Luận án: Nghiên cứu điều trị phình động mạch não cổ rộng bằng can thiệp nội mạch

Luận án tiến sĩ nghiên cứu điều trị phình động mạch não cổ rộng bằng phương pháp can thiệp nội mạch, đánh giá hiệu quả và độ an toàn.

Chuyên ngành

Điện quang can thiệp thần kinh

Tác giả

Luan An

Số trang

175

Thời gian đọc

27 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Phình Mạch Não Cổ Rộng: Bệnh Lý Và Thách Thức Điều Trị
Số trang:
175 trang
Chuyên ngành:
Điện quang can thiệp thần kinh
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Phình Mạch Não Cổ Rộng Bệnh Lý Và Thách Thức Điều Trị

Phình động mạch não (PĐMN) là một bệnh lý thần kinh thường gặp. Tỷ lệ phát hiện PĐMN dao động từ 0,4% đến 6,0% qua các phương pháp khảo sát. Đa số các túi phình (TP) nằm trong vùng đa giác Willis. Nhiều PĐMN kích thước nhỏ thường không biểu hiện triệu chứng. Tuy nhiên, PĐMN cổ rộng đặt ra nhiều thách thức lớn trong quá trình điều trị.

1.1. Định nghĩa và mức độ phổ biến của phình mạch não

PĐMN cổ rộng được định nghĩa khi tỷ lệ túi/cổ dưới 1,5 hoặc đường kính cổ đạt từ 4 mm trở lên. Loại phình này chiếm tỷ lệ đáng kể, khoảng 20-30% tổng số các trường hợp PĐMN. Sự phổ biến này đòi hỏi các phương pháp điều trị tiên tiến. Phình động mạch não chưa vỡ thường được phát hiện qua kiểm tra định kỳ hoặc do triệu chứng không đặc hiệu.

1.2. Phình mạch não cổ rộng và các khó khăn trong điều trị

Điều trị phình mạch não cổ rộng bằng can thiệp nội mạch là một thử thách. Khả năng giữ các vòng xoắn kim loại (coil) ổn định trong túi phình cổ rộng rất khó khăn. Các kỹ thuật can thiệp nội mạch phình não truyền thống không hiệu quả tối ưu. Điều này yêu cầu phát triển các phương pháp hỗ trợ đặc biệt. Mục tiêu là đảm bảo hiệu quả điều trị và giảm thiểu nguy cơ tái phát.

II. Chẩn Đoán Sớm Phình Động Mạch Não Biến Chứng Vỡ

Phình động mạch não có thể không có triệu chứng trong thời gian dài. Tuy nhiên, nguy cơ lớn nhất là khi phình mạch vỡ, dẫn đến chảy máu dưới nhện (CMDN). Chẩn đoán sớm đóng vai trò then chốt trong việc ngăn ngừa các biến chứng nghiêm trọng. Các phương tiện chẩn đoán hình ảnh hiện đại giúp phát hiện chính xác phình mạch não chưa vỡ và phình động mạch não vỡ.

2.1. Nguy cơ chảy máu dưới nhện do phình động mạch não vỡ

Chảy máu dưới nhện (CMDN) là biến chứng nguy hiểm nhất của phình mạch não vỡ. Hàng năm, hàng chục nghìn người gặp phải tình trạng này. Tỷ lệ tử vong sau CMDN rất cao, có thể lên tới 25-67%. Khoảng 50% bệnh nhân sống sót có thể phải đối mặt với di chứng. Chỉ khoảng một phần ba số bệnh nhân CMDN hồi phục hoàn toàn. Các triệu chứng lâm sàng đặc hiệu bao gồm hội chứng màng não (đau đầu dữ dội, nôn mửa, cứng gáy).

2.2. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh phình mạch não

Chẩn đoán sự hiện diện của phình mạch não sử dụng ba phương pháp chính. Chụp mạch bằng cắt lớp vi tính (CLVT) là phương pháp phổ biến. Chụp cộng hưởng từ (CHT) không và có tiêm thuốc (TOF 3D và MRA-DSA) cũng được áp dụng. Phương pháp chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) có tính xâm lấn hơn nhưng cho hình ảnh chi tiết nhất. Các kỹ thuật này giúp xác định vị trí, kích thước và đặc điểm cổ túi của phình mạch não.

