lỗ năm 1997. Ông sử dụng hai trocar qua một đường rạch. Kỹ thuật này đặt nền móng cho SPLC. Năm 2007, Podolsky ER cải tiến phương pháp. Ông dùng ba trocar 5mm đặt qua một đường mổ xuyên rốn. Kỹ thuật SPLC này giảm số lượng vết rạch, tập trung vết mổ vào rốn, tăng tính thẩm mỹ và giảm đau. SPLC thể hiện bước tiến lớn trong phẫu thuật ít xâm lấn.
2.2. Các phương pháp cắt túi mật nội soi ít xâm lấn khác
Ngoài SPLC, NOTES là một hướng phát triển khác. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy khả năng ứng dụng cao. Cắt túi mật nội soi hỗ trợ qua đường âm đạo được Bessler M thực hiện năm 2007. Marescaux J cũng thành công với cắt túi mật hoàn toàn qua đường âm đạo. Tuy nhiên, các kỹ thuật NOTES này còn hạn chế đối tượng, tính nhạy cảm. Cắt túi mật qua đường nội soi dạ dày vẫn ở mức thử nghiệm. SPLC nổi bật hơn về tính khả thi và chấp nhận rộng rãi.
III. Ưu điểm phẫu thuật nội soi một lỗ ít xâm lấn
Phẫu thuật cắt túi mật nội soi một lỗ (SPLC) mang lại nhiều ưu điểm nổi bật so với phương pháp nội soi đa cổng truyền thống. Mục tiêu chính là giảm thiểu số lượng vết mổ và kích thước trocar. Điều này dẫn đến ít đau hơn sau phẫu thuật. Vết mổ duy nhất thường được thực hiện qua rốn, giúp che giấu sẹo hiệu quả, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ ngày càng cao của người bệnh. Kỹ thuật SPLC cũng có thể giúp rút ngắn thời gian phục hồi sau phẫu thuật. Bệnh nhân có thể trở lại hoạt động bình thường nhanh hơn. Ngoài ra, việc giảm số lượng cổng vào cũng tiềm ẩn khả năng giảm một số biến chứng liên quan đến việc đặt trocar. Tuy nhiên, kỹ thuật này vẫn yêu cầu phẫu thuật viên có kinh nghiệm và trang thiết bị chuyên dụng.
3.1. Lợi ích thẩm mỹ và giảm đau sau phẫu thuật
Ưu điểm lớn nhất của nội soi một lỗ là tính thẩm mỹ. Chỉ có một vết mổ nhỏ, thường ẩn trong rốn. Điều này tạo ra kết quả thẩm mỹ vượt trội, gần như không để lại sẹo. Bệnh nhân hài lòng hơn về mặt ngoại hình. Vết mổ ít hơn đồng nghĩa với giảm đáng kể đau sau phẫu thuật. Nhu cầu sử dụng thuốc giảm đau cũng thấp hơn. Phục hồi sau phẫu thuật trở nên dễ chịu hơn đối với bệnh nhân.
3.2. Cải thiện phục hồi và giảm biến chứng
Phẫu thuật ít xâm lấn giúp cơ thể ít chịu tổn thương. Điều này thúc đẩy quá trình phục hồi nhanh hơn. Bệnh nhân có thể xuất viện sớm hơn, trở lại sinh hoạt bình thường nhanh chóng. Việc giảm số lượng trocar cũng làm giảm nguy cơ biến chứng tại vị trí đặt trocar. Các biến chứng như chảy máu, nhiễm trùng vết mổ có thể giảm. Tuy nhiên, khả năng giảm các biến chứng cắt túi mật chung cần được nghiên cứu thêm để đánh giá đầy đủ.
IV. Ứng dụng SPLC tại Việt Nam Triển khai và nghiên cứu
Sau Hội nghị nội soi và phẫu thuật nội soi Châu Á Thái Bình Dương (ELSA) năm 2010 tại Hà Nội, kỹ thuật phẫu thuật nội soi một lỗ (SPLC) đã nhanh chóng được triển khai. Các trung tâm phẫu thuật lớn trên cả nước đồng loạt áp dụng. Bệnh viện Đại học Y Hà Nội là một trong những đơn vị tiên phong. Bệnh viện đã triển khai SPLC để điều trị nhiều bệnh lý ổ bụng, bao gồm cắt túi mật. Ca cắt túi mật nội soi một lỗ đầu tiên tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội được thực hiện vào tháng 3 năm 2011. Các báo cáo và kết quả ban đầu đã được công bố trên các tạp chí chuyên ngành. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu các nghiên cứu mô tả đầy đủ về quy trình kỹ thuật, khả năng ứng dụng, và hiệu quả của SPLC trên người Việt Nam. Điều này tạo cơ sở cho các nghiên cứu chuyên sâu hơn về phương pháp này.
