Luận án tiến sĩ: Kết quả phẫu thuật cố định thể thủy tinh nhân tạo vào thành củng mạc có sử dụng đèn soi nội nhãn
Luận án tiến sĩ đánh giá kết quả phẫu thuật cố định thể thủy tinh nhân tạo vào củng mạc bằng đèn soi nội nhãn.
Luan An
Số trang
165
Thời gian đọc
25 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Tổng quan cố định thể thủy tinh củng mạc bằng đèn soi
- Số trang:
- 165 trang
- Chuyên ngành:
- Nhãn khoa
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Tổng quan cố định thể thủy tinh củng mạc bằng đèn soi
Nhãn cầu là hệ thống quang học tinh vi. Cấu trúc này gồm giác mạc, thể thủy tinh và dịch kính. Chấn thương hoặc bệnh lý làm tổn thương các thành phần này. Thị lực của mắt bị suy giảm nghiêm trọng. Việc phục hồi hệ thống quang học là mục tiêu hàng đầu. Phẫu thuật cố định thể thủy tinh củng mạc giúp đưa kính nhân tạo về vị trí sinh lý rãnh thể mi. Vị trí này tái tạo giải phẫu tự nhiên. Mắt phục hồi thị lực tối ưu sau can thiệp. Rãnh thể mi nằm khuất sau mống mắt. Kính hiển vi thông thường khó quan sát vùng này. Sự xuất hiện của đèn soi nội nhãn tạo bước đột phá lớn. Dụng cụ này chiếu sáng trực tiếp vùng rãnh thể mi và pars plana. Phẫu thuật viên thao tác chuẩn xác hơn. Thị lực bệnh nhân được cải thiện rõ rệt.
1.1. Vai trò của rãnh thể mi trong giải phẫu nhãn khoa
Rãnh thể mi là ranh giới giữa mống mắt và thể mi. Vị trí này nằm gần xích đạo thể thủy tinh tự nhiên. Đặt kính nhân tạo tại rãnh thể mi đem lại độ sâu tiền phòng sinh lý. Quang sai quang học giảm thiểu đáng kể. Kính đặt đúng trục giải phẫu giúp hạn chế lệch trục quang học. Đồng thời, bờ mống mắt không bị cọ xát cơ học. Mắt tránh được tình trạng viêm màng bồ đào kéo dài. Nhãn áp được duy trì ở mức ổn định. Khả năng phục hồi thị lực của bệnh nhân đạt mức tối đa. Do đó, việc định vị chính xác vào rãnh thể mi đóng vai trò then chốt trong phẫu thuật tái tạo bán phần trước nhãn cầu.
1.2. Hạn chế của các phương pháp quan sát truyền thống
Kính hiển vi phẫu thuật truyền thống cung cấp nguồn sáng đồng trục. Ánh sáng chỉ rọi thẳng qua lỗ đồng tử. Vùng ngoại vi bán phần sau và rãnh thể mi bị mống mắt che khuất. Bác sĩ thường phải ước lượng vị trí đâm kim qua củng mạc. Thao tác mù dễ gây tổn thương thể mi và võng mạc ngoại vi. Nguy cơ xuất huyết nội nhãn tăng cao. Giác mạc phù đục hoặc đồng tử co nhỏ làm giảm tầm nhìn nghiêm trọng. Việc kiểm soát vị trí càng IOL trở nên khó khăn. Thiếu tầm nhìn trực tiếp làm tăng tỷ lệ biến chứng phẫu thuật.
II. Chỉ định treo IOL củng mạc khi rách bao sau thể thủy tinh
Nhiều bệnh lý và tai biến nhãn khoa dẫn đến mất giá đỡ thể thủy tinh. Tình trạng rách bao sau thể thủy tinh do biến chứng mổ Phaco là nguyên nhân phổ biến. Đứt dây Zinn diện rộng do chấn thương mắt cũng làm bao nâng đỡ mất chức năng. Phẫu thuật treo IOL củng mạc là giải pháp tối ưu cho các ca bệnh này. Kỹ thuật giúp cố định chắc chắn thấu kính vào thành nhãn cầu mà không cần sự nâng đỡ của bao thể thủy tinh. Phương pháp này áp dụng linh hoạt cho cả người lớn lẫn trẻ em. Tình trạng mất thể thủy tinh được giải quyết triệt để. Thị trường và thị lực của mắt được phục hồi toàn diện.
2.1. Đánh giá tổn thương bao sau và đứt hệ thống dây Zinn
Khám tiền phẫu đòi hỏi đánh giá toàn diện tình trạng bao sau. Bác sĩ kiểm tra mức độ thiếu hụt bao bằng sinh hiển vi. Dây Zinn bị đứt trên 180 độ không còn đủ khả năng giữ kính nội nhãn hậu phòng. Bao sau rách rộng khiến chất nhân hoặc dịch kính tràn vào tiền phòng. Tình trạng phù giác mạc thứ phát cần được ghi nhận kỹ. Siêu âm mắt hỗ trợ khảo sát toàn bộ bán phần sau. Bác sĩ xác định chính xác tổn thương trước khi lập kế hoạch can thiệp. Việc đánh giá chuẩn xác giúp lựa chọn phương pháp treo kính phù hợp.
2.2. Lợi ích vượt trội của đặt IOL hậu phòng sinh lý
Đặt IOL tiền phòng dễ gây loạn dưỡng nội mô giác mạc và tăng nhãn áp. Ngược lại, đưa IOL về buồng hậu phòng bảo vệ toàn vẹn tế bào nội mô. Khoảng cách giữa thấu kính và giác mạc được giữ ở mức an toàn. Nguy cơ dính góc tiền phòng và thoái hóa biểu mô giảm đáng kể. Bệnh nhân ít bị biến dạng đồng tử hoặc xuất huyết tiền phòng tái phát. Khúc xạ sau mổ đạt độ ổn định lâu dài. Chất lượng thị giác của người bệnh vượt trội so với các kỹ thuật đặt kính trước mống mắt.
III. Ứng dụng chandelier illumination nhãn khoa khi mổ IOL
Hệ thống chiếu sáng đóng vai trò quyết định trong phẫu thuật nội nhãn. Thiết bị chandelier illumination nhãn khoa cung cấp nguồn sáng rộng và liên tục. Nguồn sáng được đưa qua cổng trocar tại pars plana. Kỹ thuật này giải phóng hai tay cho phẫu thuật viên thao tác. Hình ảnh rãnh thể mi và đáy mắt hiển thị sắc nét dưới đèn soi nội nhãn. Phẫu thuật viên quan sát trực tiếp đường đi của kim xuyên qua củng mạc. Mọi can thiệp trong mắt diễn ra an toàn và chuẩn xác. Thời gian phẫu thuật rút ngắn đáng kể. Nguy cơ tổn thương mô lành giảm tối đa.
3.1. Kỹ thuật đặt trocar chiếu sáng vùng pars plana
Trocar kích thước 25G hoặc 27G được đặt qua pars plana cách rìa giác mạc 3.5mm đến 4.0mm. Vị trí chọc kim nghiêng góc tạo van củng mạc tự liền. Đầu đèn chiếu sáng chandelier được đưa cố định qua cổng trocar. Ánh sáng khuếch tán đều khắp buồng dịch kính và mặt sau mống mắt. Phẫu thuật viên không cần người phụ cầm nguồn sáng cầm tay. Vùng mổ luôn đạt độ sáng lý tưởng. Thao tác đặt trocar chuẩn xác giúp tránh rách võng mạc chu biên và bảo toàn nhãn áp trong suốt quá trình mổ.
3.2. Kiểm soát không gian mổ trong điều kiện giác mạc đục
Nhiều ca chấn thương mắt đi kèm phù đục biểu mô giác mạc hoặc sẹo cũ. Kính hiển vi thông thường không thể chiếu sáng xuyên qua lớp giác mạc mờ. Nguồn sáng nội nhãn chandelier chiếu sáng ngược từ bên trong ra ngoài. Phẫu thuật viên nhìn rõ bóng của các cấu trúc thể mi và vị trí càng kính. Sự hỗ trợ của ánh sáng nội nhãn khắc phục hoàn toàn rào cản từ môi trường trong suốt bị đục. Ca phẫu thuật diễn ra thuận lợi mà không cần can thiệp gọt biểu mô giác mạc không cần thiết.
IV. Quy trình khâu thể thủy tinh vào củng mạc và vát rãnh
Phẫu thuật viên thực hiện kỹ thuật khâu thể thủy tinh vào củng mạc với sự trợ giúp của ánh sáng nội nhãn. Chỉ Prolene 10-0 hoặc 9-0 được luồn cẩn thận qua càng thấu kính. Mối chỉ được vùi sâu trong lòng củng mạc hoặc dưới vạt củng mạc hình tam giác. Kỹ thuật này ngăn ngừa lộ mối chỉ gây viêm củng mạc hoại tử. Ngoài phương pháp khâu chỉ truyền thống, xu hướng cố định IOL không khâu ngày càng phát triển. Mỗi phương pháp đều hướng đến mục tiêu cố định IOL vững chắc. Vị trí thấu kính được định vị cân đối tại tâm quang học.
4.1. Kỹ thuật tạo vạt củng mạc và luồn chỉ cố định IOL
Phẫu thuật viên bóc tách kết mạc tại hai vị trí đối xứng 180 độ. Hai vạt củng mạc dày 1/2 độ dày được phẫu tích tỉ mỉ. Kim mang chỉ Prolene đâm xuyên củng mạc vào rãnh thể mi dưới sự kiểm soát của đèn soi. Chỉ được móc qua càng IOL 3 mảnh và kéo ra ngoài. Thao tác siết chỉ được thực hiện với lực căng vừa phải. Nút chỉ được chôn hoàn toàn trong nền củng mạc trước khi khâu phủ kết mạc. Kỹ thuật này đảm bảo độ bền cơ học và tính thẩm mỹ cao cho mắt.
4.2. Xu hướng phát triển của cố định IOL không dùng chỉ
Các kỹ thuật cố định thấu kính không dùng chỉ mang lại nhiều bước tiến y khoa. Kỹ thuật Yamane luồn trực tiếp càng IOL vào kim dẫn đường qua củng mạc. Đầu càng IOL được đốt nhiệt tạo hình mặt nấm để tự neo giữ trong lòng củng mạc. Phương pháp này loại bỏ hoàn toàn nguy cơ đứt chỉ hoặc viêm nhiễm do mối chỉ sau nhiều năm. Thời gian phẫu thuật được rút ngắn rõ rệt. Bệnh nhân hồi phục nhanh chóng với thị lực sau mổ ổn định cao.
V. Cắt dịch kính qua pars plana xử lý thể thủy tinh lệch
Hiện tượng thể thủy tinh nhân tạo lệch hoặc rơi vào buồng dịch kính đòi hỏi quy trình xử lý phức tạp. Phẫu thuật viên tiến hành cắt dịch kính qua pars plana nhằm dọn sạch dịch kính trước và sau. Thao tác cắt dịch kính kỹ lưỡng giúp giải phóng hoàn toàn các dải dịch kính co kéo lên võng mạc. Thấu kính bị lệch được nâng lên tiền phòng và cố định lại chắc chắn vào củng mạc. Quy trình phối hợp đa kỹ thuật đảm bảo an toàn tuyệt đối cho đáy mắt. Nguy cơ bong võng mạc sau phẫu thuật được kiểm soát triệt để.
5.1. Dọn sạch dịch kính buồng trước và giải phóng co kéo
Cắt dịch kính triệt để tại vùng rãnh thể mi và diện đồng tử là yêu cầu bắt buộc. Đầu cắt dịch kính tốc độ cao loại bỏ màng dịch kính dính vào mép mổ. Dịch kính không còn cơ hội kẹt vào vết rạch củng mạc hay lỗ vào giác mạc. Áp lực hút dịch kính được điều chỉnh tự động nhằm tránh rung lắc võng mạc. Không gian buồng sau trở nên quang đãng và an toàn. Phẫu thuật viên dễ dàng thao tác đưa thấu kính mới vào vị trí cố định mà không gây phản ứng viêm thứ phát.
5.2. Phục hồi thị lực và phòng ngừa biến chứng đáy mắt
Kiểm tra đáy mắt toàn diện bằng đèn soi nội nhãn ngay sau khi treo kính. Bác sĩ đánh giá cẩn thận vùng võng mạc ngoại vi nhằm phát hiện sớm các vết rách tiềm ẩn. Laser quang đông dự phòng được thực hiện tức thì nếu có tổn hại võng mạc. Nhờ đó, thị lực của người bệnh phục hồi nhanh chóng và duy trì ổn định. Các biến chứng như xuất huyết dịch kính hoặc phù hoàng điểm dạng nang được hạn chế ở mức thấp nhất. Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân được nâng cao.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (165 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộ1 ĐẶT VẤN ĐỀ Nhãn cầu là một hệ thống quang học cấu tạo rất tinh vi, trong đó những thành phần quang học của hệ thống này có chiết suất khác nhau bao gồm phim nước mắt, giác mạc, thể thủy tinh, dịch kính.Trên mắt chấn thương và do các nguyên nhân khác mà một hoặc nhiều cấu trúc này không còn nguyên vẹn sẽ dẫn đến sự khiếm khuyết trong hệ thống quang học của nhãn cầu và chức năng thị giác suy giảm. Trong trường hợp nhãn cầu không còn thể thủy tinh, đeo kính gọng, đặt thể thủy tinh nhân tạo tiền phòng, hậu phòng là các phương pháp được đề xuất nhằm khôi phục hệ thống quang học của nhãn cầu, trong đó đặt thể thủy tinh nhân tạo hậu phòng vào vị trí sinh lý của thể thủy tinh là rãnh thể mi là mong muốn của các phẫu thuật viên. Thực tế cho thấy, trên những bệnh nhân mất thể thủy tinh, không còn cấu trúc bao sau hoặc cấu trúc bao sau không còn khả năng đỡ thể thủy tinh nhân tạo, phẫu thuật cố định thể thủy tinh nhân tạo vào thành củng mạc với vị trí càng của thể thủy tinh nhân tạo đặt trong rãnh thể mi,là vị trí gần với vị trí giải phẫu tự nhiên của thể thủy tinh, giúp khôi phục cấu trúc sinh lý của nhãn cầu, do vậy cho kết quả giải phẫu cũng như kết quả thị lực tốt nhất. Rãnh thể mi là một cấu trúc của nhãn cầu không thể quan sát được với các phương tiện khám bệnh thông thường như sinh hiển vi khám bệnh, kính hiển vi gián tiếp, kính hiển vi phẫu thuật.
Đèn soi nội nhãn là một dụng cụ mới cho phép bác sỹ nhãn khoa quan sát các cấu trúc bên trong nhãn cầu một cách chi tiết, đặc biệt là những cấu trúc nằm ở vùng ngoại vi xa như võng mạc ngoại vi, pars plana, thể mi và khe thể mi. Phương tiện này là cách thức duy nhất để tiếp cận các cấu trúc ở bán phần sau trong những điều kiện đặc biệt như trong các bệnh 2 lý bán phần trước như giác mạc mờ đục, đồng tử co nhỏ, bất thường thể thủy tinh, giúp phẫu thuật viên có thể quan sát và thực hiện các phẫu thuật nội nhãn dễ dàng, chính xác hơn, nâng cao chất lượng phẫu thuật và hiệu quả điều trị đối với bệnh nhân. Vì vậy chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu kết quả của phẫu thuật cố định thể thủy tinh nhân tạo vào thành củng mạc có sử dụng đèn soi nội nhãn” kết hợp kỹ thuật khâu dấu chỉ trong lòng củng mạc nhằm nâng cao tính chính xác của phẫu thuật, hạn chế biến chứng sau phẫu thuật từ đó nâng cao hiệu quả điều trị, tối ưu hóa thị lực cho bệnh nhân với các mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng của những mắt mất thể thủy tinh và cấu trúc bao sau.
Đánh giá kết quả của phẫu thuật cố định thể thủy tinh nhân tạo vào thành củng mạc có sử dụng đèn soi nội nhãn. Phân tích các yếu tố liên quan đến kết quả phẫu thuật. 3 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm giải phẫu và sinh lý các cấu trúc giải phẫu của nhãn cầu liên quan đến phẫu thuật, nguyên nhân mất bao sau của thể thủy tinh 1.
Thể thủy tinh Thể thủy tinh một cấu trúc lồi 2 mặt nằm giữa mống mắt ở trước và dịch kính ở sau. Mặt sau TTT cong hơn mặt trước. Ở người trưởng thành, TTT có đường kính khoảng 10mm và dày 4mm. Cách xích đạo TTT một khoảng 0,5mm là các tua thể mi của thể mi.
Bao trước TTT dày hơn bao sau và tăng chiều dày trong suốt cuộc đời. Ở xích đạo TTT, các dây chằng cố định (dây Zinn), xuất phát từ thể mi, bám vào bao TTT theo một vùng rộng 2,5mm. Các sợi dây chằng chia thành 2 phần, phần sau xuất phát từ chỗ lõm của pars plana và phần trước xuất phát từ thung lũng giữa các tua thể mi và từ các tua thể mi đến TTT. Đường liên kết Bao trước Chất nhân Xích đạo Nhân trung tâm Bao sau Biểu mô Hình 1.
Giải phẫu vi thể thủy tinh thể [1] Chiết suất TTT thay đổi từ 1.406 ở vùng trung tâm đến 1.386 ở vùng ngoại vi. Nguyên nhân là do những sợi tế bào gần bề mặt có chiết suất khúc xạ thấp hơn những sợi nằm ở sâu, vì vậy làm giảm quang sai cầu và tăng chất lượng tập trung ánh sáng. TTT ngăn cản phần lớn tia cực tím có bước sóng dao động 300-400nm. Những ánh sáng có bước sóng ngắn hơn sẽ bị ngăn lại bởi giác mạc.
Ánh sáng có mật độ tia cực tím cao có thể gây tổn hại võng 4 mạc, vì vậy TTT nhân tạo được thiết kế để ngăn chặn những tia cực tím này [1]. Trên những người không có TTT (do nhiều nguyên nhân khác nhau), tia cực tím sẽ đi vào nhãn cầu giống các ánh sáng có bước sóng dài hơn như ánh sáng trắng, do vậy gây tổn hại cho các cấu trúc nội nhãn [2]. Khe thể mi 1. Thể mi Thể mi chạy vòng quanh mặt trong nhãn cầu và có hình tam giác ở mặt cắt ngang.
Cạnh trước của thể mi là cựa củng mạc, nằm lui về phía sau vùng rìa khoảng 1,5mm ở kinh tuyến ngang và 2mm ở kinh tuyến dọc. Nơi tận hết của thể mi tiếp nối với vùng ora serrata, cách vùng rìa 7,5-8mm phía thái dương, 6,5 - 7mm phía mũi, 7mm phía dưới và phía trên. Đây cũng gần tương ứng với vị trí bám của các cơ trực. Ở phía trước và phía ngoài, thể mi tạo nên phần sau của góc tiền phòng.
Mống mắt bám vào mặt trước và trong của thể mi. Ở phía trong, thể mi nằm tự do và hơi ở phía trước xích đạo thể thủy tinh. Ở phía ngoài, nó liền kề với củng mạc với sự có mặt của khoang thượng hắc mạc ngăn cách giữa 2 cấu trúc này. Mặt trong của thể mi tiếp xúc với dịch kính.
Khoang trống được tạo bởi mặt sau của mống mắt và mặt trước trong chỗ lồi ra của tua thể mi được gọi là rãnh thể mi, hơi hướng ra trước. Khe thể mi Khe thể mi được tạo nên bởi mặt sau chân mống mắt từ vị trí xuất phát ở thể mi. Khe này được giới hạn ở phía sau bởi các tua thể mi và ở phía trong bởi dây chằng Zinn và hai mặt của thể thủy tinh ở vị trí xích đạo [3]. Các yếu tố giải phẫu này làm cho khe thể mi trở thành một vị trí phù hợp để đặt càng của thể thủy tinh nhân tạo.
Cho dù vị trí lý tưởng để đặt thể thủy tinh nhân tạo là trong túi bao, nhưng điều này không thể thực hiện được nếu nhãn cầu không còn cấu trúc bao hoặc hệ thống dây chằng Zinn tổn thương rộng, không đủ chắc chắn để nâng đỡ thể thủy tinh nhân tạo, ví dụ như trong hội chứng giả bong bao. Giải phẫu khe thể mi[4] Năm 1993, Orgul S.I và cộng sự đã sử dụng siêu âm xác định chính xác ranh giới khe thể mi trên mắt tử thi, nghiên cứu được thực hiện trên tổng số 44 mắt, kết quả thu được ghi nhận trục nhãn cầu trung bình trong nghiên cứu là 22,87 ± 0,86mm, đường kính khe thể mi dao động 10,56 – 11,90 mm, trong đó đường kính trung bình khe thể mi tại kinh tuyến ngang là 11,08 ± 0,37mm, kinh tuyến đứng 11,39 ± 0,42mm, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Chiều dài trục nhãn cầu có tương quan tuyến tính thuận với đường kính khe thể mi. Đường kính thể mi rất dao động phù hợp nhiều nhóm kích thước nhãn cầu khác nhau, nhãn cầu có trục ngắn hơn thì đường kính thể mi nhỏ hơn [4].
Blum và cộng sự (1997) đã nghiên cứu sự thay đổi giải phẫu khe thể mi liên quan đến tuổi trên nhóm 64 mắt tử thi của người từ 40 đến 80 tuổi. Kết quả nghiên cứu cho thấy những đường kính đo được từ bên ngoài nhãn cầu không có tương quan với độ tuổi. Ngược lại, theo tuổi kích thước thể thủy tinh tăng dần và đường kính khe thể mi giảm dần ở các kinh tuyến. Cụ thể đường kính đứng giảm từ 12,02 ± 0,12mm xuống còn 10,71 ± 0,91mm; đường kính ngang giảm từ 11,36 ± 0,21mm xuống còn 10,33 ± 0,67mm, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở tất cả các nhóm tuổi.
Nhóm tác giả đi đến kết luận ngoài hiểu biết đã được ghi nhận về sự khác biệt giữa đường kính kinh tuyến đứng và kinh tuyến ngang thì tuổi cũng là một yếu tố cần cân nhắc để lựa chọn thể thủy tinh nhân tạo có kích thước phù hợp khi thực hiện phẫu thuật cố định thể thủy tinh nhân tạo vào củng mạc [5]. Để xác định mối tương quan giữa khoảng cách vùng rìa củng giác mạc 6 với đường kính tiền phòng và đường kính khe thể mi trên những mắt còn thể thủy tinh, Werner L và cộng sự (2004) đo các chỉ số trên 22 mắt tử thi ở kinh tuyến 6-12 giờ (nhóm 1) và 3-9 giờ (nhóm 2). Kết quả cho thấy có mối tương quan tuyến tính chặt chẽ giữa khoảng cách vùng rìa củng giác mạc và đường kính tiền phòng ở nhóm 1 (kinh tuyến 6-12 giờ), nhưng không có liên quan tuyến tính ở nhóm 2 (kinh tuyến 3-9 giờ). Hơn nữa không tìm ra mối liên quan giữa khoảng cách vùng rìa và đường kính thể mi ở cả hai kinh tuyến.
Từ đó các tác giả đi đến kết luận rằng việc ước lượng kích thước khe thể mi thông qua đo rìa củng mạc là không đầy đủ vì chỉ với kích thước vùng rìa đơn độc thì không đủ để tính toán kích thước khe thể mi [6]. Rãnh thể mi là một vùng vô mạch và khi càng thể thủy tinh nhân tạo tựa vào đây thì thường ổn định tại vị trí này do cấu trúc vòng quanh mặt trong nhãn cầu của rãnh. Duffey và cộng sự (1989) khi nghiên cứu cấu trúc giải phẫu trên mắt của tử thi đã cho thấy khoảng cách trung bình giữa rãnh thể mi so với vùng rìa giác mạc khoảng 0,94mm tính theo kinh tuyến đứng và 0,5mm tính theo kinh tuyến ngang [7]. Kết quả này được khẳng định trong một nghiên cứu được thực hiện bởi Kim KH và cộng sự (2008).
Tác giả sử dụng máy siêu âm sinh hiển vi (UBM) với độ phân giải cao để nghiên cứu mối tương quan giữa đường kính khe thể mi với các số đo sinh học khác nhau của nhãn cầu như độ cong giác mạc, khoảng cách rìa củng mạc, độ sâu tiền phòng trên 34 mắt của 17 người bình thường không mắc các bệnh về mắt.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Phẫu thuật cố định thể thủy tinh nhân tạo vào củng mạc bằng đèn soi nội nhãn (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/y-hoc/luan-an-tien-si-nghien-cuu-ket-qua-cua-phau-thuat-co-dinh-the-thuy-tinh-nhan-tao-vao-thanh-cung-mac-co-su-dung-den-soi-noi-nhan
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Phẫu thuật cố định thể thủy tinh nhân tạo vào củng mạc bằng đèn soi nội nhãn" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án tiến sĩ đánh giá kết quả phẫu thuật cố định thể thủy tinh nhân tạo vào củng mạc bằng đèn soi nội nhãn.
Luận án "Phẫu thuật cố định thể thủy tinh nhân tạo vào củng mạc bằng đèn soi nội nhãn" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Phẫu thuật cố định thể thủy tinh nhân tạo vào củng mạc bằng đèn soi nội nhãn" thuộc chuyên ngành Nhãn khoa. Danh mục: Y Học.
Luận án "Phẫu thuật cố định thể thủy tinh nhân tạo vào củng mạc bằng đèn soi nội nhãn" có bao nhiêu trang?
Luận án "Phẫu thuật cố định thể thủy tinh nhân tạo vào củng mạc bằng đèn soi nội nhãn" có 165 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Phẫu thuật cố định thể thủy tinh nhân tạo vào củng mạc bằng đèn soi nội nhãn" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.