III. Can Thiệp Nội Mạch Phình Não Các Phương Pháp Hiện Đại

Điều trị triệt căn phình động mạch não (PĐMN) bao gồm hai phương pháp chính. Đó là phẫu thuật kẹp cổ túi và can thiệp nội mạch nút phình. Mỗi phương pháp có những ưu và nhược điểm riêng. Sự lựa chọn phương pháp điều trị phụ thuộc vào tình trạng lâm sàng và đặc điểm của phình mạch. Kỹ thuật can thiệp nội mạch ngày càng được ưa chuộng nhờ những tiến bộ vượt bậc.

3.1. So sánh can thiệp nội mạch với phẫu thuật kẹp cổ túi

Phẫu thuật kẹp cổ túi thường có tỷ lệ tái thông thấp. Điều này dẫn đến tỷ lệ chảy máu tái phát cũng thấp. Ngược lại, can thiệp nội mạch có ưu điểm về tỷ lệ hồi phục lâm sàng cao hơn. Kỹ thuật này gây ít tổn thương nhu mô não hơn, đồng thời tỷ lệ tử vong thấp hơn. Điều trị phình mạch não bằng coil là một phương pháp ít xâm lấn. Cả hai phương pháp đều hướng đến loại bỏ nguy cơ vỡ phình.

3.2. Thời điểm và mục tiêu điều trị phình động mạch não

Thời điểm điều trị phụ thuộc vào tình trạng bệnh nhân. Can thiệp nội mạch phình não thường được thực hiện càng sớm càng tốt. Điều này giúp tránh giai đoạn co thắt mạch não nặng (thường bắt đầu từ ngày thứ 3). Phẫu thuật có thể an toàn hơn nếu được thực hiện muộn hơn. Mục tiêu điều trị có thể là điều trị triệu chứng hoặc điều trị triệt căn. Đối với phình động mạch não vỡ, hồi sức nội khoa là cực kỳ quan trọng.

IV. Kỹ Thuật Can Thiệp Phình Mạch Não Cổ Rộng Hiệu Quả

Điều trị phình động mạch não cổ rộng bằng can thiệp nội mạch là một lĩnh vực đầy thách thức. Sự phát triển của các kỹ thuật can thiệp nội mạch hiện đại đã cải thiện đáng kể kết quả. Các thiết bị hỗ trợ mới giúp khắc phục những hạn chế của phương pháp coiling truyền thống. Mục tiêu là đạt được khả năng loại bỏ phình mạch hoàn toàn và giảm thiểu rủi ro.

4.1. Các phương pháp hỗ trợ điều trị phình mạch cổ rộng

Với phình mạch não cổ rộng, việc giữ vòng xoắn kim loại (VXKL) ổn định là khó khăn. Các kỹ thuật can thiệp nội mạch phình não tiên tiến đã ra đời. Chúng bao gồm chẹn cổ bằng bóng tạm thời hoặc đặt stent hỗ trợ coil. Stent hỗ trợ coil giúp tạo ra một "hàng rào" vật lý. Điều này giữ VXKL chắc chắn trong túi phình, ngăn ngừa trôi ra ngoài.

4.2. Vai trò của thiết bị chuyển hướng dòng chảy trong điều trị

Thiết bị chuyển hướng dòng chảy (flow diverter) là một tiến bộ quan trọng. Thiết bị này được đặt vào động mạch chứa phình. Nó làm thay đổi dòng máu chảy vào túi phình. Điều này thúc đẩy quá trình huyết khối và đóng túi phình dần dần. Các dụng cụ ngắt dòng chảy khác như Lunar hay Web cũng được sử dụng. Các thiết bị này nâng cao hiệu quả điều trị. Chúng mang lại hy vọng lớn cho các trường hợp phình mạch cổ rộng phức tạp.