4.1. SPLC được giới thiệu và phát triển tại Việt Nam
Năm 2010, SPLC chính thức được giới thiệu tại Việt Nam. Nhiều bệnh viện lớn nhanh chóng tiếp nhận kỹ thuật này. Sự lan tỏa của phẫu thuật nội soi một lỗ cho thấy nhu cầu về phương pháp điều trị ít xâm lấn. Các phẫu thuật viên Việt Nam đã học hỏi, áp dụng và cải tiến kỹ thuật. Điều này giúp nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân mắc các bệnh lý túi mật. SPLC dần trở thành một lựa chọn phổ biến.
4.2. Nghiên cứu ứng dụng tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Bệnh viện Đại học Y Hà Nội là một trong những cơ sở tiên phong áp dụng SPLC. Ca cắt túi mật nội soi một lỗ đầu tiên diễn ra vào tháng 3 năm 2011. Bệnh viện đã có nhiều báo cáo, công bố kết quả trên các tạp chí. Tuy nhiên, cần một nghiên cứu toàn diện hơn. Nghiên cứu này nhằm mục đích xây dựng quy trình chuẩn hóa và đánh giá kết quả thực tế. Điều này sẽ củng cố cơ sở khoa học cho SPLC tại Việt Nam.
V. Mục tiêu nghiên cứu phẫu thuật cắt túi mật nội soi một lỗ
Mặc dù phẫu thuật cắt túi mật nội soi một lỗ (SPLC) đã được triển khai tại Việt Nam, vẫn còn thiếu các nghiên cứu đầy đủ. Các nghiên cứu hiện tại chưa mô tả chi tiết quy trình kỹ thuật, khả năng ứng dụng và kết quả cụ thể trên đối tượng người Việt Nam. Do đó, một nghiên cứu chuyên sâu là cần thiết để lấp đầy khoảng trống này. Nghiên cứu nhằm mục đích ứng dụng và xây dựng quy trình SPLC chuẩn hóa. Quy trình này đảm bảo tính an toàn và hiệu quả cho người bệnh. Đồng thời, nghiên cứu cũng sẽ đánh giá khách quan các kết quả đạt được từ việc triển khai SPLC. Mục tiêu cuối cùng là cung cấp dữ liệu khoa học tin cậy để tối ưu hóa kỹ thuật này trong thực hành lâm sàng.
5.1. Xây dựng quy trình kỹ thuật SPLC chuẩn hóa
Mục tiêu quan trọng là nghiên cứu và xây dựng quy trình cắt túi mật nội soi một lỗ. Quy trình này cần chi tiết, cụ thể và phù hợp với điều kiện thực tế tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Việc chuẩn hóa quy trình kỹ thuật SPLC đảm bảo tính an toàn. Nó giúp các phẫu thuật viên thực hiện thao tác chính xác, giảm thiểu rủi ro. Một quy trình rõ ràng cũng là cơ sở để đào tạo và nhân rộng kỹ thuật này.
5.2. Đánh giá kết quả ứng dụng SPLC tại cơ sở
Mục tiêu thứ hai là đánh giá kết quả của phẫu thuật cắt túi mật nội soi một lỗ. Việc đánh giá bao gồm các yếu tố như thời gian phẫu thuật, lượng máu mất, thời gian nằm viện, biến chứng sau mổ. Kết quả sẽ phản ánh hiệu quả và an toàn của SPLC. Các dữ liệu này cung cấp bằng chứng thực tế cho việc ứng dụng SPLC. Điều này giúp cải thiện chất lượng điều trị và quyết định lâm sàng.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (189 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộ1 ĐẶT VẤN ĐỀ Lịch sử phẫu thuật nội soi hiện đại được đánh dấu bởi ca cắt túi mật nội soi đầu tiên của bác sĩ Muhe người Đức thực hiện vào ngày 12 tháng 9 năm 1985 [1], tuy nhiên lúc bấy giờ ít được mọi người biết đến do thiếu thông tin liên lạc đại chúng. Ngày 17 tháng 3 năm 1987, Philippe Mouret thực hiện thành công ca cắt túi mật nội soi tại Lyon – Pháp, chính thời khắc này được nhiều tác giả xem là dấu mốc của phẫu thuật nội soi hiện đại. Kể từ đó phẫu thuật nội soi đã không ngừng phát triển trên khắp thế giới và cắt túi mật nội soi đã được chứng minh ưu điểm hơn so với mổ mở, đã trở thành tiêu chuẩn vàng trong điều trị các bệnh lý túi mật lành tính [2],[3]. Với suy luận nếu giảm thiểu số lượng và kích thước trocar sẽ giảm được các tai biến và biến chứng do đặt trocar, ít đau sau mổ và đặc biệt đáp ứng được nhu cầu thẩm mỹ ngày càng tăng của người bệnh.
các phẫu thuật viên nội soi đã đưa ra những phương pháp cắt túi mật nội soi khác và năm 1997 Navara [4] đã tiến hành ca cắt túi mật nội soi một lỗ đầu tiên trên thế giới. Ông đã sử dụng 2 trocar 10mm kết với khâu treo túi mật để bộc lộ tam giác gan mật. Đến năm 2007 Podolsky ER [5] trình bày kỹ thuật cắt túi mật nội soi một lỗ với 3 trocar 5mm đặt qua một đường mổ xuyên qua rốn mà không cần khâu treo túi mật. Bên cạnh giảm thiểu số lượng lỗ trocar thì một số tác giả đã phát triển theo hướng phẫu thuật nội soi qua lỗ tự nhiên gọi tắt là NOTES (Natural Orifice Translumenal Endoscopic Surgery).
Những nghiên cứu thử nghiệm trên động vật được tiến hành và báo cáo với kết quả có tính khả thi cao [6], [7]. Trường hợp cắt túi mật nội soi hỗ trợ qua đường âm đạo ở người đầu tiên được Bessler M [8] thực hiện vào tháng 3 năm 2007 và sau đó 6 tháng Marescaux J [9] đã thực hiện thành công cắt túi mật nội soi hoàn toàn qua đường âm đạo. Tuy nhiên, cắt túi mật nội soi qua đường âm đạo không thể thực hiện được trên tất cả các đối tượng và ít được ủng hộ do sử dụng đường LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 vào mang tính nhạy cảm. Còn cắt túi mật qua đường nội soi dạ dày, cho đến hiện tại cũng chỉ mới dừng lại ở mức thử nghiệm trên động vật.
Ở Việt Nam, sau hội nghị nội soi và phẫu thuật nội soi Châu Á Thái Bình Dương lần thứ X (ELSA) năm 2010 tổ chức tại Hà Nội, phẫu thuật nội soi một lỗ được triển khai gần như cùng lúc tại các trung tâm phẫu thuật lớn ở cả ba miền [10],[11]. Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cũng đã triển khai phẫu thuật nội soi một lỗ điều trị một số bệnh lý ổ bụng như túi mật, ruột thừa, buồng trứng… trường hợp cắt túi mật nội soi một lỗ đầu tiên được thực hiện vào tháng 3 năm 2011, đã có các báo cáo tham gia các hội nghị và công bố kết quả trên các tạp chí chuyên ngành trong nước [12],[13]. Tuy nhiên cho đến nay, vẫn còn thiếu các nghiên cứu mô tả một cách đầy đủ về quy trình kỹ thuật, khả năng ứng dụng và kết quả của cắt túi mật nội soi một lỗ đối với người Việt Nam. Xuất phát từ đó chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật cắt túi mật nội soi một lỗ tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội” với hai mục tiêu như sau: 1.
Nghiên cứu ứng dụng và xây dựng quy trình cắt túi mật nội soi một lỗ tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Đánh giá kết quả cắt túi mật nội soi một lỗ tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Lịch sử nghiên cứu và điều trị ngoại khoa bệnh lý túi mật Antonius Benivenius là người đầu tiên đã mô tả bệnh lý viêm túi mật ở người trong cuốn sách nói về nguyên nhân bí ẩn của cái chết (De abditis morborum causis) xuất bản năm 1528 [14], qua khám nghiệm tử thi xác minh viêm túi mật cấp tính dẫn đến tử vong.
Và hàng trăm năm sau, John Stough Bobbs được ghi nhận với những hoạt động đầu tiên trên túi mật của người. Ông ta đã thực hiện dẫn lưu túi mật vào năm 1876, tại góc phố Meridian và Washington Streets ở Indianapolis – Mỹ. Sau đó, ngày 15 tháng 7 năm 1882 Carl Johann August Langenbuch thực hiện thành công ca cắt túi mật đầu tiên trên một bệnh nhân nam 42 tuổi, ở Tây Berlin - Đức. Bệnh nhân đã hồi phục không biến chứng và Langenbuch sau đó đã trình bày báo cáo 24 trường hợp cắt túi mật tại hội nghị ngoại khoa Đức lần thứ 8 năm 1889 [15].
Trên thế giới - Năm 1882 lần đầu tiên trong lịch sử loài người, Carl Johann August Langenbuch đã thực hiện mổ mở cắt túi mật để điều trị bệnh lý túi mật. Cho đến trước năm 1985 trên toàn thế giới đều cắt túi mật bằng phương pháp mổ mở [15]. - Năm 1985, Muhe một phẫu thuật viên người Đức đã tiến hành cắt ca túi mật nội soi đầu tiên tại Đức. Tuy nhiên, lúc bấy giờ giới hạn về thông tin nên chưa được mọi người trên thế giới biết đến [1],[16].
- Năm 1987, Phillipe Mouret thực hiện thành công ca mổ cắt túi mật nội soi tại Lion - Pháp và ông được đại đa số các phẫu thuật viên xem là người thực hiện cắt ca túi mật nội soi đầu tiên trên thế giới [2],[17] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 - Năm 1997, Navarra đã báo cáo 30 trường hợp cắt túi mật nội soi một đường mổ với 2 trocar 10mm đặt qua hai vết rạch da phía trên rốn kết hợp với khâu treo túi mật để bộc lộ tam giác gan mật. Sau khi cắt xong túi mật tác giả đã rạch cầu da giữa hai lỗ trocar để nối hai lỗ với nhau và lấy túi mật ra ngoài. Tác giả gọi kỹ thuật này là cắt túi mật nội soi một vết mổ (One-wound laparoscopic cholecystectomy) [4].O [7] thực hiện thành công cắt túi mật qua nội soi dạ dày trên một loạt 8 con lơn. Các báo cáo đã cho thấy kỹ thuật có tính khả thi, có triển vọng phát triển và ứng dụng trên người.
Tháng 7 năm 2005, Hội phẫu thuật viên nội soi tiêu hóa và Hội nội soi tiêu hóa của Mỹ đã nhóm họp và đưa ra hướng dẫn để phát triển chuyên ngành phẫu thuật nội soi qua đường tự nhiên [18]. Kết quả làm việc của nhóm này đã mang đến thành công ban đầu của việc áp dụng phẫu thuât nội soi qua lỗ tự nhiên trên người. Trường hợp đầu tiên cắt túi mật bằng nội soi hỗ trợ qua đường âm đạo ở người được thực hiện bởi Bessler M và cộng sự vào tháng 3 năm 2007 [8] và trường hợp cắt túi mật nội soi hoàn toàn qua đường âm đạo đầu tiên được thực hiện bởi Marescaux J và cộng sự vào tháng 9 năm 2007 [9]. - Năm 2007, Podolsky ER đã giới thiệu và phát triển kỹ thuật cắt túi mật nội một đường mổ.
Tác giả trình bày kỹ thuật sử dụng đường rạch da theo chiều dọc băng qua giữa rốn có chiều dài khoảng 18mm để đặt 3 trocar 5mm và tiến hành cắt túi mật mà không cần khâu treo túi mật. Tác giả gọi kỹ thuật này là Single Port Access Cholecystectomy [5]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 - Một hướng phát triển mới của khoa học công nghệ ra đời đã tác động trực tiếp đến ngành ngoại khoa đó là phẫu thuật rô bốt. Trường hợp ứng dụng rô bốt phẫu thuật trên người đầu tiên được thực hiện năm 1985, sử dụng trong sinh thiết thần kinh, sau đó ứng dụng vào chuyên ngành phẫu thuật tiết niệu năm 1988 và đến năm 1997 phẫu thuật rô bốt lần đầu tiên được ứng dụng vào cắt túi mật trên người [19].
Với ưu điểm sử dụng camera 3D có độ phân giải cao, cánh tay được thiết kế bởi một loạt hệ thống ròng rọc nên sự linh hoạt không kém gì so với bàn tay người. Thú vị nhất là phẫu thuật viên có thể điều khiển cuộc mổ ở bất kỳ địa điểm nào miễn là có kết nối với hệ thống rô bốt. Tuy nhiên các nghiên cứu cho thấy về hiệu quả điều trị là tương đương với phẫu thuật nội soi, bên cạnh đó chi phí lại rất cao nên vẫn chưa được ứng dụng rộng rãi. Có lẽ trong tương lai khi nền kinh tế phát triển và giá thành của phẫu thuật rô bốt giảm xuống thì đây là một lĩnh vực đầy hứa hẹn của ngành ngoại khoa [20],[21].
Việt Nam - Trước năm 1992, cắt túi mật bằng phương pháp mổ mở kinh điển [22]. - Năm 1992, bệnh viện Chợ Rẫy tiến hành ca cắt túi mật nội soi đầu tiên, tiếp theo đó là bệnh viện Việt Đức (1993) và bệnh viện Trung ương Huế (2000) [22]. - Năm 2008, bệnh viện Chợ Rẫy cắt túi mật nội soi với một trocar rốn [22]. - Năm 2009, bệnh viện Đại Học Y Dược TP.
Hồ Chí Minh triển khai cắt túi mật nội soi qua đường âm đạo [23]. - Sau hội nghị khoa học lần thứ 10 của hội Nội Soi Và Phẫu Thuật Nội Soi Châu Á Thái Bình Dương (ELSA) tổ chức tại Hà Nội năm 2010. Các bệnh viện thuộc tuyến trung ương trên toàn quốc trong đó có cả bệnh viện Đại Học Y Hà Nội, đã triển khai cắt túi mật nội soi một lỗ bằng dụng cụ chuyên dụng cho phẫu thuật nội soi một lỗ do các hãng trang thiết bị cung cấp mà trong đó thông dụng nhất là SILS™ Port của Covidien [10],[11],[12],[13]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Những khu vực giải phẫu và những biến đổi giải phẫu đƣờng mật cần chú ý trong thực hành cắt túi mật nội soi một lỗ. Tam giác gan mật, tam giác Calot và khu vực Moosman Hình 1. Tam giác gan mật và tam giác Calot [24] Tam giác gan mật được hình thành bởi giới hạn bên phải là phần gần của túi mật và ống túi mật, bên trái là ống gan chung và phía trên là bờ dưới của thùy gan phải (hình 1. Tam giác này đầu tiên được mô tả bởi Calot năm 1891 và đã được giới hạn rộng ra những năm sau đó.
Đối với Calot nguyên bản, cạnh trên của tam giác là động mạch túi mật. Thành phần đi trong tam giác này gồm động mạch gan phải, động mạch túi mật và có thể có đường mật phụ bất thường.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Ứng dụng phẫu thuật cắt túi mật nội soi một lỗ (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/y-hoc/nghien-cuu-ung-dung-phau-thuat-cat-tui-mat-noi-so-mot-lo
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Ứng dụng phẫu thuật cắt túi mật nội soi một lỗ" nghiên cứu về vấn đề gì?
"Ứng dụng phẫu thuật cắt túi mật nội soi một lỗ là phương pháp tiên tiến giúp giảm thiểu thời gian hồi phục và đau đớn cho bệnh nhân, mang lại kết quả tốt hơn."
Luận án "Ứng dụng phẫu thuật cắt túi mật nội soi một lỗ" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Ứng dụng phẫu thuật cắt túi mật nội soi một lỗ" thuộc chuyên ngành Ngoại khoa / Phẫu thuật nội soi. Danh mục: Y Học.
Luận án "Ứng dụng phẫu thuật cắt túi mật nội soi một lỗ" có bao nhiêu trang?
Luận án "Ứng dụng phẫu thuật cắt túi mật nội soi một lỗ" có 189 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Ứng dụng phẫu thuật cắt túi mật nội soi một lỗ" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.