Luận án tiến sĩ y học đánh giá kết quả can thiệp động mạch vành không thủ phạm c

Luận án: Luận án tiến sĩ y học đánh giá kết quả can thiệp động mạch vành không thủ phạm có hướng dẫn của phân số dự trữ vành ffr ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp

Chuyên ngành
Y học
Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án tiến sĩ

Số trang

171

Thời gian đọc

26 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Tối ưu can thiệp ĐMV ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên
Số trang:
171 trang
Chuyên ngành:
Y học
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Tối ưu can thiệp ĐMV ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên

Can thiệp động mạch vành qua da (PCI) thì đầu là phương pháp chính trong điều trị nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên (STEMI). Mục tiêu là mở thông nhánh động mạch vành (ĐMV) thủ phạm bị tắc cấp tính, cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân. Tuy nhiên, một tỷ lệ đáng kể, khoảng 40-60% bệnh nhân STEMI, có tổn thương nhiều nhánh ĐMV. Điều này có nghĩa là tồn tại ít nhất một nhánh ĐMV khác cũng bị hẹp, gọi là ĐMV không thủ phạm. Quan điểm truyền thống thường không can thiệp sớm các nhánh ĐMV không thủ phạm nếu bệnh nhân có huyết động ổn định, trừ các trường hợp sốc tim hoặc thiếu máu cơ tim rõ ràng. Mặc dù vậy, bệnh nhân STEMI kèm tổn thương nhiều nhánh ĐMV đối mặt với tỷ lệ tử vong và tái can thiệp cao hơn đáng kể so với những người chỉ tổn thương một nhánh. Nghiên cứu gần đây chỉ ra can thiệp sớm toàn bộ các nhánh ĐMV không thủ phạm bị hẹp giúp giảm biến cố tim mạch. Điều này thay đổi khuyến cáo hiện hành, thúc đẩy việc can thiệp ĐMV không thủ phạm trước khi bệnh nhân xuất viện.

1.1. Thách thức trong điều trị tổn thương đa nhánh ĐMV

Việc quản lý bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp có tổn thương nhiều nhánh động mạch vành đặt ra nhiều thách thức. Quyết định can thiệp sớm ĐMV không thủ phạm cần được cân nhắc kỹ lưỡng. Trước đây, lo ngại về nguy cơ biến cố do tính bất ổn định của mảng xơ vữa đã hạn chế việc can thiệp. Tuy nhiên, các bằng chứng mới cho thấy lợi ích của tái thông toàn bộ. Vấn đề là xác định nhánh ĐMV nào thực sự gây thiếu máu cơ tim khi có nhiều tổn thương hẹp. Hạn chế của việc chỉ dựa vào hình ảnh chụp mạch làm phức tạp quá trình đưa ra quyết định điều trị chính xác cho từng bệnh nhân.

1.2. Hạn chế của đánh giá hẹp hình thái động mạch vành

Chỉ định điều trị tái thông động mạch vành dựa đơn thuần vào đánh giá mức độ hẹp trên chụp mạch có nhiều hạn chế. Hiện tượng không đồng nhất giữa hẹp hình thái (trên ảnh chụp) và hẹp chức năng (gây thiếu máu cơ tim) thường xuyên xảy ra. Điều trị tái thông chỉ mang lại lợi ích thực sự khi tổn thương gây hẹp chức năng, ảnh hưởng đến dòng chảy máu đến cơ tim. Việc xác định mức độ hẹp chức năng là rất quan trọng để tránh can thiệp không cần thiết hoặc bỏ sót tổn thương có ý nghĩa lâm sàng. Phương pháp đo chức năng giúp tối ưu hóa việc lựa chọn can thiệp, đảm bảo hiệu quả điều trị và an toàn cho bệnh nhân.

II. Vai trò phân số dự trữ vành FFR hướng dẫn tái thông

Phân số dự trữ vành (FFR) đã trở thành một công cụ thăm dò xâm lấn quan trọng trong tim mạch can thiệp. FFR được coi là tiêu chuẩn vàng để đánh giá mức độ hẹp chức năng của động mạch vành thượng tâm mạc. Nó cung cấp thông tin khách quan về tác động sinh lý của tổn thương lên dòng chảy máu, từ đó hỗ trợ đưa ra quyết định có nên can thiệp tái thông hay không. Trước đây, FFR chủ yếu được ưu tiên áp dụng cho bệnh nhân có bệnh mạch vành ổn định. Tuy nhiên, xu hướng sử dụng FFR đã mở rộng. Các nghiên cứu gần đây đã chứng minh FFR mang lại lợi ích đáng kể trong việc hướng dẫn chỉ định can thiệp sớm động mạch vành không thủ phạm ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên. Nghiên cứu tiên phong như DANAMI3-PRIMULTI (2015) đã mở đường cho việc áp dụng phương pháp này. Việc tích hợp FFR vào thực hành lâm sàng đang trở thành một xu thế mới, đặc biệt trong các trường hợp tổn thương nhiều nhánh động mạch vành, nơi FFR được khuyến cáo sử dụng để hướng dẫn điều trị can thiệp.

2.1. Tiêu chuẩn vàng đánh giá hẹp chức năng động mạch vành

FFR đo áp suất trước và sau vị trí hẹp, tính toán tỷ lệ dòng máu tối đa chảy qua đoạn hẹp so với dòng chảy lý tưởng. Chỉ số FFR < 0.80 thường chỉ ra hẹp chức năng có ý nghĩa, cần can thiệp tái thông. Điều này giúp phân biệt rõ ràng giữa hẹp hình thái và hẹp chức năng, tránh các can thiệp không cần thiết hoặc bỏ qua những tổn thương nguy hiểm. Việc sử dụng FFR đảm bảo rằng chỉ những tổn thương thực sự gây thiếu máu cơ tim mới được điều trị, tối ưu hóa lợi ích lâm sàng và giảm thiểu rủi ro cho bệnh nhân.

2.2. Xu hướng ứng dụng FFR trong nhồi máu cơ tim cấp

Ứng dụng FFR để hướng dẫn can thiệp động mạch vành không thủ phạm ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên là một bước tiến quan trọng. Các thử nghiệm lâm sàng đã chứng minh chiến lược can thiệp toàn bộ có hướng dẫn của FFR giúp giảm các biến cố tim mạch lớn. Phương pháp này cung cấp một công cụ khách quan để đánh giá tổn thương ĐMV không thủ phạm, giúp bác sĩ đưa ra quyết định điều trị tối ưu. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh bệnh nhân STEMI đa nhánh có nguy cơ cao, cần một chiến lược tái thông toàn diện và chính xác.

III. Nghiên cứu FFR cho động mạch vành không thủ phạm tại Việt Nam

Tại Việt Nam, kỹ thuật đo phân số dự trữ vành (FFR) đã được triển khai rộng rãi ở một số trung tâm tim mạch lớn. Tuy nhiên, bằng chứng từ các nghiên cứu trong nước còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào đối tượng bệnh nhân có bệnh mạch vành ổn định. Câu hỏi đặt ra là liệu việc đánh giá FFR của động mạch vành không thủ phạm ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên, sau can thiệp thì đầu và trong cùng thời gian nằm viện, có khả thi và an toàn hay không. Hơn nữa, kết quả của chiến lược can thiệp toàn bộ có hướng dẫn của FFR ở nhóm đối tượng này tại Việt Nam vẫn chưa được làm rõ. Nghiên cứu này nhằm mục đích lấp đầy khoảng trống kiến thức này, cung cấp bằng chứng thực tế về việc áp dụng FFR trong môi trường lâm sàng Việt Nam. Đây là một bước quan trọng để tối ưu hóa phác đồ điều trị và cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên có tổn thương đa nhánh ĐMV.

3.1. Đánh giá tính khả thi và kết quả đo FFR tại Việt Nam

Nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá FFR của động mạch vành không thủ phạm có mức độ hẹp từ 50-90% ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên. Mục tiêu là xác định khả năng thực hiện kỹ thuật này một cách an toàn và hiệu quả trong bối cảnh lâm sàng Việt Nam. Các kết quả sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tính khả thi, độ tin cậy và các yếu tố liên quan đến việc đo FFR, góp phần tiêu chuẩn hóa quy trình và mở rộng ứng dụng của kỹ thuật này. Đặc biệt, nghiên cứu này sẽ đánh giá xem liệu chiến lược can thiệp toàn bộ có hướng dẫn của FFR có mang lại lợi ích tương tự như các nghiên cứu quốc tế.

3.2. Xác định vai trò FFR trong quyết định can thiệp ĐMV

Luận án này tập trung vào việc đánh giá vai trò của FFR trong việc hướng dẫn chỉ định can thiệp động mạch vành không thủ phạm ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên. FFR giúp xác định chính xác tổn thương gây hẹp chức năng, từ đó đưa ra quyết định điều trị tái thông hay bảo tồn. Điều trị bảo tồn các nhánh ĐMV không hẹp chức năng, mặc dù có hẹp hình thái, có được xem là an toàn hay không, đặc biệt khi còn lo ngại về tính bất ổn định của mảng xơ vữa. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng để tối ưu hóa quyết định can thiệp, đảm bảo bệnh nhân nhận được điều trị phù hợp nhất, tránh các thủ thuật không cần thiết và giảm nguy cơ biến cố.

IV. Đặc điểm bệnh nhân NMCT cấp có tổn thương nhiều nhánh ĐMV

Nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp có ST chênh lên là một dạng hội chứng vành cấp nghiêm trọng, chiếm khoảng một phần ba tổng số trường hợp. Nguyên nhân chủ yếu là tắc cấp tính hoàn toàn hoặc một phần lòng động mạch vành thủ phạm. Điều trị tái thông càng sớm càng tốt là yếu tố then chốt để cứu sống và cải thiện tiên lượng bệnh nhân. Chẩn đoán NMCT cấp ST chênh lên tuân theo định nghĩa toàn cầu lần thứ IV năm 2018. Một đặc điểm quan trọng của nhóm bệnh nhân này là tỷ lệ cao có tổn thương nhiều nhánh động mạch vành. Khoảng 40-60% bệnh nhân NMCT cấp ST chênh lên có ít nhất một nhánh động mạch vành khác ngoài nhánh thủ phạm cũng bị hẹp. Điều này làm tăng sự phức tạp trong quá trình điều trị và quản lý lâu dài cho bệnh nhân.

4.1. Tỷ lệ phổ biến của tổn thương đa nhánh ĐMV ở bệnh nhân NMCT

Nhiều nghiên cứu quốc tế và trong nước đã chỉ ra rằng tổn thương nhiều nhánh động mạch vành là khá phổ biến ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên. Ví dụ, nghiên cứu của Savic (2019) trên 3.115 bệnh nhân ghi nhận 56,6% có tổn thương nhiều nhánh. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Dương Thị Mỹ Hảo (2018) trên 346 bệnh nhân cũng cho thấy 57,5% có đa nhánh. Những số liệu này khẳng định rằng đây là một vấn đề y tế công cộng đáng kể, đòi hỏi các chiến lược chẩn đoán và điều trị toàn diện hơn để cải thiện kết quả lâm sàng.

4.2. Yếu tố lâm sàng liên quan đến bệnh ĐMV đa nhánh

Bệnh nhân nhồi máu cơ tim có tổn thương nhiều nhánh động mạch vành thường có một số đặc điểm lâm sàng riêng biệt so với bệnh nhân chỉ tổn thương một nhánh. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhóm bệnh nhân này thường có tuổi cao hơn (trung bình 62 tuổi so với 56 tuổi). Ngoài ra, tỷ lệ mắc các bệnh lý đi kèm như tăng huyết áp cũng cao hơn đáng kể (72,4% so với 60,2%). Những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến tiên lượng và chiến lược điều trị cho bệnh nhân, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá toàn diện và cá thể hóa.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tiến sĩ y học đánh giá kết quả can thiệp động mạch vành không thủ phạm có hướng dẫn của phân số dự trữ vành ffr ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp có st chênh lên

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (171 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

1 ĐẶT VẤN ĐỀ Can thiệp động mạch vành qua da thì đầu trong nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên nhằm mở thông càng sớm càng tốt nhánh động mạch vành thủ phạm bị tắc cấp tính đã được chứng minh qua nhiều thử nghiệm lâm sàng giúp cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân [1],[2],[3],[4]. Bên cạnh đó, 40-60% trường hợp có tổn thương nhiều nhánh động mạch vành, nghĩa là còn hẹp thêm ít nhất một nhánh động mạch vành khác, gọi là động mạch vành không thủ phạm [5],[6],[7],[8]. Quan điểm trước đây là không can thiệp sớm (trong cùng thì đầu hoặc trong cùng thời gian nằm viện) động mạch vành không thủ phạm còn hẹp nếu bệnh nhân có tình trạng huyết động ổn định, trừ trường hợp sốc tim, hoặc còn triệu chứng đau thắt ngực, hoặc có bằng chứng thiếu máu cơ tim trên thăm dò không xâm lấn [9],[10],[11],[12]. Tuy nhiên người ta thấy bệnh nhân nhồi máu cơ tim kèm tổn thương nhiều nhánh động mạch vành có tỷ lệ tử vong và tỷ lệ tái can thiệp cao hơn đáng kể so với bệnh nhân chỉ tổn thương một nhánh [5],[6],[7],[8].

Can thiệp sớm động mạch vành không thủ phạm còn hẹp 50% (hay can thiệp toàn bộ) giúp giảm biến cố tim mạch cho bệnh nhân đã được chứng minh qua các nghiên cứu [13],[14]. Do đó hiện nay can thiệp sớm động mạch vành không thủ phạm còn hẹp được khuyến cáo chỉ định trước khi bệnh nhân ra viện [2]. Tuy nhiên, quyết định điều trị tái thông nếu chỉ dựa đơn thuần vào đánh giá mức độ hẹp trên chụp mạch còn có hạn chế do luôn có hiện tượng không đồng nhất giữa hẹp hình thái và hẹp chức năng. Trong khi đó, điều trị tái thông mang lại lợi ích khi tổn thương có gây hẹp chức năng [15].

Ngoài ra, trong trường hợp còn hẹp nhiều nhánh, viẹc xác định đâu là nhánh động mạch vành còn gây thiếu máu cơ tim không dễ dàng. Đo phân số dự trữ vành (FFR: Fractional Flow Reserve) là một phương pháp thăm dò xâm lấn cho đến nay vẫn được coi là tiêu chuẩn vàng để đánh giá hẹp chức năng động mạch vành thượng tâm mạc, từ đó đưa ra hướng dẫn chỉ định có hay không can thiệp [16],[15],[17]. Trước đây FFR chỉ được ưu 2 tiên áp dụng ở bệnh nhân có bệnh mạch vành ổn định [16],[15],[17] nhưng gần đây việc sử dụng FFR để hướng dẫn chỉ định can thiệp sớm động mạch vành không thủ phạm ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp ST chênh đã cho thấy mang lại lợi ích qua các nghiên cứu trên thế giới [18],[19],[20] mà mở đầu là nghiên cứu DANAMI3-PRIMULTI (2015) [18]. Đây là một xu thế mới trong nghiên cứu cũng như trong thực hành lâm sàng, đặc biệt khi FFR đã được khuyến cáo sử dụng để hướng dẫn chỉ định điều trị can thiệp trong tổn thương nhiều nhánh [3].

Tại Việt Nam, kỹ thuật đo FFR đã được triển khai nhưng bằng chứng từ các nghiên cứu cũng chỉ hạn chế ở đối tượng có bệnh mạch vành ổn định. Vậy câu hỏi đang được quan tâm là ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên có tổn thương nhiều nhánh, sau can thiệp thì đầu ổn định: đánh giá phân số dự trữ vành (FFR) của động mạch vành không thủ phạm trong cùng thời gian nằm viện như thế nào và liệu có khả thi ? Can thiệp sớm động mạch vành không thủ phạm còn hẹp chức năng (hay chiến lược can thiệp toàn bộ có hướng dẫn của FFR) có kết quả ra sao ? Điều trị bảo tồn động mạch vành không hẹp chức năng mặc dù hẹp hình thái liệu có an toàn, nhất là khi còn quan điểm lo ngại nguy cơ biến cố do tính bất ổn định của mảng xơ vữa. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá kết quả can thiệp động mạch vành không thủ phạm có hƣớng dẫn của phân số dự trữ vành (FFR) ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên” với hai mục tiêu: 1| Đánh giá phân số dự trữ vành (FFR) của động mạch vành không thủ phạm hẹp từ 50-90% ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên. 2| Đánh giá vai trò của FFR trong hướng dẫn chỉ định can thiệp động mạch vành không thủ phạm ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên.

3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 | Đặc điểm nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên có tổn thƣơng nhiều nhánh động mạch vành 1.1 | Đặc điểm chung Nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp có ST chênh lên chiếm khoảng 1/3 số trường hợp hội chứng vành cấp [21], thường do tắc cấp tính hoàn toàn/một phần lòng động mạch vành (ĐMV) - gọi là ĐMV thủ phạm với đặc trưng có hình ảnh đoạn ST chênh lên mới xuất hiện trên điện tâm đồ, cần điều trị tái thông càng sớm càng tốt [1],[2],[3]. Chẩn đoán NMCT cấp ST chênh lên hiện theo định nghĩa toàn cầu lần thứ IV năm 2018 về NMCT cấp [22]. Trong số bệnh nhân NMCT cấp ST chênh lên, khoảng 40-60% trường hợp có tổn thương nhiều nhánh ĐMV.1: Tỷ lệ bệnh nhân NMCT có tổn thương nhiều nhánh ĐMV. Bệnh nhân NMCT có ST chênh lên Tác giả Năm N Tổn thương nhiều Tổn thương một nhánh ĐMV (%) nhánh ĐMV (%) Savic [23] 2019 3.115 56,6 43,4 Dương Thị Mỹ Hảo [24] 2018 346 57,5 42,5 Lê Cao Phương Duy [25] 2018 92 41,3 58,7 Waha [26] 2017 738 46,3 53,7 Park [8] 2014 28.598 51,5 48,5 Ghi chú: N, số bệnh nhân trong nghiên cứu.