V. Theo Dõi Hiệu Quả Sau Điều Trị Phình Mạch Não Bằng Nội Mạch

Theo dõi bệnh nhân sau can thiệp nội mạch phình động mạch não là một phần quan trọng của quy trình điều trị. Đặc biệt với phình mạch não cổ rộng, nguy cơ tái thông túi phình vẫn hiện hữu. Việc theo dõi định kỳ giúp phát hiện sớm các biến chứng. Từ đó, các biện pháp can thiệp kịp thời có thể được áp dụng. Điều này đảm bảo hiệu quả lâu dài của điều trị.

5.1. Tầm quan trọng của theo dõi sau can thiệp nội mạch

Nguy cơ tái thông túi phình sau can thiệp là một mối lo ngại. Nguy cơ này đặc biệt cao đối với các trường hợp phình mạch não cổ rộng. Tái thông có thể dẫn đến chảy máu tái phát. Do đó, việc theo dõi chặt chẽ sau điều trị là hết sức cần thiết. Chương trình theo dõi cần được thiết kế cá nhân hóa cho từng bệnh nhân.

5.2. Các phương pháp đánh giá sau điều trị phình mạch não

Đối với can thiệp nội mạch phình não, cộng hưởng từ (CHT) đóng vai trò quan trọng. CHT giúp đánh giá rất tốt tình trạng túi phình sau khi nút coil. Nó cũng cung cấp thông tin về nhu mô não và hệ thống não thất. Với phẫu thuật kẹp cổ túi, đánh giá túi phình sau kẹp chủ yếu dựa vào chụp mạch số hóa xóa nền (DSA). Cắt lớp vi tính (CLVT) đa dãy có thể hỗ trợ một phần.

Mục lục chi tiết luận án

ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Chương 1: TỔNG QUAN
1.1. GIẢI PHẪU HỆ ĐỘNG MẠCH NÃO
1.1.1. Hệ cảnh
1.1.2. Hệ đốt sống – thân nền
1.1.3. Đa giác Willis
1.2. ĐẠI CƯƠNG VỀ PHÌNH ĐỘNG MẠCH NÃO CỔ RỘNG
1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHÌNH ĐỘNG MẠCH NÃO CỔ RỘNG
1.3.1. Trên thế giới
1.3.2. Việt Nam
1.4. PHÌNH MẠCH CHƯA VỠ VÀ MỘT SỐ THÁCH THỨC
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tiến sĩ nghiên cứu điều trị phình động mạch não cổ rộng bằng phương pháp can thiệp nội mạch

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (175 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

1 ĐẶT VẤN ĐỀ Phình động mạch não (PĐMN) là bệnh lý thần kinh khá thường gặp, khoảng 0,4 – 3,6% trên đại thể và 3,7 - 6,0% trên chụp mạch trong đó 85% các túi phình (TP) nằm trong vùng đa giác Willis. Nhiều TP trên một bệnh nhân (BN) chiếm tới 30% các trường hợp có PĐMN. Phần lớn các PĐMN kích thước nhỏ, không có triệu chứng. Trước đây BN thường đến viện trong tình trạng chảy máu não do vỡ phình mà hay gặp nhất là chảy máu dưới nhện (CMDN) (Hàng năm có khoảng 30.000 người Mỹ bị chảy máu não do vỡ PĐMN).

Khi đã CMDN, tỷ lệ tử vong có thể tới 25%, thậm chí theo S.Claiborne, tử vong có thể từ 32 - 67%. Di chứng ít nhiều có thể gặp ở 50% những BN sống sót. Như vậy chỉ khoảng 1/3 các bệnh nhân CMDN là có thể hồi phục hoàn toàn [1], [2], [3]. Bệnh nhân CMDN thường có biểu hiện lâm sàng khá đặc hiệu, trong đó hội chứng màng não (đau đầu, nôn vọt, cứng gáy…) rất hay gặp.

Việc chẩn đoán về lâm sàng sẽ gợi ý để BN được sử dụng các phương tiện chẩn đoán hình ảnh như CLVT và CHT để phát hiện máu trong khoang dưới nhện. Chẩn đoán về hiện diện TP mạch não hiện nay người ta sử dụng ba phương pháp chính là chụp mạch bằng CLVT, CHT không và có tiêm thuốc (TOF 3D và MRA-DSA), và phương pháp có tính xâm nhập nhiều hơn là chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) [1], [2], [4], [5]. TP cổ rộng là một loại TP mà tỷ lệ cao túi/cổ < 1,5 và/hoặc đường kính cổ ≥ 4 mm. Điều trị can thiệp TP cổ rộng là một thách thức do khả năng giữ được vòng xoắn kim loại (VXKL) lại trong TP là khó khăn so với các nhóm cổ hẹp và trung bình.

Với tiến bộ của y học ngày nay, người ta sáng tạo ra các phương pháp hỗ trợ cho điều trị can thiệp đạt kết quả cao như chẹn cổ bằng bóng, bằng giá đỡ nội mạch (GĐNM), GĐNM đổi hướng dòng chảy (ĐHDC), dụng cụ ngắt dòng chảy (Lunar, Web)… đã nâng cao được hiệu quả điều trị. Tỷ lệ PĐMN cổ rộng chiếm khá nhiều trong số các TP mạch não (20 - 30%) 2 và điều trị can thiệp các TP này có thể nói là khó nhất trong điều trị các PĐMN nói riêng hay các kỹ thuật can thiệp thần kinh nói chung. Điều trị PĐMN cổ rộng như các TP nói chung, bao gồm điều trị triệu chứng và điều trị triệt căn. Điều trị triệu chứng tùy thuộc giai đoạn TP chưa vỡ hay đã vỡ.

Đối với TP vỡ, điều trị nội khoa hồi sức là hết sức quan trọng. Điều trị triệt căn TP hiện nay có hai phương pháp chính là phẫu thuật (PT) kẹp cổ túi và can thiệp nội mạch nút TP. Mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm riêng của nó. Nói chung PT kẹp cổ TP có tỷ lệ tái thông thấp nên tỷ lệ chảy máu tái phát thấp trong khi can thiệp nội mạch có ưu điểm là tỷ lệ hồi phục lâm sàng cao hơn, ít tổn thương nhu mô não tỷ lệ tử vong thấp hơn.

Thời điểm điều trị tùy thuộc vào tình trạng lâm sàng và phương pháp sử dụng. Nói chung thì can thiệp nội mạch làm càng sớm càng tốt để tránh giai đoạn co thắt mạch não (từ ngày thứ 3 bắt đầu co thắt mạch nặng) trong khi PT thì làm càng muộn càng an toàn. Theo dõi sau điều trị các BN nút PĐMN là hết sức quan trọng bởi nguy cơ tái thông TP sau can thiệp, nhất là các TP cổ rộng. Đối với can thiệp nội mạch thì CHT có vai trò quan trọng do đánh giá rất tốt TP sau nút và tình trạng nhu mô não, hệ thống não thất (NT)… Còn với phẫu thuật kẹp cổ TP, đánh giá TP sau kẹp dựa vào DSA là chính (CLVT đa dãy có thể đánh giá một phần) và đánh giá nhu mô não, hệ thống NT thì dựa vào CLVT.

Đề tài nghiên cứu về điều trị can thiệp TP cổ rộng bằng can thiệp nội mạch có thể nói là hết sức cần thiết bởi thực tế đây là TP khó, luôn đặt ra thách thức với các nhà điện quang can thiệp thần kinh. Do vậy chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu điều trị phình động mạch não cổ rộng bằng phương pháp can thiệp nội mạch” với mục đích: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và hình ảnh của các túi phình động mạch não cổ rộng trên cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ và chụp mạch số hóa xóa nền. Nghiên cứu kết quả điều trị can thiệp nội mạch và theo dõi sau can thiệp đối với các túi phình mạch não cổ rộng.

3 Chương 1 TỔNG QUAN 1. GIẢI PHẪU HỆ ĐỘNG MẠCH NÃO [1], [6] Não được nuôi dưỡng bởi hai hệ thống mạch máu là hệ mạch cảnh và hệ sống nền. Hệ cảnh ĐM cảnh trong về cơ bản cấp máu cho não trước, trừ thùy chẩm. Từ vị trí chia đôi nó đi lên cổ và đi vào ống ĐM cảnh của xương thái dương.

