Luận án tiến sĩ: Phẫu thuật nội soi đặt catheter lọc màng bụng trong điều trị suy thận mạn giai đoạn cuối tại Bệnh viện Bạch Mai
Luận án nghiên cứu ứng dụng, đánh giá phẫu thuật nội soi đặt catheter ổ bụng điều trị suy thận mạn giai đoạn cuối bằng lọc màng bụng.
Số trang
169
Thời gian đọc
26 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Tổng quan về bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối hiện nay
- Số trang:
- 169 trang
- Trường:
- Bệnh viện Bạch Mai
- Chuyên ngành:
- Ngoại khoa
- Tác giả:
- G -2012
Tóm tắt nội dung luận án
I. Tổng quan về bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối hiện nay
Suy thận mạn là tình trạng suy giảm chức năng thận tiến triển không hồi phục kéo dài qua nhiều tháng hoặc nhiều năm. Mức lọc cầu thận suy giảm nghiêm trọng gây ứ đọng độc tố chuyển hóa trong máu. Cơ thể mất khả năng tự cân bằng nước, điện giải và kiềm toan. Người bệnh đối mặt với nhiều biến chứng tim mạch, thiếu máu và rối loạn khoáng xương. Khi bệnh tiến triển đến giai đoạn suy thận mạn giai đoạn cuối, thận mất hầu hết chức năng sống còn. Người bệnh bắt buộc phải tiếp nhận các biện pháp điều trị thay thế thận kịp thời để duy trì sự sống.
1.1. Các giai đoạn tiến triển của suy thận mạn giai đoạn cuối
Bệnh thận mạn được phân loại thành năm giai đoạn dựa trên mức lọc cầu thận (MLCT). Giai đoạn 1 và giai đoạn 2 có tổn thương thận nhưng chức năng lọc vẫn ở mức bình thường hoặc giảm nhẹ. Giai đoạn 3 và giai đoạn 4 ghi nhận mức lọc cầu thận giảm từ trung bình đến nặng. Giai đoạn 5 là suy thận mạn giai đoạn cuối khi mức lọc cầu thận giảm dưới 15 ml/phút/1.73m2. Ở giai đoạn này, nồng độ ure và creatinin huyết thanh tăng vọt. Cơ thể tích tụ độc chất gây hội chứng ure huyết cao. Người bệnh xuất hiện các triệu chứng mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, phù nề và tăng huyết áp khó kiểm soát. Can thiệp y khoa tích cực là yếu tố sống còn.
1.2. Các giải pháp điều trị thay thế thận phổ biến hiện nay
Điều trị thay thế thận bao gồm ba phương pháp chính: thận nhân tạo, ghép thận và lọc màng bụng. Thận nhân tạo sử dụng màng lọc nhân tạo chu kỳ qua đường vào mạch máu tại bệnh viện từ hai đến ba lần mỗi tuần. Ghép thận mang lại chất lượng cuộc sống tốt nhất nhưng nguồn tạng hiến rất khan hiếm kèm chi phí duy trì thuốc chống thải ghép cao. Lọc màng bụng hay thẩm phân phúc mạc là giải pháp thay thế linh hoạt và hiệu quả. Phương pháp này tận dụng màng bụng tự nhiên để lọc sạch độc tố và dịch thừa. Người bệnh có thể tự thao tác điều trị tại nhà, giúp bảo tồn chức năng thận tồn dư và duy trì công việc thường ngày.
II. Phương pháp lọc màng bụng và thẩm phân phúc mạc chuẩn
Lọc màng bụng là phương pháp thẩm phân phúc mạc sử dụng màng bụng của chính người bệnh làm màng bán thấm. Quá trình này giúp loại bỏ các chất độc chuyển hóa và lượng nước thừa ra khỏi cơ thể. Dịch lọc chuyên dụng được đưa vào khoang phúc mạc thông qua một ống thông cố định. Các chất độc khuếch tán từ mạng lưới mao mạch màng bụng vào dịch lọc theo gradient nồng độ. Cơ chế siêu lọc diễn ra nhờ áp lực thẩm thấu do nồng độ glucose trong dịch lọc tạo nên. Sau thời gian lưu dịch thích hợp, dịch lọc chứa chất cặn bã được xả ra ngoài. Đây là lựa chọn tối ưu cho người bệnh có bệnh lý tim mạch nặng hoặc khó tạo cầu nối thông động tĩnh mạch.
2.1. Phương pháp lọc màng bụng liên tục ngoại trú CAPD tiện lợi
Lọc màng bụng liên tục ngoại trú CAPD là hình thức điều trị phổ biến nhất hiện nay. Kỹ thuật này thực hiện hoàn toàn thủ công mà không cần máy móc hỗ trợ. Người bệnh tiến hành trao đổi dịch từ ba đến bốn lần mỗi ngày theo khoảng cách thời gian đều đặn. Mỗi lần thay dịch kéo dài khoảng hai mươi đến ba mươi phút. Khoang phúc mạc luôn chứa dịch lọc để làm sạch máu liên tục 24 giờ mỗi ngày. Nồng độ độc chất và thể tích dịch trong cơ thể được kiểm soát ổn định. Phương pháp CAPD mang lại sự độc lập cao, giúp người bệnh chủ động sinh hoạt, làm việc và học tập bình thường.
2.2. Ứng dụng lọc màng bụng tự động APD trong điều trị ngoại trú
Lọc màng bụng tự động APD sử dụng máy chu chuyển dịch tự động hỗ trợ người bệnh vào ban đêm. Toàn bộ quá trình trao đổi dịch diễn ra tự động trong giấc ngủ của người bệnh. Máy được lập trình để tự động bơm dịch mới vào và xả dịch cũ ra theo chu kỳ cài sẵn. Thời gian lọc thường kéo dài liên tục từ tám đến mười tiếng mỗi đêm. Ban ngày khoang màng bụng có thể để trống hoặc chỉ lưu một thể tích dịch nhỏ. Phương pháp APD giảm thiểu số lần thao tác kết nối hệ thống dây dẫn, hạn chế nguy cơ nhiễm trùng và giải phóng thời gian sinh hoạt ban ngày cho người bệnh.
2.3. Cấu tạo và cơ chế hoạt động của màng lọc phúc mạc
Màng bụng là lớp màng thanh mạc mỏng bao bọc các tạng và lót toàn bộ mặt trong thành bụng. Diện tích bề mặt màng bụng xấp xỉ diện tích bề mặt da cơ thể, khoảng 1 đến 2 mét vuông. Hệ thống mao mạch phúc mạc chứa ba loại lỗ lọc: lỗ siêu nhỏ, lỗ nhỏ và lỗ lớn. Lỗ nhỏ giữ vai trò vận chuyển nước và các chất hòa tan trọng lượng phân tử thấp như ure và creatinin. Lỗ siêu nhỏ cho phép các phân tử nước đơn thuần đi qua dưới tác động thẩm thấu. Lỗ lớn cho phép một lượng nhỏ protein huyết tương thoát qua. Hiệu quả lọc phụ thuộc vào lưu lượng máu qua phúc mạc và đặc tính thấm của màng.
III. Phẫu thuật nội soi đặt catheter lọc màng bụng an toàn
Phẫu thuật nội soi đặt catheter lọc màng bụng là bước tiến vượt trội trong lĩnh vực ngoại khoa can thiệp thận học. Kỹ thuật này thay thế hiệu quả cho phương pháp mổ mở truyền thống với nhiều ưu điểm vượt trội. Ống thông được đưa chính xác vào vị trí thấp nhất của ổ bụng dưới sự quan sát trực tiếp từ camera nội soi độ nét cao. Phương pháp giảm thiểu tối đa mức độ xâm lấn mô mềm và hạn chế nguy cơ chảy máu trong mổ. Thời gian hồi phục sau phẫu thuật diễn ra nhanh chóng, mức độ đau đớn thấp và người bệnh có thể bắt đầu quá trình lọc màng bụng sớm.
3.1. Ưu điểm vượt trội của phẫu thuật nội soi đặt catheter
Phẫu thuật nội soi cung cấp tầm nhìn không gian ba chiều rõ nét bên trong ổ phúc mạc. Phẫu thuật viên dễ dàng quan sát toàn bộ khoang bụng và vùng tiểu khung. Đầu ống thông được dẫn hướng chính xác vào túi cùng Douglas, hạn chế tối đa nguy cơ di lệch. Nội soi còn cho phép can thiệp đồng thời các tổn thương phối hợp như gỡ dính màng bụng hoặc cố định mạc nối lớn. Nguy cơ làm tổn thương tạng rỗng như ruột và bàng quang giảm thiểu tối đa. Vết rạch da nội soi nhỏ giúp giảm đau đớn sau mổ, hạ thấp tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ và ngăn ngừa rò rỉ dịch lọc quanh catheter.
3.2. Quy trình phẫu thuật nội soi đặt catheter Tenckhoff chuẩn
Quy trình phẫu thuật nội soi được tiến hành dưới hình thức gây mê toàn thân hoặc gây tê tủy sống. Phẫu thuật viên bơm khí CO2 tạo phế mạc nhân tạo với mức áp lực an toàn trong ổ bụng. Trocar chính được đưa vào để luồn camera quan sát toàn cảnh. Trocar phụ hỗ trợ việc dẫn đường và định vị ống thông. Catheter Tenckhoff được luồn khéo léo qua lớp cân cơ thành bụng xuống sâu đáy tiểu khung. Bác sĩ kiểm tra độ thông thoáng của ống bằng cách bơm rửa dung dịch muối sinh lý vô khuẩn. Sau khi kiểm tra dòng chảy tốt, nút chặn trong của catheter được khâu đính cố định chắc chắn vào bao cơ thẳng bụng.
IV. Đặt sonde lọc màng bụng bằng catheter Tenckhoff chuẩn
Thủ thuật đặt sonde lọc màng bụng đóng vai trò quyết định đến sự thành bại và độ bền vững của đường thẩm phân phúc mạc. Catheter Tenckhoff giữ vai trò là cầu nối dẫn dịch duy nhất giữa môi trường bên ngoài và khoang phúc mạc bên trong cơ thể. Thiết kế chuyên dụng và tính tương thích sinh học cao của ống giúp bảo vệ màng lọc tự nhiên. Việc xác định chính xác vị trí đặt ống cùng kỹ thuật tạo đường hầm ngoại phúc mạc chuẩn mực giúp hạn chế biến chứng cơ học và ngăn ngừa nhiễm khuẩn hiệu quả.
4.1. Đặc điểm cấu tạo chuyên biệt của catheter Tenckhoff
Catheter Tenckhoff được sản xuất từ chất liệu silicone mềm dẻo có độ tương thích sinh học cao. Ống không gây kích ứng mô phúc mạc và hạn chế bám dính sợi huyết khối. Thân ống tích hợp đường cản quang sắc nét giúp theo dõi vị trí dưới màn hình X-quang tăng sáng. Phần ống nằm trong ổ bụng được bố trí nhiều lỗ thoát nhỏ giúp dịch lọc lưu thông trơn tru. Catheter thường có cấu trúc hai nút chặn dacron. Nút dacron bên trong được chôn chặt tại lớp bao cơ thẳng bụng để chống rò dịch. Nút dacron bên ngoài nằm trong lớp mỡ dưới da để tạo hàng rào sinh học ngăn chặn vi khuẩn xâm nhập.
4.2. Kỹ thuật cố định và tạo đường hầm ngoại phúc mạc an toàn
Tạo đường hầm dưới da là bước kỹ thuật then chốt nhằm cố định vững chắc thân ống thông. Đường hầm dưới da được tạo dạng vòng cung hướng xuống dưới nhằm tránh tình trạng ứ đọng mồ hôi và nước khi tắm rửa. Vị trí chân ống thoát ra ngoài thành bụng thường đặt ở vùng bụng dưới, tránh nếp gấp da và vị trí cọ xát với thắt lưng quần. Nút dacron ngoài được đặt cách miệng lỗ thoát dưới da từ 1.5 đến 2 cm. Phẫu thuật viên có thể kết hợp kỹ thuật khâu đính cố định thân ống hoặc làm gọn mạc nối lớn để ngăn chặn hiện tượng xoắn vặn và di lệch ống thông sau mổ.
V. Kiểm soát biến chứng nhiễm trùng và tắc ống catheter lọc
Quá trình lọc màng bụng lâu dài luôn tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các biến chứng cơ học và nhiễm trùng. Việc chẩn đoán sớm và xử trí đúng phác đồ giúp bảo vệ chức năng màng bụng và kéo dài tuổi thọ của ống thông. Hai nhóm biến chứng cần đặc biệt lưu tâm là nhiễm trùng khoang phúc mạc và rối loạn lưu thông dòng dịch. Tuân thủ nghiêm ngặt quy trình chăm sóc vô khuẩn tại nhà kết hợp tái khám định kỳ là biện pháp phòng ngừa hữu hiệu nhất. Mọi bất thường cần được thông báo ngay cho bác sĩ chuyên khoa.
5.1. Nhận biết và xử trí sớm biến chứng viêm phúc mạc cấp
Viêm phúc mạc là biến chứng nhiễm trùng nghiêm trọng hàng đầu trong lọc màng bụng. Vi khuẩn thường xâm nhập do sai sót thao tác vô khuẩn tại các điểm nối hoặc đi qua thành ruột. Dấu hiệu nhận biết điển hình gồm dịch xả ra bị đục, đau bụng âm ỉ hoặc quặn thắt liên tục, kèm sốt và nôn ói. Xét nghiệm dịch lọc cho thấy lượng bạch cầu vượt trên 100 tế bào/microlit với hơn 50% là bạch cầu đa nhân trung tính. Điều trị bao gồm việc sử dụng kháng sinh phổ rộng pha trực tiếp vào dịch lọc màng bụng hoặc truyền tĩnh mạch. Trường hợp viêm phúc mạc do nấm hoặc tái phát kháng trị bắt buộc phải rút bỏ catheter.
5.2. Dự phòng nhiễm trùng chân ống catheter và tắc lòng ống
Nhiễm trùng chân ống catheter đặc trưng bởi biểu hiện sưng đỏ, nóng rát, đau tức và chảy dịch mủ quanh lỗ thoát. Biến chứng này nếu không kiểm soát tốt sẽ lan sâu vào đường hầm gây viêm phúc mạc. Tắc ống catheter lọc màng bụng là biến chứng cơ học thường gặp do cục máu đông, mảng fibrin hoặc do mạc nối lớn bao bọc chèn ép đầu ống. Dự phòng tắc ống được thực hiện bằng cách pha thêm heparin vào túi dịch lọc trong giai đoạn đầu sau phẫu thuật. Người bệnh cần giữ khô ráo vị trí chân ống, thay băng vô khuẩn định kỳ và tuân thủ kỹ thuật rửa tay khử khuẩn trước mỗi lần thay dịch.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (169 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộDAT VAN DE Bệnh thận mạn giai đoạn cuối (BTMGĐC) là bệnh lý suy giảm dần và không hồi phục chức năng thận do nhiều nguyên nhân khác nhau. Theo thống kê ở Mỹ công bố năm 2007 có khoảng 26 triệu người mắc bệnh thận mạn chiếm tỷ lệ khoảng 13,1% và có khoảng 1400/1 triệu người mắc BTMGDC [1]. Thống kê ở Pháp mỗi năm có khoảng 4800 đến 6000 ca mới mắc BTMGDC [2], ở Nhật và Đài Loan là khoảng gần 2400 ca [3]. Người ta dự báo rằng cứ mỗi một bệnh nhân (BN) được điều trị thay thế thận thì có tới 100 người đang mắc bệnh thận mạn ở các giai đoạn khác nhau [4].
Tại Việt Nam ước tính có khoảng 8 triệu người mắc bệnh thận mạn, chiếm khoảng 10% dân số, trong đó 3,1% đến 3,6% bệnh thận mạn tiến triển từ giai đoạn III đến giai đoạn V [5]. Lọc màng bụng là một trong số các phương pháp điều trị thay thế thận suy, phát triển song song với hai phương pháp còn lại là chạy thận nhân tạo và ghép thận. Tỷ lệ lọc màng bụng thay đổi tùy theo mỗi quốc gia. Ở Mỹ tỷ lệ lọc màng bụng là 26% năm 2007 nhưng đã tăng đến 50% năm 2012 [6], ở Hà Lan khoảng 32% [7], ở Anh, Úc, Canada khoảng 35% đến 50% [8], ở Mexico là 91% và ở Hồng Kông hiện nay là 81% [9].
Tại Việt Nam từ năm 2000 đến nay đã có khoảng 1700 bệnh nhân được điều trị lọc màng bụng, tập trung chủ yếu ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Lọc màng bụng sẽ có xu hướng ngày càng được sử dụng nhiều do có những ưu điểm so với chạy thận nhân tạo như thực hiện được tại nhà, không phải phụ thuộc vào bệnh viện, tránh được lây chéo giữa các bệnh nhân và cùng với các phương pháp điều trị thay thế khác làm kéo dài tuổi thọ của người bệnh [10]. Đặt catheter vào é bụng là bước quan trọng đề chuẩn bị cho quá trình lọc mảng bụng sau này của người bệnh [11]. Phẫu thuật mở đặt catheter đã được thực hiện từ lâu nhưng gần đây phẫu thuật nội soi (PTNS) đang được thực hiện ngày càng nhiều ở các trung tâm khác nhau trên thế giới.
Hai phương pháp phẫu thuật này đều có những biến chứng nhất định như tắc catheter, nhiễm trùng, rò dịch. Vì vậy mà một phương pháp lý tưởng để đưa catheter vao 6 bung vẫn còn đang được tranh luận. Trên thế giới đã có những nghiên cứu so sánh ưu nhược điểm của hai phương pháp này và cho những kết quả khác nhau. Có ý kiến cho thấy PTNS có nhiều ưu điểm [11],[12].
Tại Việt Nam đã có những báo cáo về kết quả của PTNS va PTM [17],[18] nhưng cho đến hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào cho phép đánh giá được những ưu điểm về kỹ thuật của từng phương pháp và so sánh kết quả hai phương pháp với nhau. Kỹ thuật mồ nội soi có thực sự nhiều ưu điểm hơn so với mô mở, các tai biến trong mô và các biến chứng sau mồ của PTNS đặt catheter 6 bụng có thực sự khác biệt so với PTM, những yếu tố nào còn ảnh hưởng đến kết quả của phẫu thuật và có nên thực hiện rộng rãi PTNS đặt catheter ổ bụng khi mà PTM đang còn phổ biến trong thực hành ở các đơn vị y tế cả nước? Những vấn đề này chưa thấy có tác giả nào trong nước đề cập đến và nghiên cứu. Vì vậy đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng và đánh giá kết quả của phẫu thuật nội soi đặt catheter é bung để lọc màng bụng trong điều trị suy thận mạn giai đoạn cuối” được thực hiện nhằm 2 mục tiêu: 1. Nhận xét một số đặc điểm kỹ thuật của phẫu thuật nội soi đặt catheter 6 bụng để lọc màng bụng trong điều trị suy thận mụn giai đoạn cuối tại khoa ngoại tong hop Bénh vién Bach Mai 2.
Danh gia két quả của phương pháp phẫu thuật nội soi đặt catheter 6 bung dé loc mang bung trong diéu tri suy than man giai doan cudi có so sánh với kết quả của phương pháp phẫu thuật mở. Chương 1 TONG QUAN 1. Bệnh thận mạn và suy thận mạn giai đoạn cuối 1. Chân đoán bệnh thận mạn và suy thận mạn giai đoạn cuối Năm 2012 hội thận học Mỹ (NKF/KDIGO-2012) (Kidney disease improving global outcomes) dua ra tiêu chuẩn mới nhất chẩn đoán xác định bệnh thận mạn như sau [19]: Bệnh thận mạn tính được xác định khi có sự bất thường của thận về cấu trúc và chức năng kéo dài trên 3 tháng.
Các tiêu chuẩn đề chân đoán bệnh thận mạn tính: - Các biểu hiện cho thấy thận bị tốn thương và phải kéo dài trên 3 tháng (một hoặc nhiều biểu hiện): + Co albumin niéu (> 30mg/24 gid, [> 3 mg/mmol/24 gid]). + Cac bat thường phát hiện bởi mô bệnh học khi làm sinh thiết thận + Những bắt thường về cấu trúc thận được phát hiện bởi chân đoán hình ảnh + Có tiền sử ghép thận - Giảm mức lọc cầu thận (MLCT) < 60 ml/phut/1,73 mỶ mà không cần biết đến các biéu hiện của thận bị tốn thương hay không. Bệnh thận mạn giai đoạn cuối là khi MLCT < 15 ml/phút (giai đoạn V) Bệnh nhân giai đoạn này bắt buộc phải điều trị thay thế thận suy. Có 3 công thức tính MLCT tính trên lâm sàng: + Dùng công thức Cockroff-Gault 40—4)xW_ ]xk Mức lọc cầu thận ước tính = Pcre A: Tuôi của bệnh nhân tính bằng năm W: Cân nặng của bệnh nhân tính bằng kg k: = 1 đối với nam, 0,85 đối với nữ P.„: Nồng độ creatinin trong huyết thanh tính bằng umol/lít Nếu hiệu chỉnh tính với diện tích da Diện tích da: [Cân nặng (kg) x chiều cao (cm)/3 60011? (m?) Mức lọc cầu thận xI,73/ diện tích da = mức lọc cầu thận ước tính ml/phut/1,73 m? + Céng thitc MDRD (Modification of Diet in Renal Diseases) dé tinh MLCT uc tinh ml/phut/1,73 m* 186 x (creatinin huyết thanh micromol/I x 72)''* x (Tudi)°”” x 0,742 (nếu là nữ) x 1,21 (nếu là người da đen) + Dùng công thức CKD-EPI dùng cho người đa trắng và đa vàng Nữ: nếu creatinin huyết thanh < 0,7 mg/dI thì mức lọc cầu thận ước tính =144 x (creatinin huyết thanh)°'” x (0,993)"*.
nếu creatinin huyết thanh > 0,7 mg/dl thi mức lọc cau thận ước tính = 144 x (creatinin huyết thanh) ''” x (0,993)"ử Nam: nếu creatinin huyết thanh < 0,9 mg/dl thi mirc loc cau thin =141 x (creatinin huyét thanh) 92"! X (0,993)%8, nếu creatinin huyết thanh > 0,9 mg/dl thi mức lọc cầu than =141 x (creatinin huyét thanhy!?” X (0,993)98i Trần Thị Bích Hương thấy cách tính MLCT ước tính theo công thức Cockcroft-Gault và MDRD có thể áp dụng được trong lâm sàng ở Việt Nam với ưu điểm là thông báo được trực tiếp kết quả từ phòng xét nghiệm sinh hóa cùng với kết quả của creatinin huyết thanh [20]. Hiện nay ở Mỹ đã có 75% các nơi làm xét nghiệm báo cáo hàng ngày MLCT ước tính để cho phép phát hiện được suy thận sớm và điều chỉnh liều thuốc điều trị [3]. Các giai đoạn của bệnh thận mạn: được phân chia theo hội thận học của Mỹ năm 2012 dựa vào mức lọc cầu thận ước tính [19]: Bang 1. Giai đoạn bệnh thận mạn tính theo mức lọc cầu thận Giai „ MLCT Biểu hiện ; 2 Chỉ định điều trị đoạn (ml/phút/1,73m') 2 ` Chân đoán và điêu trị các Tôn thương thận nhưng , c2 „ à an bệnh kêt hợp, các yêu tô 1 |mức lọc câu thận bình >90 - / nguy cơ tim mạch, làm chậm thường hoặc tăng ko qua trinh tién trién bénh than.
Ton thương thận làm Kiêm soát các yêu tô nguy 2 |giam nhẹ mức lọc cầu| 60— 89 cơ, các bệnh kết hợp làm thận chậm tiến triển bệnh thận. 3 Giảm mức lọc câu thận 30-59 Chan doan va diéu tri cac bién mức độ vừa chứng do bệnh thận gây ra. 4 Giảm nghiêm trọng mức 15-29 Chuan bị các Phuong phap loc cau than diéu tri thay thé than. Bắt buộc điêu trị thay thê (nêu 5 | Suy than <15 có hội chứng tăng ure máu).
Các biến chứng của bệnh thận mạn giai đoạn cuối - Thiếu máu: là sự giảm một hoặc nhiều thành phần chính của tế bào máu: nồng độ hemoglobin, hematocrit và số lượng hồng cầu. Tổ chức y tế thế giới định nghĩa thiếu máu là hemoglobulin ở nam và ở nữ giới đã mãn kinh giảm dưới 13g/dl, và đưới 12g/dI đối với những phụ nữ đang hành kinh [21]. Thiếu máu trong bệnh thận mạn tính là thiếu máu dang sắc (thiếu máu chỉ giảm sé lượng hồng cầu còn kích thước hồng cầu và số lượng hemoglobin tương đối bình thường). Tỉ lệ biểu hiện thiếu máu ở BTMGĐC khoảng hơn 70% [21].
- Các biến chứng về tìm mạch: Các bệnh nhân BTMGĐC dễ bị xơ vữa mạch máu và do đó dễ mắc các bệnh có liên quan đến tim mạch và làm cho tiên lượng của bệnh xấu đi nhiều. + Huyết áp tăng chiếm tới 80% ở bệnh nhân BTMGĐC. Tăng huyết áp sẽ làm tăng nguy cơ suy tim đặc biệt là suy tim trái. + Bệnh lý mạch vành: Suy vành và nhồi máu cơ tim do rối loạn chuyển hóa lipid máu.
Chân đoán các biến chứng về mạch vành chủ yếu dựa vào điện tâm đồ, chụp mạch vành. + Bệnh lý van tim: do vôi hóa van và các tổ chức dưới van. Ngoài ra giãn các buồng tim cũng gây ra bệnh lý van tim. Vôi hóa van 2 lá thường gặp hơn cả tiếp đến là vôi hóa van động mạch chủ gây ra hẹp hoặc hé van.
Chan đoán dựa trên siêu âm tim. + Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn: Siêu âm tim và nhất là siêu âm tim qua thực quản sẽ giúp cho chân đoán biến chứng này + Rối loạn nhịp tim: do rối loạn điện giải tăng kali máu, suy tim, bệnh mạch vành. Kali máu tăng gây ra những rối loạn về nhịp tim và có thể tử vong do ngừng tim đột ngột. Tăng Kali máu thường xảy ra khi mức lọc cầu thận giảm đưới 20-25ml/phút/1,73 m”.
Với MLCT này thì thận không thể đào thải được kali và có thể gây ra thiểu niệu hoặc vô niệu. Kali máu có thể còn tăng cao hơn khi có sự toan máu và thiếu insulin. - Các biến chứng về tiêu hóa: chảy máu chân răng, xuất huyết tiêu hóa. - Các biến chứng về thần kinh + Viêm thần kinh ngoại vi: tốc độ dẫn truyền thần kinh giảm, BN có cảm giác rát bỏng ở chân, kiến bò.
+ Hôn mê do tăng urê máu cao là biểu hiện lâm sàng hay gặp ở BN BTMGĐC. Ở giai đoạn tiền hôn mê BN có thể có co giật, rỗi loạn tâm thần, nói nhảm, tri giác giảm. - Các biến chứng về rối loạn điện giải, chuyển hóa: Toan chuyên hóa hay gặp do tăng trong máu sulfat,phosphat, acid uric.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
G -2012 (n.d.). Phẫu thuật nội soi đặt catheter lọc màng bụng điều trị suy thận mạn [Luận án tiến sĩ, Bệnh viện Bạch Mai]. LuanAn.net. https://luanan.net/y-hoc/luan-an-phau-thuat-noi-soi-dat-catheter-loc-mang-bung-dieu-tri-suy-than-man
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Phẫu thuật nội soi đặt catheter lọc màng bụng điều trị suy thận mạn" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án nghiên cứu ứng dụng, đánh giá phẫu thuật nội soi đặt catheter ổ bụng điều trị suy thận mạn giai đoạn cuối bằng lọc màng bụng.
Luận án "Phẫu thuật nội soi đặt catheter lọc màng bụng điều trị suy thận mạn" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Bệnh viện Bạch Mai.
Luận án "Phẫu thuật nội soi đặt catheter lọc màng bụng điều trị suy thận mạn" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Phẫu thuật nội soi đặt catheter lọc màng bụng điều trị suy thận mạn" thuộc chuyên ngành Ngoại khoa. Danh mục: Y Học.
Luận án "Phẫu thuật nội soi đặt catheter lọc màng bụng điều trị suy thận mạn" có bao nhiêu trang?
Luận án "Phẫu thuật nội soi đặt catheter lọc màng bụng điều trị suy thận mạn" có 169 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Phẫu thuật nội soi đặt catheter lọc màng bụng điều trị suy thận mạn" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.