Thực trạng nhiễm hiv bệnh lao afb và đánh giá hiệu quả can thiệp dự phòng ở nhóm
Luận án: Thực trạng nhiễm hiv bệnh lao afb và đánh giá hiệu quả can thiệp dự phòng ở nhóm nghiện chích ma túy tại tỉnh đắk lắk luận án tiến sĩ. Xem tóm tắt và t
Luan An
Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản
Số trang
127
Thời gian đọc
20 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
40 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Gánh nặng toàn cầu: Đồng nhiễm HIV/Lao và tử vong
- Số trang:
- 127 trang
- Trường:
- Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
- Chuyên ngành:
- Y tế công cộng
- Tác giả:
- Phạm Thọ Dược
- Năm:
- 2014
Tóm tắt nội dung luận án
I. Gánh nặng toàn cầu Đồng nhiễm HIV Lao và tử vong
HIV/AIDS và bệnh lao là hai thách thức y tế công cộng lớn. Chúng tương tác, làm tăng gánh nặng bệnh tật ở nhiều quốc gia. HIV làm suy giảm miễn dịch, khiến cơ thể dễ mắc lao hơn. Bệnh lao là nguyên nhân tử vong chính ở người nhiễm HIV. Mối quan hệ này tạo ra một vòng luẩn quẩn nguy hiểm. Các chiến lược phòng chống HIV/Lao cần được tăng cường. Tình trạng này đòi hỏi sự can thiệp toàn diện, phối hợp giữa các chương trình.
1.1. Tác động kép HIV Lao toàn cầu
HIV và bệnh lao là hai vấn đề y tế quan trọng trên thế giới. Dù tác nhân gây bệnh khác nhau, chúng tương tác. Sự tương tác này làm tăng gánh nặng bệnh tật. HIV làm thất bại các chiến lược phòng chống lao. Ngược lại, bệnh lao là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho người nhiễm HIV. Mối quan hệ này làm phức tạp thêm công tác y tế công cộng.
1.2. Tỷ lệ mắc và tử vong do HIV Lao
Năm 2012, một phần ba trong số 34 triệu người nhiễm HIV mắc bệnh lao. Ước tính 8,7 triệu người mắc lao hàng năm. Trong số đó, 1,1 triệu người đồng nhiễm HIV mới. Bệnh lao gây 1,4 triệu ca tử vong. Khoảng 430.000 ca tử vong là do đồng nhiễm HIV. Những số liệu này cho thấy mức độ nghiêm trọng của dịch tễ học HIV/Lao. Các can thiệp phòng chống HIV/Lao cấp bách.
1.3. Thách thức chiến lược phòng chống
Nhiễm HIV làm tăng nguy cơ mắc bệnh lao. Người nhiễm HIV có nguy cơ mắc lao cao gấp 21-34 lần. Gần 50% người nhiễm HIV/AIDS tử vong do lao. Điều này đặt ra thách thức lớn cho chiến lược phòng chống bệnh lao. Cần có các biện pháp dự phòng đặc hiệu. Can thiệp phòng chống HIV/Lao phải được ưu tiên. Việc giảm thiểu tỷ lệ tử vong do đồng nhiễm là mục tiêu quan trọng.
II. Tình hình lây nhiễm HIV Lao tại Việt Nam và Đắk Lắk
Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong phòng chống HIV và bệnh lao. Tuy nhiên, tình hình lây truyền HIV vẫn phức tạp. Nhóm có hành vi nguy cơ cao, như người nghiện chích ma túy, vẫn là tâm điểm. Bệnh lao tiếp tục là gánh nặng lớn. Các tỉnh miền núi, đặc biệt là Đắk Lắk, đối mặt với nhiều thách thức. Tình hình đồng nhiễm HIV/Lao tại các khu vực này cần được quan tâm đặc biệt. Các số liệu cho thấy nhu cầu can thiệp mạnh mẽ.
2.1. Dịch tễ học HIV AIDS tại Việt Nam
Từ năm 1990 đến cuối năm 2012, Việt Nam ghi nhận 208.866 người nhiễm HIV còn sống. 59.839 bệnh nhân AIDS được báo cáo. 62.183 trường hợp tử vong do AIDS. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy (NCMT) là 13,4% (2011) và 11,6% (2012). Đây là nhóm nguy cơ cao lây truyền HIV. Các chương trình phòng chống HIV/AIDS cần tập trung vào nhóm này. Cần tiếp tục giám sát chặt chẽ tình hình lây nhiễm HIV.
2.2. Gánh nặng bệnh lao quốc gia
Bệnh lao vẫn là gánh nặng sức khỏe cộng đồng tại Việt Nam. Hơn 40% dân số Việt Nam bị nhiễm lao. Quốc gia này đứng thứ 12 về số bệnh nhân lao cao nhất thế giới. Việt Nam cũng xếp thứ 14 về lao đa kháng và siêu kháng. Hàng năm, ước tính 180.000 bệnh nhân lao mới. Khoảng 6.000 bệnh nhân lao đa kháng và 7.400 bệnh nhân HIV/lao được ghi nhận. Việc phát hiện bệnh nhân còn hạn chế, chỉ khoảng 60%.
2.3. Tình hình HIV Lao tại Đắk Lắk
Tại Đắk Lắk, đến cuối năm 2012, 1.520 người nhiễm HIV còn sống được báo cáo. Trong đó, 623 người chuyển sang AIDS. 351 người tử vong do AIDS. Tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm NCMT là 43,55%. Tỷ lệ bệnh nhân lao nhiễm HIV là 3,1%. Đắk Lắk là tỉnh miền núi, tiềm ẩn nhiều đặc điểm phức tạp về HIV và bệnh lao. Cần có các chiến lược phòng chống HIV/Lao đặc thù cho địa phương này.
III. Mối tương tác HIV AIDS Bệnh Lao Yếu tố nguy cơ
Mối quan hệ giữa HIV/AIDS và bệnh lao rất phức tạp. Nhiễm HIV làm suy giảm hệ miễn dịch, tạo điều kiện cho lao phát triển. Các yếu tố liên quan đến đồng nhiễm rất đa dạng. Việc xác định những yếu tố này là cơ sở quan trọng. Nó giúp xây dựng các chiến lược dự phòng hiệu quả. Đặc biệt, nhóm nghiện chích ma túy đối mặt với nguy cơ cao nhất. Hiểu rõ các yếu tố này giúp giảm thiểu sự lây lan của cả hai bệnh.
3.1. Suy giảm miễn dịch và tăng nguy cơ lao
Nhiễm HIV làm cơ thể bị suy giảm miễn dịch. Hệ miễn dịch yếu khiến người bệnh dễ nhiễm lao hơn. Đặc biệt ở các đối tượng có nguy cơ cao, khả năng mắc lao tăng lên đáng kể. Tình trạng suy giảm miễn dịch là cầu nối giữa hai bệnh. Điều trị ARV giúp cải thiện miễn dịch. Việc này gián tiếp làm giảm nguy cơ mắc lao.
3.2. Đối tượng nghiện chích ma túy NCMT
NCMT là nhóm quần thể có hành vi nguy cơ cao lây nhiễm HIV. Việc sử dụng chung kim tiêm là con đường lây truyền chính. Nhóm này cũng dễ mắc bệnh lao hơn do điều kiện sống và miễn dịch. Hiểu rõ hành vi của nhóm NCMT rất quan trọng. Các can thiệp phòng chống HIV/Lao cần nhắm mục tiêu cụ thể vào đối tượng này. Cần có chiến lược tiếp cận và hỗ trợ phù hợp.
3.3. Các yếu tố liên quan đồng nhiễm HIV Lao
Xác định các yếu tố liên quan đến đồng nhiễm HIV và lao là cần thiết. Những yếu tố này cung cấp bằng chứng khoa học. Chúng hỗ trợ việc xây dựng kế hoạch dự phòng. Kế hoạch này phải phù hợp với bối cảnh địa phương và quốc gia. Hiểu biết về yếu tố nguy cơ giúp khống chế đại dịch. Nó cũng giúp giảm thiểu tỷ lệ mắc và tử vong do HIV/Lao.
IV. Can thiệp phòng chống HIV Lao Hiệu quả dự phòng
Can thiệp dự phòng là yếu tố then chốt trong kiểm soát HIV và bệnh lao. Đặc biệt, can thiệp cộng đồng đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, các chương trình can thiệp vẫn đối mặt với nhiều hạn chế. Thiếu nguồn lực và khó khăn trong tiếp cận đối tượng là những rào cản lớn. Đặc thù địa phương, như ở Tây Nguyên, cũng gây khó khăn. Nhu cầu nghiên cứu đánh giá hiệu quả can thiệp là cấp thiết. Việc này giúp tối ưu hóa các chiến lược phòng chống HIV/Lao.
4.1. Vai trò can thiệp dự phòng cộng đồng
Các chiến lược phòng chống HIV và bệnh lao cần can thiệp chủ động. Hiểu rõ các yếu tố nguy cơ của nhóm đối tượng hành vi nguy cơ cao. Điều này giúp đưa ra biện pháp ưu tiên trong dự phòng. Can thiệp dự phòng cộng đồng đóng vai trò quan trọng. Nó giúp giảm thiểu tỷ lệ mắc và tử vong do HIV/Lao. Cộng đồng cần được tham gia tích cực vào các hoạt động này.
4.2. Hạn chế trong tiếp cận và nguồn lực
Mặc dù có nhiều chiến lược và mô hình can thiệp, kết quả còn hạn chế. Nguyên nhân do thiếu nguồn nhân lực và vật lực. Sự khó khăn trong tiếp cận đối tượng nguy cơ cũng là vấn đề. Đặc thù riêng của địa phương, nhiều dân tộc, trình độ kinh tế thấp, ảnh hưởng. Những hạn chế này làm giảm hiệu quả các chương trình phòng chống HIV/Lao. Cần có giải pháp khắc phục triệt để.
4.3. Nhu cầu nghiên cứu khu vực Tây Nguyên
Khu vực Tây Nguyên chưa có nghiên cứu cụ thể về HIV/Lao. Đặc biệt là trên nhóm nghiện chích ma túy. Nghiên cứu này rất cần thiết. Nó cung cấp bức tranh tổng thể về tình trạng HIV và bệnh lao. Kết quả sẽ là cơ sở cho các can thiệp dự phòng phù hợp. Việc này giúp cải thiện hiệu quả phòng chống HIV/Lao tại Đắk Lắk. Nghiên cứu sâu hơn cần được thực hiện.
V. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá thực trạng và can thiệp
Nghiên cứu này đặt ra các mục tiêu rõ ràng. Mục tiêu chính là xác định tỷ lệ nhiễm HIV và bệnh lao phổi AFB dương tính. Nghiên cứu cũng mô tả các yếu tố liên quan đến tình trạng đồng nhiễm. Cuối cùng, đánh giá hiệu quả của các can thiệp dự phòng cộng đồng. Đối tượng tập trung là nhóm nghiện chích ma túy tại Đắk Lắk. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp bằng chứng khoa học vững chắc. Nó góp phần vào việc xây dựng chính sách và chương trình phòng chống HIV/Lao hiệu quả.
5.1. Xác định tỷ lệ nhiễm HIV và Lao phổi AFB
Nghiên cứu này có mục tiêu đầu tiên là xác định tỷ lệ nhiễm HIV. Đồng thời, nghiên cứu xác định tỷ lệ bệnh lao phổi AFB dương tính. Đối tượng là nhóm nghiện chích ma túy. Địa điểm nghiên cứu tại tỉnh Đắk Lắk. Dữ liệu thu thập năm 2011 sẽ cung cấp thông tin chính xác. Việc này giúp đánh giá đúng thực trạng lây nhiễm HIV và bệnh lao.
5.2. Mô tả yếu tố liên quan đồng nhiễm HIV Lao
Mục tiêu thứ hai là mô tả các yếu tố liên quan. Các yếu tố này tác động đến tình trạng đồng nhiễm HIV và lao. Đối tượng vẫn là nhóm nghiện chích ma túy. Việc xác định các yếu tố này giúp hiểu rõ hơn về dịch tễ học. Nó cũng tạo cơ sở cho các biện pháp can thiệp phòng chống HIV/Lao hiệu quả. Những yếu tố này có thể bao gồm hành vi, điều kiện sống.
5.3. Đánh giá hiệu quả can thiệp dự phòng
Mục tiêu cuối cùng là đánh giá hiệu quả. Nghiên cứu tập trung vào các can thiệp dự phòng cộng đồng. Mục tiêu là hạn chế tình trạng nhiễm HIV và lao. Thời gian đánh giá là giai đoạn 2011-2012. Kết quả đánh giá sẽ cho thấy mức độ thành công của các chương trình. Nó cũng chỉ ra các điểm cần cải thiện trong can thiệp phòng chống HIV/Lao.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (127 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộ1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG PHẠM THỌ DƯỢC THỰC TRẠNG NHIỄM HIV, BỆNH LAO AFB (+) VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CAN THIỆP DỰ PHÒNG Ở NHÓM NGHIỆN CHÍCH MA TÚY TẠI TỈNH ĐẮK LẮK LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG Người hướng dẫn khoa học: 1. Bùi Đức Dương 2. Nguyễn Thị Thu Yến HÀ NỘI - 2014 2 ĐẶT VẤN ĐỀ HIV/AIDS và bệnh lao là hai vấn đề y tế công cộng quan trọng đã và đang được quan tâm trên toàn thế giới. Mặc dù hai bệnh này có tác nhân gây bệnh, cơ chế lây truyền cũng như nhóm đối tượng nguy cơ khác nhau, nhưng đã tác động tương tác làm tăng gánh nặng bệnh tật ở nhiều quốc gia trên thế giới.
HIV đã làm cho chiến lược phòng chống bệnh lao ở nhiều quốc gia bị thất bại và ngược lại, bệnh lao là nguyên nhân chính gây tử vong ở nhóm người nhiễm HIV [115]. Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 2012 có khoảng một phần ba trong số 34 triệu người nhiễm HIV trên toàn thế giới bị mắc lao [115]. Năm 2011, ước tính 8,7 triệu người mắc bệnh lao và 1,1 triệu người (13%) nhiễm HIV mắc lao mới; 1,4 triệu người tử vong vì bệnh lao, trong đó ước tính 430.000 triệu người (24%) đồng nhiễm HIV [89], [113]. Bệnh lao luôn đồng hành với tình trạng nhiễm HIV, là một trong những bệnh nhiễm trùng cơ hội.
Trên 30% số người nhiễm HIV có nguy cơ mắc bệnh lao cao 21 - 34 lần so với người không nhiễm HIV và gần 50% số người nhiễm HIV/AIDS bị chết do lao [71], [115]. Việt Nam, mặc dù có những cam kết mạnh mẽ và triển khai các chương trình dự phòng, nhưng sự lan truyền của HIV vẫn còn phức tạp, nhất là ở các nhóm quần thể có hành vi nguy cơ cao. Số liệu thống kê của Bộ Y tế, kể từ khi phát hiện trường hợp HIV đầu tiên năm 1990 cho đến 31/12/2012, số trường hợp hiện còn sống: nhiễm HIV là 208.866, bệnh nhân AIDS là 59.839 và đã tử vong do AIDS là 62.183 trường hợp. Số liệu giám sát trọng điểm, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy là 13,4% (2011) và 11,6% (2012), hiện vẫn là nhóm nguy cơ cao lây truyền HIV [8], [10], [14].
Bên cạnh HIV, bệnh lao vẫn còn là gánh nặng về sức khỏe, y tế và xã hội. Theo số liệu điều tra của Dự án phòng, chống lao quốc gia, trên 40% dân số Việt Nam bị nhiễm lao. Việt Nam xếp thứ 12 trong 22 nước có số lượng bệnh nhân (BN) lao cao nhất thế giới và thứ 14 trong 27 nước có lao đa kháng và siêu 3 kháng cao [89]. Hàng năm ước tính có thêm 180.000 BN lao, trong đó có khoảng 6.000 BN lao đa kháng và khoảng 7.400 BN HIV/lao.
Tuy nhiên chúng ta mới chỉ phát hiện được khoảng 60% số BN ước tính trong khoảng trên dưới 100. Khu vực Tây Nguyên gồm tỉnh Đắc Nông, Đắk Lắk, Gia Lai và Kon Tum năm 1993 phát hiện 5 trường hợp nhiễm HIV đầu tiên, đến 31/12/2012, số trường hợp hiện nhiễm HIV là 3.395 trường hợp, bệnh nhân AIDS là 1.400 và 765 trường hợp đã tử vong do AIDS. Phân bố HIV trên nhóm NCMT là 38,2% (2011), 37,6% (2012) phân bố BN lao nhiễm HIV là 3,5% (2011), 3,4% (2012) [17], [37]. Đắk Lắk là một tỉnh miền núi cao nguyên trung phần, cũng hội đủ và tiềm ẩn các đặc điểm về HIV và bệnh lao trên người nhiễm HIV.
Lũy tích từ 1993 đến 31/12/2012 ghi nhận số trường hợp nhiễm HIV còn sống được báo cáo là 1.520 người, trong đó 623 người chuyển sang AIDS và 351 người đã tử vong do AIDS. Phân bố nhiễm HIV trên nhóm đối tượng NCMT là 43,55%, BN lao là 3,1% [17], [35]. Các yếu tố liên quan tới nhiễm HIV và bệnh lao có sự tương tác qua lại giữa 2 tình trạng bệnh này. Nhiễm HIV làm cơ thể bị suy giảm miễn dịch, suy giảm miễn dịch dễ bị nhiễm và mắc bệnh lao [58], đặc biệt ở các đối tượng có nguy cơ cao.
Xác định được các yếu tố liên quan là cơ sở khoa học để đưa ra bằng chứng cho công tác xây dựng kế hoạch dự phòng và khống chế đại dịch HIV/AIDS cũng như bệnh lao phù hợp với bối cảnh của từng địa phương và từng quốc gia. Để có được bức tranh tổng thể về hai vấn đề sức khỏe cộng cộng, đồng thời với sự can thiệp chủ động, nhằm giảm thiểu tỷ lệ mắc và tử vong, điều quan trọng là hiểu rõ các yếu tố nguy cơ của nhóm đối tượng có hành vi nguy cơ cao để đưa ra các biện pháp ưu tiên trong công tác can thiệp dự phòng và phòng chống. Trên cơ sở những kiến thức khoa học về HIV và bệnh lao mà các chiến lược phòng, chống cũng như mô hình can thiệp được áp dụng, nhưng kết quả cũng còn hạn chế do nhiều nguyên nhân như nguồn nhân lực, vật lực và sự 4 khó khăn trong tiếp cận, cũng như đặc thù riêng của địa phương với nhiều dân tộc và trình độ kinh tế còn thấp. Hơn nữa, khu vực Tây Nguyên chưa có nghiên cứu nào về HIV/lao trên nhóm NCMT, do vậy nghiên cứu “Thực trạng nhiễm HIV, bệnh lao AFB (+) và đánh giá hiệu quả can thiệp dự phòng ở nhóm NCMT tại tỉnh Đắk Lắk” được tiến hành với 3 mục tiêu sau: 1.
Xác định tỷ lệ nhiễm HIV và bệnh lao AFB (+) trong nhóm nghiện chích ma túy ở tỉnh Đắk Lắk năm 2011. Mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng đồng nhiễm HIV và lao trên nhóm nghiện chích ma túy. Đánh giá hiệu quả can thiệp dự phòng cộng đồng nhằm hạn chế tình trạng nhiễm HIV và lao trên nhóm nghiện chích ma túy giai đoạn 2011- 2012 5 Chương 1 TỔNG QUAN 1. Thực trạng HIV/AIDS và bệnh lao 1.
Thực trạng HIV/AIDS 1. Khái niệm về HIV/AIDS HIV là chữ viết tắt của tiếng Anh “Human Immunodeficiency Virus” có nghĩa là (vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người). HIV khi xâm nhập vào cơ thể gọi là người nhiễm HIV, mã số phân loại quốc tế ICD-10 là B20B24 [3], [117], gây ra tình trạng ức chế miễn dịch thứ phát do mất các tế bào lympho T CD4+ (hỗ trợ). Các tế bào T hỗ trợ này bình thường trợ giúp cho cả đáp ứng miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào [117].
AIDS là chữ viết tắt bằng tiếng Anh “Acquired Inmunodeficiency syndrome” có nghĩa là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người do nhiễm HIV. AIDS không phải là một bệnh mà là một hội chứng, AIDS là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV. Do hệ thống miễn dịch bị tổn thương, cơ thể không tự bảo vệ trước những nhiễm trùng cơ hội hoặc biến đổi tế bào mà một người bình thường có thể chống đỡ được [117]. Tác nhân gây bệnh Hai loại HIV đã được biết, đó là HIV-1 và HIV-2.
Trên thế giới HIV-1 là loại chiếm ưu thế, HIV-2 gặp chủ yếu ở Tây Phi. HIV-1 có thời gian ủ bệnh ngắn, nguy cơ lây truyền cao hơn và bệnh diễn biến nặng hơn. Ở Việt Nam, đã được xác định là nhóm vi rút HIV-1, chưa có ghi nhận sự hiện diện nhóm HIV-2 [86]. Cấu trúc của HIV có đường kính 1/10.000nm được chia thành hai lớp chính: Lớp vỏ là màng lipid, trên đó có gai nhú glycoprotein (GP), đặc biệt là GP120 và GP41 có tính kháng nguyên cao.
Lớp lõi có chứa một số thành phần chính như: Protein lõi, men phiên mã ngược và ARN là vật liệu di truyền của HIV [81]. Sự lan truyền HIV lây truyền qua ba con đường: Tình dục, đường máu và mẹ truyền sang con lúc mang thai, khi sinh hoặc khi cho con bú [113]. Đường tình dục Vi rút HIV có nhiều trong chất dịch sinh dục. Do vậy, vi rút có thể xâm nhập vào máu qua cơ quan sinh dục.
Việc sinh hoạt tình dục, dù có giao hợp hay chỉ tiếp xúc với cơ quan sinh dục, đều dẫn đến nguy cơ lây nhiễm. Giao hợp dương vật - hậu môn dễ làm lây HIV nhất, vì hậu môn và trực tràng không có dịch trơn như âm đạo nên rất dễ xây xát, khiến HIV dễ dàng truyền từ người này sang người khác [14]. Đường máu Vi rút HIV có nhiều ở trong máu nên tiêm chích ma túy (TCMT) có nguy cơ nhiễm HIV cao hơn người khác là do nhiều khi họ dùng chung bơm kim (BKT) với nhóm bạn bè hoặc tại điểm bán thuốc nghiện. Những nghiên cứu tại các quốc gia trên thế giới cho thấy nhóm đối tượng nghiện chích ma túy (NCMT) luôn có tỷ lệ nhiễm HIV cao do những hành vi không an toàn như sử dụng chung BKT, quan hệ tình dục (QHTD) bừa bãi.
Một nghiên cứu của Venkatesan Chakrapani ở Ấn Độ công bố vào năm 2011 trên nhóm đối tượng NCMT cho kết quả có đến 38% nhiễm HIV, 33,3% sử dụng chung BKT. Nghiên cứu cũng cho biết những yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng chung BKT như là ngại đến các nhà thuốc để mua BKT, tỷ lệ bao phủ của chương trình cung cấp BKT sạch miễn phí còn thấp, không có sẵn BKT trong nhà tù, trại cải tạo, sợ công an và các chương trình phòng, chống ma túy phát hiện là người nghiện [14], [25], [52]. Truyền máu là tiếp nhận một lượng máu lớn vào cơ thể người nhận, do đó nếu nhận máu của người nhiễm HIV, thì chắc chắn bị lây nhiễm. Nước ta quy định bắt buộc xét nghiệm các đơn vị máu và loại bỏ máu có HIV.
Mẹ truyền sang con Cứ một trăm phụ nữ nhiễm HIV sinh con, có khoảng 25-30 trẻ bị nhiễm. HIV có thể lây sang bào thai qua nhau thai khi trẻ còn ở trong bụng 7 mẹ, qua máu và chất dịch của mẹ khi sinh, hoặc qua sữa mẹ khi mẹ cho con bú. Trẻ sơ sinh nhiễm HIV thường không sống được quá ba năm [14]. Phụ nữ nhiễm HIV cũng có nhu cầu thiên chức làm mẹ, đó là chưa kể mong muốn của người chồng và những người thân khác trong gia đình, hơn nữa khả năng lây nhiễm không phải là 100%.
Do đó, chính người phụ nữ cùng chồng mình là những người quyết định có sinh con hay không [9], [14]. Diễn biến HIV/AIDS trên thế giới Kể từ khi phát hiện HIV đầu tiên trên thế giới (1981), có thể chia đại dịch HIV/AIDS thành 3 giai đoạn sau [27]: 1. Thời kỳ yên lặng Năm 1981, lần đầu tiên một bệnh mới có tên là Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải, hay còn gọi là AIDS, đã được phát hiện trong số những người đàn ông đồng tình luyến ái tại Mỹ.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Phạm Thọ Dược (2014). Thực trạng nhiễm hiv bệnh lao afb và đánh giá hiệu quả can t [Luận án tiến sĩ, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương]. LuanAn.net. https://luanan.net/tai-lieu-khac/thuc-trang-nhiem-hiv-benh-lao-afb-va-danh-gia-hieu-qua-can-thiep-du-phong-o
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Thực trạng nhiễm hiv bệnh lao afb và đánh giá hiệu quả can t" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án: Thực trạng nhiễm hiv bệnh lao afb và đánh giá hiệu quả can thiệp dự phòng ở nhóm nghiện chích ma túy tại tỉnh đắk lắk luận án tiến sĩ. Xem tóm tắt và t
Luận án "Thực trạng nhiễm hiv bệnh lao afb và đánh giá hiệu quả can t" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương. Năm bảo vệ: 2014.
Luận án "Thực trạng nhiễm hiv bệnh lao afb và đánh giá hiệu quả can t" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Thực trạng nhiễm hiv bệnh lao afb và đánh giá hiệu quả can t" thuộc chuyên ngành Y tế công cộng. Danh mục: Tài liệu khác.
Luận án "Thực trạng nhiễm hiv bệnh lao afb và đánh giá hiệu quả can t" có bao nhiêu trang?
Luận án "Thực trạng nhiễm hiv bệnh lao afb và đánh giá hiệu quả can t" có 127 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Thực trạng nhiễm hiv bệnh lao afb và đánh giá hiệu quả can t" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.