Tiếp đó nó đi qua các đoạn đá, xoang hang và não. ĐM cảnh được chia làm 7 đoạn, từ C1 đến C7. Đoạn nội sọ nó tận cùng bằng cách chia thành các ĐM não trước và não giữa.1: Phân chia đoạn của ĐM cảnh trong trên sơ đồ (a) và trên hình ảnh chụp mạch số hóa xóa nền (b) [1]. Hệ đốt sống – thân nền Cấp máu cho phần trên tủy sống, thân não, tiểu não, thùy chẩm và mặt dưới thùy thái dương của đại não.

Các ĐM sống tách ra từ ĐM dưới đòn. Chúng đi lên qua đoạn cổ trong những lỗ ngang của sáu đốt sống cổ trên và đi vào hộp sọ qua lỗ lớn xương chẩm. Ở đoạn nội sọ nó kết hợp lại để tạo nên ĐM thân nền rồi từ thân nền chia làm hai nhánh tận là ĐM não sau. Đa giác Willis Là một vòng tiếp nối ĐM lớn liên kết các hệ thống cảnh trong và sống nền.

Nó nằm ở khoang dưới nhện trong bể gian cuống và bao quanh giao thoa 4 thị giác, phễu và các cấu trúc khác của hố gian cuống. Ở phía trước, các ĐM não trước của ĐM cảnh trong nối với nhau qua ĐM thông trước. Ở phía sau, mỗi ĐM não sau nối với ĐM cảnh trong cùng bên qua ĐM thông sau. Do vậy đa giác Willis đầy đủ là hình đa giác 9 cạnh như hình minh họa dưới.

TT: Thông trước TS: Thông sau NS: Não sau CT: Cảnh trong NG: Não giữa TN: Thân nền A1: Đoạn A1 ĐM não trước P1: Đoạn P1 ĐM não sau Hình 1.2: Sơ đồ đa giác Willis đầy đủ 1. ĐẠI CƯƠNG VỀ PHÌNH ĐỘNG MẠCH NÃO CỔ RỘNG [1], [2], [5], [7] Nhìn chung thì TP cổ rộng giống như các TP mạch não nói chung. Có nhiều yếu tố nguy cơ hình thành PĐMN bao gồm yếu tố gen và mắc phải. Yếu tố gen như bệnh lý gan thận đa nang là một trong những bệnh lý liên quan nhiều nhất.

Có tới 10 - 15% các bệnh nhân gan thận đa nang có PĐMN. Ngoài thuyết bẩm sinh này, người ta còn nhắc tới thuyết mắc phải: do các yếu tố thoái hóa như biến đổi siêu cấu trúc lớp áo ngoài và lớp áo trong, xơ cứng mạch nhỏ nuôi thành mạch làm yếu thêm thành mạch và hình thành lên PĐMN. Các yếu tố nguy cơ có thể liệt kê như sau: lớn tuổi, tăng huyết áp (THA), hút thuốc lá, lạm dụng rượu, thiếu hụt Estrogen, tăng cholesterol máu, hẹp mạch cảnh… Về phân loại người ta chia TP thành 4 loại: hình túi, hình thoi, phình bóc tách và vi phình mạch ngoại vi. Đề tài này đề cập tới TP cổ rộng, là một loại TP hình túi cũng như TP bóc tách dạng túi.

PĐMN cổ rộng là TP có đường kính cổ ≥ 4mm và/hoặc tỷ lệ cao túi/cổ ≤ 1,5 [8], [9], [10]. Người ta phân chia kích thước cổ TP để tiên lượng và lựa chọn phương pháp điều trị. Nói chung thì TP cổ rộng đều gây khó khăn cho 5 cả phương pháp can thiệp nội mạch lẫn PT kẹp cổ túi do nguy cơ tắc mạch mang TP cao. Dựa trên kích thước TP, người ta chia nhóm TP rất nhỏ (< 2 hoặc 3 mm tùy tác giả).

TP nhỏ khi có kích thước < 7mm. Từ 7 - 14 mm là TP trung bình, trên 14 mm là TP lớn. TP khổng lồ khi kích thước túi > 25mm [11]. Theo Ioannis Ioannidis, mức độ nhiều và lan tỏa của CMDN khi vỡ TP nhỏ có thể lớn hơn so với vỡ TP lớn [12].

Trong nhóm TP có cổ, có tác giả chỉ chia thành hai nhóm là cổ rộng và cổ hẹp [13]. 85% PĐMN nằm ở vùng đa giác Willis, trong đó vị trí ĐM thông trước chiếm 35% PĐMN, theo sau là vị trí ĐM cảnh trong (30%, bao gồm cả vị trí gốc ĐM mắt và gốc thông sau). PĐMN vị trí não giữa khoảng 22%. Ngoài vòng đa giác Willis thì PĐMN hay gặp ở gốc ĐM tiểu não sau dưới (PICA) và ĐM trai viền.

Tính chung thì PĐMN hệ thân nền chiếm < 10%, còn lại là hệ cảnh [1], [14]. Một số TP có thể hình thành kết hợp với các biến thể giải phẫu của mạch não vùng đa giác Willis như tạo cửa sổ mạch máu (fenestration)…[15]. Trên vi thể người ta thấy ở cổ TP thường thiếu lớp cơ, chỉ có lớp nội mạc và lớp ngoại mạc. Riêng với giả phình sau chấn thương thì thành TP không có cấu trúc của thành mạch mà thường là các cấu trúc lân cận như màng não, nhu mô não hay khối máu tụ.

Tỷ lệ nữ gặp nhiều hơn nam giới (khoảng 1.3: Sơ đồ minh họa phân bố PĐMN và sơ đồ hình thái túi PĐMN, thành túi phình không có lớp cơ [1]. 6 Sự bất thường lớp trung mạc của thành mạch là bẩm sinh. Nó tiến triển ban đầu từ thành mạch có đường kính và hình thái bình thường. Theo thời gian, dưới tác động của dòng chảy, huyết áp trong lòng mạch mà thành mạch đoạn bất thường giãn to dần.

Nguy cơ vỡ TP cũng tăng lên theo tỷ lệ thuận. Đa TP gặp trong khoảng 20 - 30% các bệnh nhân PĐMN. Trong trường hợp đa TP, chẩn đoán TP nào vỡ, TP nào chưa vỡ phải dựa vào một số đặc điểm: TP to, bờ thùy múi, lân cận vị trí máu tụ nhu mô hoặc vị trí máu dưới nhện dày nhất, ưu thế nhất… để ưu tiên điều trị trước [7]. Trước đây, phần lớn PĐMN chỉ được phát hiện khi vỡ gây chảy máu não (chủ yếu là CMDN).

Theo Charles Vega, có tới 58% BN biểu hiện triệu chứng CMDN là lần đầu tiên mà trước đó hoàn toàn không có triệu chứng gì. BN vào viện với triệu chứng chính của CMDN, do vậy tiên lượng thường xấu [16].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Điều trị phình động mạch não cổ rộng bằng can thiệp nội mạch (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/y-hoc/nghien-cuu-dieu-tri-phinh-dong-mach-nao-co-rong-can-thiep-noi-mach

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Điều trị phình động mạch não cổ rộng bằng can thiệp nội mạch" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án tiến sĩ nghiên cứu điều trị phình động mạch não cổ rộng bằng phương pháp can thiệp nội mạch, đánh giá hiệu quả và độ an toàn.

Luận án "Điều trị phình động mạch não cổ rộng bằng can thiệp nội mạch" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Điều trị phình động mạch não cổ rộng bằng can thiệp nội mạch" thuộc chuyên ngành Điện quang can thiệp thần kinh. Danh mục: Y Học.

Luận án "Điều trị phình động mạch não cổ rộng bằng can thiệp nội mạch" có bao nhiêu trang?

Luận án "Điều trị phình động mạch não cổ rộng bằng can thiệp nội mạch" có 175 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Điều trị phình động mạch não cổ rộng bằng can thiệp nội mạch" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter