Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất cá tra pangasianodon hypophth
Luận án: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất cá tra pangasianodon hypophthalmus ở đồng bằng sông cửu long luận án tiến sĩ. Xem tóm tắt và tải về
Luan An
Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản
Số trang
211
Thời gian đọc
32 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Thực trạng ngành cá tra ĐBSCL: Thách thức phát triển.
- Số trang:
- 211 trang
- Trường:
- Trường Đại học Cần Thơ
- Chuyên ngành:
- Nuôi trồng thủy sản
- Tác giả:
- Phạm Thị Thu Hồng
- Năm:
- 2017
Tóm tắt nội dung luận án
I. Thực trạng ngành cá tra ĐBSCL Thách thức phát triển
Ngành nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) giữ vai trò then chốt trong ngành thủy sản quốc gia. Thị trường tiêu thụ mở rộng, bao phủ hơn 140 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Ngành hàng này đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, sự phát triển của ngành đang gặp nhiều khó khăn. Các thách thức hiện hữu đòi hỏi phải có giải pháp toàn diện. Phân hóa rõ rệt về hiệu quả kỹ thuật và tài chính tồn tại giữa các hình thức nuôi. Nghiên cứu thực trạng và giải pháp đã được thực hiện từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 12 năm 2014. Mục tiêu là cung cấp thông tin khoa học, góp phần phát triển nuôi cá tra bền vững.
1.1. Vai trò quan trọng của ngành cá tra Việt Nam.
Cá tra giữ vai trò then chốt trong ngành thủy sản quốc gia. Thị trường tiêu thụ rộng, hơn 140 quốc gia và vùng lãnh thổ. Ngành đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu thủy sản. Tuy nhiên, ngành đối mặt nhiều thách thức. Yêu cầu thị trường ngày càng khắt khe. Phát triển chưa thực sự bền vững. Điều này đòi hỏi cần có cái nhìn tổng quan sâu sắc.
1.2. Nhu cầu chuẩn hóa chất lượng cá tra.
Thị trường đòi hỏi chuẩn hóa sản xuất. Các tiêu chuẩn như GlobalGAP, VietGAP, ASC cần áp dụng. Việc tuân thủ đảm bảo chất lượng cá tra. Đáp ứng đa dạng yêu cầu của các thị trường khác nhau. Thiếu chuẩn hóa làm giảm sức cạnh tranh. Nâng cao chất lượng cá tra là yếu tố sống còn để duy trì thị phần. Các tiêu chuẩn giúp đảm bảo uy tín sản phẩm.
1.3. Phân hóa hiệu quả sản xuất cá tra rõ rệt.
Hiệu quả kỹ thuật và tài chính khác biệt giữa các hình thức nuôi. Một số mô hình đạt hiệu quả cao hơn hẳn. Nghiên cứu chỉ ra sự phân hóa này. Việc tối ưu hóa mô hình sản xuất là cần thiết. Điều này ảnh hưởng đến năng suất cá tra và lợi nhuận tổng thể. Sự phân hóa cũng tác động đến chi phí sản xuất cá tra của từng hộ.
II. Phân tích tăng trưởng sản xuất cá tra Xuất khẩu năng suất
Các tỉnh Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long và Cần Thơ đóng góp hơn 85% diện tích nuôi cá tra toàn vùng ĐBSCL. Trong 13 năm (2001-2014), diện tích nuôi tăng gần ba lần, từ 2.300 ha lên gần 6.000 ha. Sản lượng cá tra tăng 34,3 lần, từ 37.500 tấn. Kim ngạch xuất khẩu tăng đột phá hơn 43 lần, từ 40 triệu USD lên hơn 1,75 tỷ USD. Ngành có sự dịch chuyển về hình thức sở hữu, với mô hình công ty ngày càng phát triển. Công ty có lợi thế về hệ thống nuôi, quản lý và ứng dụng công nghệ nuôi cá tra, tốt hơn so với nuôi cá thể. Năng suất cá tra đạt cao nhất ở mô hình công ty.
2.1. Tăng trưởng diện tích nuôi và sản lượng cá tra.
Các tỉnh Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ chiếm trên 85% diện tích. Giai đoạn 2001-2014, diện tích nuôi tăng gần 3 lần (2.300 ha lên 6.000 ha). Sản lượng cá tra tăng đáng kể, đạt 34,3 lần (từ 37.500 tấn). Sự tăng trưởng cho thấy tiềm năng ngành. Tuy nhiên, cần chú trọng nuôi cá tra bền vững để duy trì đà này. Việc mở rộng diện tích cần đi kèm quy hoạch.
2.2. Kim ngạch xuất khẩu cá tra tăng đột phá.
Kim ngạch xuất khẩu cá tra tăng hơn 43 lần (từ 40 triệu USD lên 1,75 tỉ USD). Cá tra phi-lê chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu sản phẩm (95%). Tỷ lệ sản phẩm giá trị gia tăng thấp. Điều này ảnh hưởng hiệu quả kinh tế chung. Cần đa dạng hóa sản phẩm để tăng giá trị. Nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế là ưu tiên.
2.3. Dịch chuyển hình thức sở hữu trong ngành.
Nghề nuôi cá tra có sự dịch chuyển về hình thức sở hữu. Hình thức công ty phát triển mạnh mẽ. Công ty có lợi thế về hệ thống nuôi, quản lý. Khả năng ứng dụng các tiêu chuẩn tốt hơn so với nuôi cá thể. Công nghệ nuôi cá tra được áp dụng hiệu quả hơn trong mô hình công ty. Điều này giúp tối ưu hóa sản xuất và quản lý.
III. Chi phí sản xuất cá tra Các yếu tố đầu vào chính
Giá thành sản xuất cá tra nguyên liệu phụ thuộc nhiều vào các yếu tố đầu vào. Thức ăn cá tra, con giống, và lãi vay ngân hàng là những yếu tố chính. Chúng biến động theo từng thời điểm trong năm. Giai đoạn 2007-2013, chi phí sản xuất tăng 1,77 lần, từ 15.000 đ/kg cá. Tuy nhiên, giá thu mua nguyên liệu không ổn định, liên tục thấp hơn giá thành sản xuất. Các cơ sở cung cấp thức ăn và thuốc thú y phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu, làm giá bán tăng, góp phần tăng chi phí sản xuất cá tra. Cơ cấu sản phẩm chế biến chủ yếu là phi-lê, với tỷ lệ giá trị gia tăng thấp, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế chung.
3.1. Phụ thuộc vào yếu tố đầu vào và giá cá tra.
Giá thành sản xuất cá tra nguyên liệu phụ thuộc thức ăn, con giống, lãi vay. Các yếu tố này biến động theo từng thời điểm. Giai đoạn 2007-2013, chi phí sản xuất tăng 1,77 lần (từ 15.000 đ/kg). Giá thu mua nguyên liệu không ổn định. Giá cá tra thường thấp hơn giá thành sản xuất. Điều này gây áp lực lớn cho người nuôi.
3.2. Biến động giá thức ăn cá tra và thuốc thú y.
Các cơ sở cung cấp thức ăn, thuốc thú y đủ năng lực. Tuy nhiên, phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu. Giá bán cho người nuôi luôn biến động tăng. Điều này góp phần tăng chi phí sản xuất cá tra nguyên liệu. Cần giải pháp giảm sự phụ thuộc này. Chủ động nguồn cung là yếu tố quan trọng để ổn định giá.
3.3. Tỷ lệ chế biến và cơ cấu sản phẩm chưa tối ưu.
Hệ số chế biến từ 2,7-3. Sản lượng xuất khẩu cá tra phi lê lớn. Cơ cấu sản phẩm chế biến chưa hợp lý. Chủ yếu sản phẩm phi-lê (95%). Tỷ lệ hàng giá trị gia tăng thấp. Hiệu quả kinh tế chung của ngành chưa cao. Đa dạng hóa sản phẩm là một hướng đi cần thiết để nâng cao giá trị và lợi nhuận.
IV. Đánh giá hình thức nuôi cá tra Hiệu quả kỹ thuật tài chính
Các hình thức tổ chức sản xuất cá tra có sự khác biệt rõ rệt về công trình, kỹ thuật và hiệu quả tài chính. Hình thức sản xuất nông hộ có hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) thấp nhất (1,5), trong khi công ty có FCR cao nhất (1,7). Công ty thả mật độ cao (74,3 con/m2) và đạt năng suất cá tra cao nhất (396 tấn/ha/vụ). Hợp tác xã đạt 337 tấn/ha, nông hộ 307 tấn/ha/vụ, và trang trại thấp nhất với 292 tấn/ha/vụ. Mô hình công ty có nhiều lợi thế về hệ thống nuôi, quản lý, và khả năng ứng dụng các tiêu chuẩn, giúp cải thiện chất lượng cá tra và công nghệ nuôi cá tra.
4.1. So sánh hiệu quả giữa các hình thức nuôi cá tra.
Các hình thức tổ chức sản xuất khác biệt về công trình, kỹ thuật và hiệu quả tài chính nuôi. Nông hộ có hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) thấp nhất (1,5). Công ty có FCR cao nhất (1,7). Sự khác biệt này ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất cá tra. Việc phân tích kỹ thuật giúp tìm ra mô hình tối ưu.
4.2. Năng suất cá tra theo mô hình sản xuất.
Công ty thả mật độ cao (74,3 con/m2), đạt năng suất cao nhất (396 tấn/ha/vụ). Hợp tác xã theo sau với 337 tấn/ha. Nông hộ đạt 307 tấn/ha/vụ. Trang trại có năng suất thấp nhất (292 tấn/ha/vụ). Quản lý ao nuôi cá tra hiệu quả giúp tăng năng suất. Công nghệ nuôi cá tra tiên tiến hỗ trợ tối ưu hóa mật độ.
4.3. Lợi thế mô hình công ty trong nuôi cá tra.
Mô hình công ty có nhiều lợi thế. Hệ thống nuôi tốt hơn, quản lý hiệu quả hơn. Khả năng ứng dụng các tiêu chuẩn tốt hơn. Điều này giúp cải thiện chất lượng cá tra. Phát triển công nghệ nuôi cá tra giúp tối ưu hóa sản xuất. Mô hình này thường có nguồn vốn đầu tư lớn hơn.
V. Giải pháp nâng cao hiệu quả nuôi cá tra bền vững
Để nâng cao hiệu quả sản xuất cá tra và hướng tới phát triển bền vững, cần áp dụng các giải pháp toàn diện. Việc cải tiến công nghệ nuôi cá tra và giảm chi phí sản xuất là ưu tiên hàng đầu. Nghiên cứu khoa học cần cung cấp dẫn liệu cho các kỹ thuật mới. Quản lý ao nuôi cá tra hiệu quả, bao gồm giám sát môi trường nuôi cá tra và phòng trị dịch bệnh cá tra, là thiết yếu. Nâng cao chất lượng cá tra đầu ra, đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu, cũng vô cùng quan trọng. Định hướng phát triển nuôi cá tra bền vững phải hài hòa giữa lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường, đồng thời ổn định giá cá tra cho người nuôi.
5.1. Cải thiện công nghệ nuôi cá tra giảm chi phí.
Cần áp dụng các kỹ thuật cải tiến để giảm chi phí sản xuất cá tra. Nghiên cứu khoa học cung cấp dẫn liệu quan trọng cho các giải pháp kỹ thuật. Phát triển công nghệ nuôi cá tra hiện đại là yêu cầu cấp thiết. Tối ưu hóa thức ăn cá tra và giảm hệ số FCR cần được chú trọng. Điều này giúp nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.
5.2. Hoàn thiện quản lý ao nuôi cá tra chất lượng.
Đề xuất các giải pháp quản lý hiệu quả cho ao nuôi cá tra. Tăng cường giám sát môi trường nuôi cá tra là cần thiết. Cần có biện pháp phòng trị dịch bệnh cá tra hiệu quả hơn. Mục tiêu là nâng cao chất lượng cá tra đầu ra. Đảm bảo tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn sản xuất quốc tế là yếu tố then chốt.
5.3. Định hướng phát triển nuôi cá tra bền vững.
Mục tiêu hàng đầu là phát triển nuôi cá tra bền vững. Ngành cần hài hòa giữa hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường. Hỗ trợ các hình thức sản xuất hiệu quả. Đẩy mạnh liên kết chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ. Điều này giúp ổn định giá cá tra và đảm bảo thu nhập cho người nuôi. Cần có chính sách hỗ trợ dài hạn.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (211 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ PHẠM THỊ THU HỒNG THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus) Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN MÃ NGÀNH: 62 62 03 01 2017 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ PHẠM THỊ THU HỒNG THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus) Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN MÃ NGÀNH: 62 62 03 01 CÁN BỘ HƯỚNG DẪN GS. NGUYỄN THANH PHƯƠNG PGS. DƯƠNG NHỰT LONG 2017 LỜI CẢM TẠ Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS. Nguyễn Thanh Phương và PGS.
Dương Nhựt Long - quý Thầy đã tận tình quan tâm, giúp đỡ, hướng dẫn, động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi và những lời khuyên quý báu trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu để tôi hoàn thành luận án này. Xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ đã cung cấp thêm kiến thức, tạo điều kiện cho tôi học tập và hoàn thành nghiên cứu. Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT Vĩnh Long nói chung và ông Phan Nhựt Ái - Giám đốc Sở nói riêng đã thường xuyên động viên, khuyến khích và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi sớm hoàn thành khóa học. Tôi xin cảm ơn Ủy ban Nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã hỗ trợ kinh phí đào tạo giúp tôi hoàn thành chương trình nghiên cứu sinh.
Tôi xin chân thành cám ơn ThS. Nguyễn Thị Em, ThS. Huỳnh Trấn Quốc, ThS. Lê Thị Tiểu Mi và các đồng nghiệp khác đang công tác tại Chi cục Thủy sản Vĩnh Long đã hỗ trợ tôi hoàn thành nghiên cứu này.
Sau cùng tôi kính lời cảm ơn sâu sắc gởi đến gia đình và người thân của tôi, tất cả mọi người đều luôn ủng hộ vật chất và tinh thần để tôi có thể hoàn thành tốt chương trình học này. Tác giả luận án Phạm Thị Thu Hồng i TÓM TẮT Nghề nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có vai trò rất quan trọng trong ngành thủy sản của quốc gia. Thị trường tiêu thụ cá tra đã được mở rộng trên 140 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Tuy nhiên, các yêu cầu của thị trường ngày càng khắt khe đòi hỏi ngành hàng cá tra hướng tới phải chuẩn hóa theo các tiêu chuẩn sản xuất (GlobalGAP, GAP, VietGAP, ASC) để đáp ứng cho các thị trường khác nhau.
Bên cạnh đó, nghề nuôi cá tra ở ĐBSCL đã và đang gặp nhiều khó khăn trong sản xuất và thể hiện sự phát triển không bền vững. Trong khi đó, có sự phân hóa ngày càng rõ rệt về hiệu quả kỹ thuật và tài chính giữa các hình thức nuôi. Nghiên cứu về thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) ở Đồng bằng sông Cửu Long đã được thực hiện từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 12 năm 2014 nhằm cung cấp các thông tin về thực trạng sản xuất ngành hàng, hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả tài chính các hình thức tổ chức sản xuất, đánh giá việc áp dụng các tiêu chuẩn đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và dẫn liệu khoa học một số kỹ thuật cải tiến giảm chi phí sản xuất làm tiền đề đưa ra các giải pháp kỹ thuật và quản lý góp phần phát triển bền vững nghề nuôi cá tra ở ĐBSCL. Kết quả điều tra cho thấy, bốn tỉnh Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ có diện tích nuôi cá tra trên 85% tổng diện tích nuôi cá tra của toàn vùng ĐBSCL; trong thời gian 13 năm (2001-2014) diện tích nuôi cá tra ở ĐBSCL tăng gần 3 lần (từ hơn 2.300 ha lên gần 6.000 ha), sản lượng tăng 34,3 lần (từ 37.500 tấn); kim ngạch xuất khẩu tăng hơn 43 lần (từ 40 triệu USD lên hơn 1,75 tỉ USD).
Giá thành sản xuất cá tra nguyên liệu phụ thuộc nhiều vào các yếu tố đầu vào như thức ăn, con giống, lãi vay ngân hàng tại từng thời điểm trong năm. Trong giai đoạn 2007-2013 thì chi phí sản xuất tăng 1,77 lần (từ 15.000 đ/kg cá) nhưng giá thu mua nguyên liệu không ổn định, liên tục thấp hơn giá thành sản xuất. Các cơ sở sản xuất kinh doanh thức ăn, thuốc thú y thủy sản hiện có đủ năng lực cung ứng cho nhu cầu phát triển ngành hàng nhưng do phụ thuộc vào nguyên liệu đầu vào nhập khẩu nên giá bán cho người nuôi luôn biến động tăng, góp phần tăng chi phí sản xuất cá tra nguyên liệu. Cơ cấu sản phẩm chế biến ngành cá tra chưa hợp lý, chủ yếu sản phẩm phi-lê (95%), tỷ lệ hàng giá trị gia tăng thấp nên hiệu quả kinh tế chung chưa cao.
Bên cạnh đó, với hệ số chế biến từ 2,7-3, sản lượng xuất khẩu cá tra phi lê từ 644.743 tấn (năm 2008) tăng lên 704. Bên cạnh đó, nghề nuôi cá tra ở ĐBSCL có sự dịch chuyển về hình ii thức sở hữu, hình thức công ty ngày càng phát triển và có nhiều lợi thế về các điều kiện như hệ thống nuôi, quản lý và khả năng ứng dụng các tiêu chuẩn tốt hơn so với hình thức nuôi khác, nhất là nuôi cá thể. Các hình thức tổ chức sản xuất cá tra khác biệt nhau về công trình, kỹ thuật và hiệu quả tài chính nuôi. Hình thức sản xuất nông hộ có hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) thấp nhất (1,5) và cao nhất là công ty (1,7); công ty thả mật độ cao (74,3 con/m2) và đạt năng suất cao nhất (396 tấn/ha/vụ), tiếp theo là hợp tác xã (337 tấn/ha), nông hộ (307 tấn/ha/vụ) và thấp nhất là trang trại (292 tấn/ha/vụ).
Tại thời điểm khảo sát thì hình thức sản xuất công ty có lời 436 triệu đồng/ha (chiếm 5,1% mẫu nghiên cứu) còn các loại hình khác đều lỗ vì giá thu mua nguyên liệu thấp hơn giá thành sản xuất do cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp chế biến. Chi phí thức ăn chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng chi phí, hình thức công ty cao (chiếm 84,0% ) hơn so với các hình thức còn lại. Giá thành sản xuất không có sự khác biệt giữa các loại hình sản xuất, từ 22. Các cơ sở/vùng nuôi áp dụng nhiều tiêu chuẩn quốc tế khác nhau như GlobalGAP, ASC cho sản phẩm cá tra bước đầu đã đáp ứng được yêu cầu thị trường thế giới.
Bên cạnh đó, việc thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP) cũng từng bước đưa vào áp dụng, nhưng trở ngại lớn nhất khi áp dụng VietGAP là tiêu chuẩn này vẫn chưa được quốc tế công nhận. Nghiên cứu ứng dụng một số biện pháp kỹ thuật nâng cao hiệu quả nuôi cá tra cũng được thực hiện ngoài hiện trường ao nuôi. Phương pháp cho ăn gián đoạn 7 ngày và ngừng cho ăn 2 ngày đã giúp cải thiện được tăng trưởng của cá, giảm FCR, giảm ô nhiễm môi trường và giảm giá thành sản xuất, tăng hiệu quả kinh tế so với phương pháp cho ăn truyền thống.Tương tự, khi sử dụng sục khí trong ao nuôi cá tra cũng góp phần cải thiện tăng trưởng, tỷ lệ sống, năng suất, FCR và lợi nhuận so với ao nuôi cá tra không được sục khí. Kết quả nghiên cứu cho thấy để cải thiện hiệu quả tài chính của nuôi cá tra rất cần thực hiện một số giải pháp quản lý và kỹ thuật như (i) ổn định diện tích và sản lượng nuôi; (ii) tăng cường công tác quản lý giống để đảm bảo giống chất lượng góp phần giảm chi phí; (iii) ứng dụng các biện pháp cải tiến kỹ thuật để giảm hệ số tiêu tốn thức ăn, nâng cao chất lượng giống và quản lý sức khỏe cá góp phần nâng cao tỉ lệ sống, giảm chi phí thuốc và hóa chất; (iv) xây dựng mô hình mẫu hợp tác theo hướng liên kết chặt chẽ các thành phần trong chuỗi sản xuất.
Từ khóa: cá tra, kỹ thuật, tài chính, tổ chức sản xuất, ăn gián đoạn, chi phí sản xuất, nuôi thâm canh. iii ABSTRACT The farming of striped catfish (Pangasianodon hypophthalmus) in the Mekong Delta has played an important role in the aquaculture and fisheries sector of the country. The export markets of striped catfish have been expanded over 140 countries and territories around the world. However, the requirements of these markets (also known as technical barriers) have been increasingly stringent, which requires the farming industry need to standardize the production standards (GlobalGAP, BAP, VietGAP, ASC,.) to meet different markets.
Besides, striped catfish farming in the Mekong Delta has been exposed to many uncertainties in production and unsustainability in development. Meanwhile, there is an increasingly clear differentiation in technical and financial efficiencies among farming forms. A study on the current status and solutions for improving the production efficiency of the striped catfish (Pangasianodon hypophthalmus) in the Mekong Delta was conducted during the period from October 2010 to December 2014. The study aimed to provide information about the development of organizational forms and their technical and financial efficiencies; to assess the applicability of production standards/guidelines required by imported markets and to propose technical and management measures for the sustainable development of the striped catfish farming industry.
Results of surveys showed that four main striped catfish culture provinces in Mekong Delta are Dong Thap, An Giang, Vinh Long and Can Tho, accounting for 85% total culture area. A period of 13 years (2001-2014), the striped catfish culture area in the Mekong Delta increased almost 3 times (from over 2,300 to nearly 6,000 ha), the production increased 34.3 times (from 37,500 to 1,285,500 tonnes), export values increased more than 43 times (from US$ 40 million to over US$ 1.75 billion), and production costs of raw fish increased 1. However, farm gate prices were unstable and constantly lower than the production cost. The feeds and veterinary medicines industry have also well developed providing services for the development needs of the industry.
However, the heavy dependence of imported inputs materials made the retail prices fluctuated causing the increase of fish production costs. The structure of striped catfish processing industry was irrational, mostly fillet products (95%); a low proportion of value-added products leads to low economic efficiency. Besides, with processing coefficients of fillet ranged iv from 2.7 to 3, the export production of striped catfish fillet increased from 644,743 tonnes (2008) to 704,459 tonnes (2013) but this does not appropriate if compared to the culture production, showing the production increased by processing techniques (glazing). Besides, striped catfish farming in the Mekong Delta had a shift on ownership, the production form of company was increasingly growing as it had more advantages in farming systems, management and better usability of advanced standards than other striped catfish production forms, especially house-hold.
The differences in the infrastructure, technical and financial efficiencies among organizational forms of striped catfish production were recorded. Household production form had the lowest FCR (1.5), and the highest value (1.7) was found in companies. Companies achieved the highest yield (396 tonnes/ha/crop) because of high stocking density (74.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Phạm Thị Thu Hồng (2017). Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất cá tra pa [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Cần Thơ]. LuanAn.net. https://luanan.net/tai-lieu-khac/thuc-trang-va-giai-phap-nang-cao-hieu-qua-san-xuat-ca-tra-pangasianodon
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất cá tra pa" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất cá tra pangasianodon hypophthalmus ở đồng bằng sông cửu long luận án tiến sĩ. Xem tóm tắt và tải về
Luận án "Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất cá tra pa" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Cần Thơ. Năm bảo vệ: 2017.
Luận án "Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất cá tra pa" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất cá tra pa" thuộc chuyên ngành Nuôi trồng thủy sản. Danh mục: Tài liệu khác.
Luận án "Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất cá tra pa" có bao nhiêu trang?
Luận án "Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất cá tra pa" có 211 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất cá tra pa" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.