Về đặc điểm lâm sàng: bệnh nhân NMCT có tổn thương nhiều nhánh ĐMV so với bệnh nhân chỉ tổn thương 1 nhánh ĐMV thường có tuổi cao hơn (62 so với 56 tuổi, p<0,001); hay có tăng huyết áp (THA) (72,4% so với 60,2%, 4 p<0,001), thường có đái tháo đường (ĐTĐ) (23,4% so với 14,6%, p<0,001), nhưng tỷ lệ gặp rối loạn lipid máu (RLLM) không khác biệt (61,6% so với 59,5%, p=0,23); hay có tình trạng suy tim lúc nhập viện (15,5% sv 8,7%, p<0,001) [23] với độ Killip ≥ 2 gặp nhiều hơn (17% so với 6%, p=0,001) [28], trong khi huyết áp (HA) và nhịp tim lúc nhập viện không có sự khác biệt [23]. Về đặc điểm cận lâm sàng: điện tâm đồ gặp hình ảnh NMCT thành trước với tỷ lệ không khác biệt (39,2% so với 41,8%, p=0,41) [23] nhưng đoạn ST còn chênh sau can thiệp hay gặp hơn (13,3 so với 7,4%, p=0,01) [5], siêu âm tim có phân suất tống máu thất trái (LVEF: left ventricular ejection fraction) giảm hơn (45,99,4% so với 49,611,6%, p=0,001), và tỷ lệ bệnh nhân có LVEF<40% gặp nhiều hơn (21% so với 11%, p=0,01) [28], trong khi các dấu ấn sinh học (troponin T, CK-MB) nhìn chung tăng không khác biệt giữa 2 nhóm [6],[23],[28]. Tiên lƣợng ngắn hạn của bệnh nhân NMCT có tổn thương nhiều nhánh ĐMV kém hơn [5] vì có thể vẫn còn các mảng xơ vữa (MXV) không ổn định trên ĐMV còn hẹp khác [29], hoặc giảm tưới máu cơ tim do suy chức năng nội mạc, co thắt hệ thống vi mạch, do yếu tố viêm [30], hoặc do giảm khả năng co bóp của cả vùng cơ tim không bị nhồi máu [31]. Tiên lƣợng dài hạn của bệnh nhân NMCT có tổn thương nhiều nhánh ĐMV cũng kém hơn do bệnh nhân thường có tuổi cao hơn, có nhiều yếu tố nguy cơ (YTNC) bệnh mạch vành hơn, tổn thương cả động mạch (ĐM) ngoại biên, và LVEF giảm hơn [23].

Theo Van der Schaaf và cộng sự (cs. Nguyên nhân có thể do thiếu máu cục bộ vẫn tiếp diễn ở những vùng cơ tim được tưới máu bởi những ĐMV không thủ phạm còn hẹp khác [32].2: Tỷ lệ BCTM ở bệnh nhân NMCT cấp ST chênh lên có tổn thương nhiều nhánh ĐMV.373 90 ngày 6,3 3,1 <0,001 Van der Schaaf [28] 2006 395 8 năm 32 19 =0,002 Ghi chú: N: số lượng bệnh nhân trong nghiên cứu; BCTM: biến cố tim mạch.2 | Động mạch vành thủ phạm và chiến lƣợc can thiệp động mạch vành qua da thì đầu 1.1 | Đặc điểm tổn thương động mạch vành thủ phạm Huyết khối: vào những giờ đầu của NMCT, khi chụp ĐMV thường thấy hình ảnh ĐMV thủ phạm bị tắc một phần hoặc hoàn toàn do huyết khối. Hình ảnh huyết khối gặp ở 91,6% ĐMV không thủ phạm và có thể làm cho mức độ hẹp bị đánh giá quá mức. Gánh nặng huyết khối là yếu tố quan trọng tiên lượng bệnh [33].

Manoharan và cs. (2009) [34] nhận thấy sau hút huyết khối, ĐMV thủ phạm có mức độ hẹp đường kính lòng mạch trung bình 66±12%, chỉ khoảng 10% trường hợp hẹp < 50%. Huyết khối này được hình thành trên 3 nền tổn thương chính [35]: MXV bị vỡ (hay gặp nhất 55-60%); MXV bị bào mòn (30-35%); Nốt canxi hoá bị vỡ (ít gặp, 2-7%). Dòng chảy: ĐMV thủ phạm bị tắc cấp nên không có dòng chảy (TIMI-0) hoặc dòng chảy chậm hơn bình thường (TIMI 1-2) theo thang điểm TIMI (Thrombolysis In Myocardial Infarction) [36].

Điện tâm đồ: vùng co tim tuong ứng bị thiếu máu đọt ngọt gây nên tình trạng hoại tử co tim lan rọng suốt chiều dày của thành cơ tim, tổn thuong xuyên 6 thành biểu hiẹn trên điện tâm đồ là hình ảnh đoạn ST chênh lên. Định khu vùng NMCT theo vị trí biến đổi đoạn ST trên điện tâm đồ như sau [37]: Bảng 1.3: Định khu vùng NMCT trên điện tâm đồ. Vị trí ST chênh lên Vùng nhồi máu V1-V4/V5 thành trước V1-V3 trước vách V1-V6 và I, aVL trước bên V5-V6 và I, aVL thành bên DII, DIII, aVF và V5-V6 dưới bên DII, DIII, aVF thành dưới V3R-V4R thất phải DII, DIII, aVF, V1-V3 vùng dưới vách V7,V8,V9 thành sau Như vậy có thể dễ dàng xác định được ĐMV thủ phạm trong NMCT cấp ST chênh lên dựa vào điện tâm đồ 12 chuyển đạo và hình ảnh chụp ĐMV [22],[38]. Siêu âm tim hỗ trợ chẩn đoán trong trường hợp chưa chắc chắn qua đánh giá rối loạn vạn đọng vùng để gợi ý nhánh ĐMV thủ phạm, nhưng không nên chờ siêu âm tim nếu điều này làm trì hoãn việc chụp ĐMV.

Trong trường hợp tổn thương nhiều nhánh ĐMV, siêu âm tim có thể đánh giá không đúng mức (quá cao hoạc quá thấp) số luợng vùng co tim bị thiếu máu cục bọ hoạc nhồi máu vì còn phụ thuọc vào hoạt đọng của các vùng co tim lân cạn, các điều kiẹn tải, và tình trạng đờ co tim [39]. Khác với trong NMCT không ST chênh lên có tới 15- 51% trường hợp không xác định được ĐMV thủ phạm, vì cùng lúc hẹp nặng nhiều nhánh ĐMV, hoặc hệ ĐMV hẹp không đáng kể [40]. 7 ĐMV thủ phạm hay gặp nhất là ĐM liên thất trước (LAD: left ascending coronry artery), tiếp đến là ĐMV phải (RCA: right coronary artery), và ít gặp hơn là ĐM mũ (LCx: Left circumflex coronary artery). Ghanim và cs.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Luận án tiến sĩ y học đánh giá kết quả can thiệp động mạch v (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/y-hoc/luan-an-tien-si-y-hoc-danh-gia-ket-qua-can-thiep-dong-mach-vanh-khong-thu-pham-co-huong-dan-cua-phan-so-du-tru-vanh-ffr-o-benh-nhan-nhoi-mau-co-tim-cap-co-st-chenh-len

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Luận án tiến sĩ y học đánh giá kết quả can thiệp động mạch v" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án: Luận án tiến sĩ y học đánh giá kết quả can thiệp động mạch vành không thủ phạm có hướng dẫn của phân số dự trữ vành ffr ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp

Luận án "Luận án tiến sĩ y học đánh giá kết quả can thiệp động mạch v" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Luận án tiến sĩ y học đánh giá kết quả can thiệp động mạch v" thuộc chuyên ngành Y học. Danh mục: Y Học.

Luận án "Luận án tiến sĩ y học đánh giá kết quả can thiệp động mạch v" có bao nhiêu trang?

Luận án "Luận án tiến sĩ y học đánh giá kết quả can thiệp động mạch v" có 171 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Luận án tiến sĩ y học đánh giá kết quả can thiệp động mạch v" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter