Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật thông vách nhĩ thất bán phần: Nghiên cứu tại Bệnh viện Tim Hà Nội

Luận án: Luận án tiến sĩ nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật thông vách nhĩ thất bán phần. Xem tóm tắt và tải về tại LuanAn.net

Chuyên ngành

Y học / Ngoại tim mạch

Tác giả

Luan An

Số trang

136

Thời gian đọc

21 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

40 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
Thông vách nhĩ thất bán phần: Tổng quan và tần suất
Số trang:
136 trang
Chuyên ngành:
Y học / Ngoại tim mạch
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I.Thông vách nhĩ thất bán phần Tổng quan và tần suất

Thông vách nhĩ thất bán phần (pAVSD) là một dạng bệnh tim bẩm sinh quan trọng. Bệnh chiếm 80% tổng số các trường hợp thông vách nhĩ thất. Tần suất mắc pAVSD tương đối thấp trong tổng thể bệnh tim bẩm sinh. Bệnh chiếm khoảng 20% trong nhóm thông liên nhĩ. Trong các bệnh tim bẩm sinh, thông liên nhĩ đứng hàng thứ tư. Các bệnh phổ biến hơn bao gồm thông liên thất, còn ống động mạch và tứ chứng Fallot. Hiểu rõ bản chất pAVSD giúp đưa ra tiên lượng phẫu thuật thông vách nhĩ thất bán phần chính xác. Điều này hướng tới cải thiện tuổi thọ bệnh nhân thông vách nhĩ thất bán phần sau mổ.

1.1. Định nghĩa và vị trí trong bệnh tim bẩm sinh

Thông vách nhĩ thất bán phần (pAVSD) là một bệnh tim bẩm sinh chiếm phần lớn trong nhóm thông vách nhĩ thất. Tỷ lệ pAVSD đạt 80% trong tổng số các ca thông vách nhĩ thất. Mặc dù vậy, tần suất chung của pAVSD trong các bệnh tim bẩm sinh là tương đối thấp. Bệnh cũng chiếm khoảng 20% các trường hợp thông liên nhĩ. Trong danh sách các bệnh tim bẩm sinh phổ biến, thông liên nhĩ xếp thứ tư. Các bệnh thường gặp hơn bao gồm thông liên thất, còn ống động mạch và tứ chứng Fallot. Việc chẩn đoán sớm và chính xác pAVSD rất quan trọng để đưa ra tiên lượng phẫu thuật thông vách nhĩ thất bán phần hiệu quả.

1.2. Lịch sử thuật ngữ và nhận diện giải phẫu pAVSD

Bệnh thông vách nhĩ thất bán phần được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau. Ví dụ như thông sàn nhĩ thất bán phần, kênh nhĩ thất bán phần (pAVC). Các thuật ngữ khác bao gồm thông liên nhĩ lỗ tiên phát (ostium primum atrial septal defects) và khiếm khuyết gối nội mạc. Maude Abbott lần đầu tiên mô tả thông vách nhĩ thất vào năm 1936. Roger và Edwards tiếp tục mô tả những nét tương đồng về tổn thương vào năm 1948. Wakai và Edwards thống nhất gọi là thông vách nhĩ thất bán phần và toàn phần theo tổn thương giải phẫu năm 1958. Gian Piero Piccoli và cộng sự mô tả chi tiết giải phẫu vào năm 1979. Mô tả này bao gồm hai vòng van, vách liên thất buồng nhận, đường thoát thất trái dài hơn bất thường và sự thiểu sản các lá van. Những nghiên cứu này là nền tảng cho phục hồi sau phẫu thuật thông liên nhĩ thất bán phần thành công.

II.Đặc điểm giải phẫu bệnh lý thông vách nhĩ thất bán phần

Thông vách nhĩ thất bán phần (pAVSD) có các tổn thương giải phẫu đặc trưng. Các tổn thương này ảnh hưởng đến chức năng tim và cần được sửa chữa phẫu thuật. Hiểu biết sâu sắc về giải phẫu giúp tối ưu hóa hiệu quả phẫu thuật thông vách nhĩ thất bán phần. Bên cạnh đó, các bất thường này bắt nguồn từ sự phát triển phôi thai. Rối loạn quá trình hình thành gối nội mạc đóng vai trò chủ chốt. Kiến thức này cũng giúp giảm di chứng sau mổ tim bẩm sinh thông vách nhĩ thất.

2.1. Cấu trúc tổn thương giải phẫu cơ bản của pAVSD

Tổn thương giải phẫu cơ bản của thông vách nhĩ thất bán phần rất rõ ràng. Nó bao gồm thông liên nhĩ lỗ nguyên phát. Hai bộ máy van nhĩ thất tồn tại riêng biệt trên cùng một mặt phẳng. Van hai lá, hay van nhĩ thất trái, thường có khe lá trước. Khe này có thể dẫn đến hở van hai lá. Van ba lá, hay van nhĩ thất phải, cũng có thể bị hở. Khoảng trống giữa lá vách và lá trước của van ba lá thường rộng hơn bình thường. Những đặc điểm này rất quan trọng khi đánh giá hiệu quả phẫu thuật thông vách nhĩ thất bán phần.

2.2. Sự phát triển gối nội mạc và mối liên quan pAVSD

Sự phát triển của tim trong giai đoạn phôi thai rất phức tạp. Vào tuần thứ 4 đến thứ 5 của thai kỳ, tim chuyển từ cấu trúc ống sang cấu trúc bốn buồng. Quá trình này nhờ sự ngăn tâm nhĩ, biệt hóa vách liên nhĩ, ngăn tâm thất và phát triển gối nội mạc. Ngoài ra, sự ngăn thân nón động mạch cũng góp phần. Các nghiên cứu phôi thai học chỉ ra rằng rối loạn phát triển gối nội mạc là nguyên nhân chính gây pAVSD. Gối nội mạc gồm bốn phần: trên, dưới, bên trái và bên phải. Phần trên và dưới phát triển sớm nhất. Các bộ phận này hình thành van nhĩ thất và một phần vách ngăn buồng tim. Sự hiểu biết này giúp giảm thiểu di chứng sau mổ tim bẩm sinh thông vách nhĩ thất.

III.Phẫu thuật pAVSD Tiến bộ biến chứng và thách thức

Phẫu thuật thông vách nhĩ thất bán phần đã có những tiến bộ đáng kể qua nhiều thập kỷ. Từ những ca mổ đầu tiên với tỷ lệ tử vong cao, các kỹ thuật đã được cải thiện. Tuy nhiên, biến chứng sau phẫu thuật vẫn là một mối lo ngại. Các thách thức kỹ thuật, đặc biệt là việc bảo tồn hệ thống dẫn truyền tim, vẫn đang được các chuyên gia thảo luận. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ thành công phẫu thuật AVSD bán phần và phục hồi sau phẫu thuật thông liên nhĩ thất bán phần.

3.1. Lịch sử phẫu thuật và tỷ lệ thành công khởi đầu

Lillehei và cộng sự đã phẫu thuật thành công trường hợp thông vách nhĩ thất đầu tiên vào năm 1954. Sau đó, Kirklin và cộng sự cũng thực hiện thành công vào năm 1955. Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong trong những ca phẫu thuật ban đầu khá cao, lên tới 50%. Đây là một thách thức lớn trong lịch sử y học. Các tiến bộ về kỹ thuật phẫu thuật và hồi sức đã giúp cải thiện đáng kể tỷ lệ thành công phẫu thuật AVSD bán phần. Việc này mở ra hy vọng lớn cho bệnh nhân.

3.2. Biến chứng sau phẫu thuật và các vấn đề kỹ thuật

Các biến chứng thường gặp sau phẫu thuật thông vách nhĩ thất bao gồm block nhĩ thất hoàn toàn. Hở van hai lá nặng và hẹp đường ra thất trái cũng là những biến chứng đáng chú ý. Việc quản lý sau phẫu thuật thông sàn nhĩ thất bán phần cần đặc biệt chú ý đến các vấn đề này. Sự theo dõi sát sao giúp phòng ngừa tái phát thông vách nhĩ thất bán phần sau phẫu thuật. Hiểu rõ các biến chứng giúp tối ưu hóa phục hồi sau phẫu thuật thông liên nhĩ thất bán phần và nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân.

3.3. Các tranh cãi và thách thức trong sửa chữa van nhĩ thất

Trong phẫu thuật pAVSD, một số vấn đề vẫn còn gây tranh cãi. Việc đóng khe lá van nhĩ thất trái cho tất cả bệnh nhân là một ví dụ. Stephan Aubert và cộng sự đã đóng khe van hai lá cho tất cả 208 bệnh nhân của họ. Ngược lại, El-Najdawi chỉ đóng khe van khi có hở vừa hoặc nặng, không đóng nếu không hở hoặc hở nhẹ. Vấn đề vá thông liên nhĩ cũng cần cẩn trọng. Mục tiêu là tránh tổn thương nút nhĩ thất và bó His do giải phẫu hệ thần kinh tim có nhiều thay đổi. Kỹ thuật vá thông liên nhĩ để xoang vành sang trái được đề xuất để giảm tối đa nguy cơ này. Những thách thức này ảnh hưởng đến tiên lượng phẫu thuật thông vách nhĩ thất bán phần.

IV.Đánh giá kết quả và quản lý sau phẫu thuật AVSD bán phần

Nghiên cứu về kết quả phẫu thuật thông vách nhĩ thất bán phần là rất cần thiết. Nó giúp đánh giá hiệu quả của các phương pháp điều trị hiện tại. Đồng thời, việc này cải thiện chất lượng cuộc sống sau mổ thông vách nhĩ thất bán phần. Các trung tâm tim mạch tại Việt Nam đã đạt được những thành công nhất định. Tuy nhiên, vẫn cần có các báo cáo đầy đủ hơn. Mục tiêu cuối cùng là tối ưu hóa quản lý sau phẫu thuật thông sàn nhĩ thất bán phần và nâng cao tuổi thọ bệnh nhân.

4.1. Mục tiêu nghiên cứu và ý nghĩa đánh giá kết quả

Nghiên cứu này có hai mục tiêu chính. Đầu tiên là nhận xét đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của thông vách nhĩ thất bán phần. Thứ hai là đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị pAVSD tại Bệnh viện Tim Hà Nội. Việc đánh giá kỹ lưỡng giúp xác định hiệu quả phẫu thuật thông vách nhĩ thất bán phần. Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin quý giá. Nó giúp cải thiện chất lượng cuộc sống sau mổ thông vách nhĩ thất bán phần. Đồng thời, nó góp phần định hình tiên lượng phẫu thuật thông vách nhĩ thất bán phần trong tương lai.

4.2. Hiện trạng điều trị và quản lý sau phẫu thuật tại Việt Nam

Tại Việt Nam, nhiều trung tâm tim mạch đã phẫu thuật thành công các trường hợp thông vách nhĩ thất bán phần. Các bệnh viện như Bệnh viện Việt Đức, Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện Tim Hà Nội, Trung tâm tim mạch Bệnh viện E, Bệnh viện Trung ương Huế đều có kinh nghiệm. Tuy nhiên, chưa có báo cáo nào đầy đủ về giải phẫu, sinh lý, chẩn đoán và điều trị phẫu thuật bệnh lý này. Nghiên cứu hiện tại góp phần lấp đầy khoảng trống thông tin. Nó giúp nâng cao quản lý sau phẫu thuật thông sàn nhĩ thất bán phần. Qua đó, có thể cải thiện tuổi thọ bệnh nhân thông vách nhĩ thất bán phần sau mổ.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật thông vách nhĩ thất bán phần

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (136 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

1 ĐẶT VẤN ĐỀ Thông vách nhĩ thất bán phần (partial atrioventricular septal defect – pAVSD) chiếm 80% tổng số bệnh thông vách nhĩ thất. Đây là bệnh tim bẩm sinh có tần suất tương đối thấp, chiếm tỉ lệ 20% tổng số bệnh thông liên nhĩ. Bệnh tim bẩm sinh thông liên nhĩ đứng hàng thứ tư sau thông liên thất, còn ống động mạch và tứ chứng Fallot [5]. Tổn thương giải phẫu cơ bản thông vách nhĩ thất bán phần gồm: thông liên nhĩ lỗ nguyên phát, hai bộ máy van nhĩ thất riêng biệt nằm trên một mặt phẳng, van hai lá (van nhĩ thất trái) có khe lá trước van hai lá có thể gây hở van, van 3 lá (van nhĩ thất phải) có thể hở van do khoảng trống giữa lá vách và lá trước van ba lá rộng.

Trên thế giới, bệnh được gọi với nhiều thuật ngữ khác nhau như: thông sàn nhĩ thất bán phần hay kênh nhĩ thất bán phần (pAVC: partial atrioventricular canal), thông liên nhĩ lỗ tiên phát (ostium primum atrial septal defects), khiếm khuyết gối nội mạc (endocardial cushion defects) [5],[6],[7],[16],[18],[23],[66],[77], [83],[98]. Thông vách nhĩ thất được mô tả lần đầu tiên bởi Maude Abbott (1936) với 2 thể thông liên nhĩ lỗ tiên phát và thông vách nhĩ thất toàn phần. Roger và Edwards (1948) mô tả những nét tương đồng về tổn thương của hai thể này, sau đó Wakai và Edwards (1958) thống nhất gọi 2 thể bệnh này là thông vách nhĩ thất bán phần và thông vách nhĩ thất toàn phần theo thương tổn giải phẫu đặc trưng. Tuy nhiên mãi tới năm 1979 Gian Piero Piccoli và cộng sự (cs) nghiên cứu trên 114 ca thông vách nhĩ thất mới mô tả một cách chi tiết về 2 vòng van, vách liên thất buồng nhận, sự dài hơn bình thường của đường thoát thất trái và sự thiểu sản các lá van [83].

Lillehei và cs (1954) phẫu thuật thành công trường hợp thông vách nhĩ thất đầu tiên, tiếp sau đó là Kirklin và cs (1955) mặc dù tỉ lệ tử vong khi đó lên tới 50%. Các biến chứng thường gặp sau phẫu thuật là block nhĩ thất hoàn toàn, hở van hai lá nặng, hẹp đường ra thất trái [55],[56],[60],[61],[88][48], [58],[85],[93]. Trên thế giới, thông vách nhĩ thất đã được nghiên cứu từ khá lâu và đã có nhiều tiến bộ, tuy nhiên cũng còn những vấn đề chưa được thống nhất giữa các nhóm tác giả. Ví dụ như: đóng khe lá van nhĩ thất trái cho tất cả các bệnh nhân hay không khi sửa van hai lá? Stephan Aubert và cs (1974 – 2001) đã đóng khe van hai lá cho tất cả các bệnh nhân nghiên cứu (208 bệnh nhân)[15], El-Najdawi (2000) chỉ đóng khe van hai lá cho những trường hợp hở vừa và nặng, không đóng khe van hai lá ở các trường hợp không hở hoặc hở nhẹ trước mổ với quan điểm không hở thì không đóng và không cần thiết phải đóng toàn bộ chiều cao khe van nếu như van đã kín [34].

Vấn đề vá thông liên nhĩ như thế nào để tránh gây tổn thương nút nhĩ thất và bó His khi giải phẫu hệ thần kinh tim trong bệnh lý này có nhiều thay đổi so với bình thường. Leca, Neveux, Vouhe đề xuất kỹ thuật vá thông liên nhĩ để xoang vành sang trái sẽ giảm được tối đa nguy cơ trên [7]. Mavroudis C và Backer C. Tại Việt nam, các trung tâm tim mạch như Bệnh viện Việt Đức, Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện tim Hà nội, Trung tâm tim mạch Bệnh viện E, Bệnh viện Trung ương Huế đã phẫu thuật thành công những trường hợp thông vách nhĩ thất bán phần đầu tiên.

Tuy nhiên, chưa có tác giả nào báo cáo đầy đủ về giải phẫu, sinh lý cũng như chẩn đoán và điều trị phẫu thuật bệnh lý này. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu 3 đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật thông vách nhĩ thất bán phần” nhằm mục tiêu: 1. Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng thông vách nhĩ thất bán phần được phẫu thuật tại Bệnh viện Tim Hà Nội. Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị thông vách nhĩ thất bán phần tại Bệnh viện Tim Hà Nội.

4 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Phôi thai học và tổn thương giải phẫu bệnh thông vách nhĩ thất 1. Sự phát triển của gối nội mạc (endocardial cushion) Giai đoạn phôi thai, vào tuần lễ thứ 4 thứ 5 của thai kỳ (khoảng 28 – 37 ngày) khi phôi đạt chiều dài 5 – 16mm, có sự chuyển cấu trúc dạng ống sang cấu trúc 4 buồng của tim nhờ 4 yếu tố là sự ngăn tâm nhĩ và biệt hóa vách liên nhĩ, sự ngăn tâm thất, sự phát triển gối nội mạc, và sự ngăn thân nón động mạch. Các nghiên cứu về phôi thai học thấy sự liên quan đến bệnh lý này nhiều nhất là rối loạn sự phát triển của gối nội mạc [11],[54],[59] (hình 1.

Sự phát triển của ống nhĩ thất nhờ vào sự phát triển và biệt hóa của gối nội mạc và gối lưng phải (dextrodorsal cushion). Gối nội mạc có cấu trúc gồm 4 phần: trên, dưới, bên trái và bên phải. Phần trên và dưới của gối nội mạc phát triển sớm nhất, tiếp đến là phần trái và phải, sau đó đến gối lưng phải. Trong quá trình phát triển phôi thai các bộ phận trên phát triển tạo thành các van nhĩ thất và một phần vách ngăn buồng tim (Hình 1.

Khi nửa trái và nửa phải của ống nhĩ thất phát triển biệt hóa riêng tạo thành cấu trúc van nhĩ thất, ống nhĩ thất chung chia thành 2 lỗ van riêng rẽ. Sau đó lá trước van 2 lá được hình thành từ phần trên và nửa trái phần dưới của ống nhĩ thất, lá sau van 2 lá hình thành từ nửa trái bên của ống nhĩ thất. Lá trước van 3 lá hình thành từ phần phải bên, lá sau van 3 lá hình thành từ phần phải bên, lá vách hình thành từ nửa phải phần dưới của ống nhĩ thất [11], [54],[66],[59],[72]. Sự phát triển của gối nội mạc 1.

Venous valves: van tĩnh mạch; 2. Septum primum: vách nguyên phát; 3. Ostium secundum: lỗ thứ phát; 4. Septum secundum: vách thứ phát; 5.

Pulmonary veins: tĩnh mạch phổi; 6. Endocardial cushions: gối nội mạc; 7. Interventricular foramen: lỗ liên thất; 8. Muscular interventricular septum: vách liên thất phần cơ; 9.

Foramen ovale: lỗ bầu dục; 10: Membranous interventricular septum: vách liên thất phần màng. Right lateral cushion: gối bên phải; Interventricular septum: vách liên thất; Inferior endocardial cushion: gối nội mạc dưới; left lateral cushion: gối bên trái; Right dorsal conus swelling: gối lưng phải. *Nguồn: theo Atlas of Human Embryology (1995), [28] 1. Sự hình thành thương tổn giải phẫu bệnh thông vách nhĩ thất dưới góc nhìn của phôi thai học 1.

Thông vách nhĩ thất toàn phần Thông vách nhĩ thất toàn phần được hình thành giai đoạn bào thai do sự biệt hóa và phát triển bất thường của gối nội mạc ở mức độ nặng tạo các tổn thương đặc trưng đó là: 6 - Không có sự phân chia 2 van nhĩ thất riêng biệt, do vậy chỉ có 1 bộ máy van chung với 5 hoặc 6 lá van bất thường. - Không có sự lấp đầy lỗ thông liên nhĩ nguyên phát, do vậy tạo ra lỗ thông liên nhĩ kiểu lỗ nguyên phát. Không tiếp hợp được với phần cơ vách liên thất tạo ra thông liên thất [11],[59],[66]. Thông vách nhĩ thất bán phần (hình 1.2) Bệnh hình thành trong giai đoạn bào thai do gối nội mạc phát triển và biệt hóa bất thường ở mức độ nhẹ hơn tạo ra các thương tổn cơ bản đặc trưng gồm: - Thông liên nhĩ lỗ nguyên phát.

- Hai bộ máy van nhĩ thất riêng biệt nằm trên một mặt phẳng. - Rộng mép van giữa lá trước và lá vách van 3 lá một số tác giả gọi là khe lá vách (cleft of septal tricuspid leaflet), tùy mức độ có thể gây hở van 3 lá nhiều hay ít. Sơ đồ thông vách nhĩ thất bán phần Sup. Vena cava: tĩnh mạch chủ trên; Pulmonary veins: các tĩnh mạch phổi; L.

Auricular appendage: tiểu nhĩ trái; Cleft in ant.leaflet of mitral valve: khe lá trước van hai lá; Inf.Vena cava: tĩnh mạch chủ dưới; Tricuspid valve: van ba lá. * Nguồn: theo Gahagan T.3 Tổn thương phối hợp khác Sự rối loạn hình thành vách liên nhĩ còn tạo ra các kiểu thông liên nhĩ khác phối hợp với thông liên nhĩ lỗ nguyên phát trong bệnh cảnh thông vách nhĩ thất bán phần. - Tồn tại lỗ bầu dục và ống động mạch: Khi trẻ ra đời tuần hoàn phổi hoạt động, áp lực trong 2 tâm nhĩ sẽ ngược lại với thời kỳ bào thai. Áp lực nhĩ trái cao lên làm cân bằng áp lực của 2 buồng nhĩ tạo thuận lợi cho vách nguyên phát đẩy sát kín lỗ nguyên phát.

Thay đổi áp lực các buồng tim và động mạch sau sinh làm ống động mạch dần đóng lại. Vì một lý do nào đó có sự đóng kín không hoàn toàn cấu trúc của thời kỳ bào thai này dẫn đến còn tồn tại lỗ bầu dục và ống động mạch. - Thông liên nhĩ kiểu lỗ thứ phát: Do rối loạn phát triển của vách thứ phát không che kín được lỗ thứ phát. - Tâm nhĩ chung (common atria): Do bất sản hoàn toàn vách liên nhĩ.Tổn thương bệnh học thông vách nhĩ thất bán phần cũng như toàn phần còn có thể kèm thêm các tổn thương khác như: tồn tại tĩnh mạch chủ trên trái (persitent of left superior vena cava), tứ chứng Fallot (tetralogy of Fallot), thất phải hai đường ra (double outlet of right ventricle), hẹp van động mạch phổi (pulmonary valve stenosis), teo van ba lá (tricuspid valve atresia), hẹp eo động mạch chủ (aortic coarctation), thiểu sản thất trái (left ventricular hypoplasia)… đặc biệt thường kết hợp các bệnh về nhiễm sắc thể như hội chứng Down.

Có tới 40% trẻ bị hội chứng Down bị mắc các bệnh tim bẩm sinh [5],[6],[8],[54],[66],[61],[74],[77]. Giải phẫu bệnh thông vách nhĩ thất bán phần 1. Thông liên nhĩ lỗ nguyên phát: Luôn có thông liên nhĩ lỗ nguyên phát có thể lớn hoặc nhỏ khác nhau 8 (Hình 1. Thông liên nhĩ lớn thường gây tăng tuần hoàn phổi và tăng áp lực động mạch phổi (ĐMP) sớm, TLN lỗ nhỏ ít gây rối loạn huyết động trong một thời gian dài [4],[52],[54],[66],[77].

Khe trước van nhĩ thất trái - Van nhĩ thất trái hay van hai lá thường có khe ở lá trước (Cleft of anterior mitral valve) (Hình 1.2), khe có thể chiếm hết chiều dài lá trước hoặc một phần. - Van hai lá có thể có 2 lỗ van (double orifice mitral valve) (hình 1.3): hiếm gặp khoảng 2 – 9% trường hợp thông vách nhĩ thất, tuy hiếm gặp song đây là tổn thương rất quan trọng trong chẩn đoán và điều trị phẫu thuật [11], [51],[54],[83],[84].Van nhĩ thất trái hai lỗ PT: Thân động mạch phổi; A: Động mạch chủ; LA: Thất trái; Double orifice LAVV: van nhĩ thất trái 2 lỗ; ICV: Tĩnh mạch chủ dưới. * Nguồn: theo Allen H.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Kết quả phẫu thuật thông vách nhĩ thất bán phần (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/y-hoc/luan-an-tien-si-nghien-cuu-danh-gia-ket-qua-dieu-tri-phau-thuat-thong-vach-nhi-that-ban-phan

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Kết quả phẫu thuật thông vách nhĩ thất bán phần" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án: Luận án tiến sĩ nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật thông vách nhĩ thất bán phần. Xem tóm tắt và tải về tại LuanAn.net

Luận án "Kết quả phẫu thuật thông vách nhĩ thất bán phần" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Kết quả phẫu thuật thông vách nhĩ thất bán phần" thuộc chuyên ngành Y học / Ngoại tim mạch. Danh mục: Y Học.

Luận án "Kết quả phẫu thuật thông vách nhĩ thất bán phần" có bao nhiêu trang?

Luận án "Kết quả phẫu thuật thông vách nhĩ thất bán phần" có 136 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Kết quả phẫu thuật thông vách nhĩ thất bán phần" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter