Luận án tiến sĩ tư tưởng nhân văn truyền thống việt nam thế kỷ x đến thế kỷ xiv
Luận án tiến sĩ nghiên cứu, phân tích giá trị cốt lõi của tư tưởng nhân văn truyền thống Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp phát huy trong bối cảnh hiện đại.
Luan An
Luận án tiến sĩ
Số trang
188
Thời gian đọc
29 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- Tầm Quan Trọng Tư Tưởng Nhân Văn Việt Nam Hiện Đại
- Số trang:
- 188 trang
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I.Tầm Quan Trọng Tư Tưởng Nhân Văn Việt Nam Hiện Đại
Luận án này khám phá vai trò thiết yếu của tư tưởng nhân văn truyền thống Việt Nam trong bối cảnh hiện đại. Thế kỷ XXI mang đến nhiều đổi thay kỳ diệu. Tuy nhiên, nó cũng tạo ra những thách thức lớn. Sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật song hành cùng những hậu quả phản nhân văn. Môi trường sống bị hủy hoại, chiến tranh tàn khốc, và sự phân hóa giàu nghèo sâu sắc. Trong nghịch lý đó, nhu cầu về một triết lý nhân sinh Việt Nam mạnh mẽ, dựa trên các giá trị đạo đức truyền thống, trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Con người cần được đặt ở vị trí trung tâm của mọi sự phát triển, như UNESCO đã nhấn mạnh. Việc giáo dục các giá trị nhân văn, nhân đạo, khoan dung, và tư tưởng nhân ái không chỉ là chiến lược mà còn là nền tảng cho một thế giới an bình và hạnh phúc chung.
1.1. Thách thức thời đại Khoa học kỹ thuật và hậu quả phản nhân văn
Thế kỷ XX chứng kiến phát triển khoa học vượt bậc. Công nghệ mang lại nhiều kỳ diệu. Song, cũng tạo ra tai họa khủng khiếp, phản nhân văn. Môi trường sống tự nhiên bị hủy hoại nghiêm trọng. Chiến tranh ngày càng tàn bạo, sử dụng vũ khí tinh vi. Xã hội đối mặt phân cực giàu nghèo chưa từng thấy. Một nhóm nhỏ chiếm giữ phần lớn của cải. Nhiều người sống trong nghèo đói, bệnh tật, thảm thương. Đây là nghịch lý lớn của thời đại. Khoa học tiến bộ nhưng đạo đức con người suy yếu. Triết lý nhân sinh Việt Nam cần được củng cố. Các giá trị đạo đức truyền thống đang bị đe dọa.
1.2. Nhu cầu phục hồi Con người là trung tâm phát triển bền vững
Bài học từ thế kỷ XX rất rõ ràng: thế giới cần an bình. Tất cả mọi người trên hành tinh phải có ý thức. Quyền lợi như thành viên thực sự của tập thể. Cùng chia sẻ, bảo vệ trái đất là ngôi nhà chung. UNESCO đưa ra tư tưởng "Con người đứng ở trung tâm của sự phát triển". Ý tưởng này ngày càng được đón nhận rộng rãi. Nhân loại hướng tới thế kỷ XXI với khát vọng hòa bình, hạnh phúc. Giáo dục giá trị người như nhân văn, nhân đạo, khoan dung, tư tưởng nhân ái, rất quan trọng. Đây là chiến lược hàng đầu của mọi quốc gia. Tinh thần đoàn kết dân tộc được đề cao.
II.Hiểu Rõ Khái Niệm Nhân Văn Giá Trị Cốt Lõi Con Người
Khái niệm nhân văn đóng vai trò nền tảng. Đó là lòng yêu thương sâu sắc, sự trân trọng phẩm giá con người. Nó hướng tới giải thoát con người khỏi mọi đau khổ, mang lại hạnh phúc. Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam thấm sâu vào mọi khía cạnh đời sống. Luận án làm rõ sự khác biệt giữa tri thức và giá trị. Tri thức giúp hiểu biết khách quan. Giá trị lại là sự hướng nội, hoàn thiện nhân cách. Nó tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống trong sự hòa hợp. Đây là yếu tố cốt lõi trong triết lý nhân sinh Việt Nam. Bảo tồn giá trị đạo đức truyền thống là điều thiết yếu để định hình đạo làm người Việt.
2.1. Định nghĩa nhân văn Tình yêu thương và phẩm giá con người
Nhân văn là một giá trị phổ biến của nhân loại. Đó là lòng yêu thương, trân trọng con người. Khát vọng giải thoát con người khỏi mọi khổ đau. Bảo vệ phẩm giá và mang lại hạnh phúc cho họ. Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam thấm sâu vào đời sống. Nhân văn là nền tảng cho đạo làm người Việt. Nó định hình cách sống, cách ứng xử.
2.2. Vai trò tri thức và giá trị Hoàn thiện nhân cách ý nghĩa cuộc sống
Con người có hai chỗ dựa tinh thần: tri thức và giá trị. Tri thức giúp hiểu biết tường tận thế giới. Giá trị thể hiện lý tưởng quý giá của con người. Nhận thức hướng ngoại, phản ánh chân xác khách thể. Giá trị hướng nội, vươn tới hoàn thiện nhân cách. Tìm ý nghĩa cuộc sống trong hòa hợp với khởi nguyên trong sáng. Triết lý nhân sinh Việt Nam nhấn mạnh sự cân bằng này. Giữ gìn giá trị đạo đức truyền thống là điều thiết yếu.
III.Phát Huy Chủ Nghĩa Nhân Văn Việt Nam Từ Truyền Thống
Việt Nam đang trong giai đoạn đổi mới đầy thách thức. Việc phát huy năng lực nội sinh là trọng tâm. Năng lực này không chỉ là vật chất, mà còn là sức mạnh tinh thần. Tư tưởng nhân văn truyền thống Việt Nam qua mấy nghìn năm lịch sử chính là nguồn nội lực to lớn. Luận án phân tích cách kế thừa và phát triển tinh hoa này. Đây là chìa khóa để đạt được các mục tiêu phát triển. Đảng Cộng sản Việt Nam rất coi trọng điều này. Việc đi đến hiện đại từ truyền thống là con đường tất yếu. Các giá trị đạo đức truyền thống và văn hóa ứng xử Việt là nền tảng vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nền tảng này giúp bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ hội nhập.
3.1. Năng lực nội sinh Tư tưởng nhân văn truyền thống Việt Nam
Sự nghiệp đổi mới đất nước gặp nhiều thử thách. Đất nước cần dựa vào nội lực của mình. Nghị quyết Trung ương 4 và 5 khẳng định. Năng lực nội sinh gồm lực lượng vật chất và tinh thần. Tiềm năng con người Việt Nam rất lớn. Đời sống tinh thần hiện tại và truyền thống là năng lực nội sinh. Tư tưởng nhân văn truyền thống Việt Nam là kho báu. Nó góp phần to lớn vào quá trình đổi mới. Đây là bản sắc văn hóa dân tộc.
3.2. Kế thừa tinh hoa Phát triển từ giá trị đạo đức truyền thống
Phát huy mạnh mẽ năng lực nội sinh là cấp bách. Các giá trị truyền thống cần được khai thác. Tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại là cần thiết. Đây là nhiệm vụ quan trọng, đảm bảo thắng lợi. Đến hiện đại từ truyền thống là tất yếu. Chiến lược này không hề đơn giản. Đảng rất coi trọng kế thừa, phát huy giá trị. Đặc biệt là giá trị nhân văn truyền thống. Điều này phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Giá trị đạo đức truyền thống là kim chỉ nam. Văn hóa ứng xử Việt cần được giữ gìn.
IV.Đối Mặt Thách Thức Bảo Vệ Giá Trị Đạo Đức Truyền Thống
Quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế mang lại cả cơ hội và hiểm họa. Nó tạo ra cuộc đấu tranh quyết liệt để bảo tồn. Nhu cầu vật chất tăng, nhưng nhu cầu nâng cao đời sống tinh thần cũng rất lớn. Sự nghèo nàn tinh thần có thể dẫn đến thảm họa cho dân tộc. Luận án đặt ra vấn đề suy giảm nhân văn trong xã hội hiện đại. Dù kinh tế phát triển, nhưng dường như các giá trị nhân văn lại có xu hướng kém đi. Đây là một vấn đề cấp bách trong công tác giáo dục. Nó đòi hỏi phải củng cố các giá trị đạo đức truyền thống và đạo làm người Việt. Việc này nhằm giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa.
4.1. Giao lưu hội nhập Cơ hội và hiểm họa cho bản sắc văn hóa
Quá trình giao lưu, hội nhập không đơn giản. Đó là cuộc đấu tranh quyết liệt. Cơ hội và thách thức cùng tồn tại. Dân tộc cần tồn tại, phát triển. Cùng với nhu cầu vật chất, tinh thần cũng tăng. Sự nghèo nàn vật chất rất khổ sở. Sự nghèo nàn tinh thần là thảm họa cho dân tộc. Bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc là tối quan trọng. Tinh thần đoàn kết dân tộc phải được duy trì.
4.2. Suy giảm nhân văn Vấn đề cấp bách trong giáo dục hiện nay
Một vấn đề đáng lo ngại đang nổi lên. Người ta giàu lên nhưng nhân văn lại kém đi. Hiện tượng này so với người xưa có sự khác biệt. Câu hỏi đặt ra: lỗi do công tác giáo dục nhân văn yếu kém? Đây là một câu hỏi khó trả lời. Nó đòi hỏi sự nhìn nhận nghiêm túc. Cần phải tăng cường giáo dục các giá trị đạo đức truyền thống. Đạo làm người Việt phải được củng cố.
V.Tư Tưởng Nhân Văn Nền Tảng Phát Triển Bền Vững Đất Nước
Tư tưởng nhân văn là nền tảng cốt yếu cho sự phát triển bền vững. Đất nước đối mặt với nhiều thử thách trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Phát triển hài hòa quan hệ con người là cần thiết. Hài hòa giữa đời sống vật chất và tinh thần là mục tiêu. Điều này đòi hỏi phải dựa vào nội lực. Đặt con người vào trung tâm của mọi chiến lược đổi mới. Lòng yêu nước Việt Nam và tinh thần đoàn kết dân tộc là sức mạnh. Đảng ta khẳng định văn hóa là "sự sáng suốt bên trong của kinh tế". Việc phát huy giá trị nhân văn truyền thống là con đường. Nó hướng tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước một cách bền vững. Giúp củng cố đạo làm người Việt và chủ nghĩa nhân văn Việt Nam.
5.1. Mục tiêu chiến lược Đặt con người vào trung tâm đổi mới
Đất nước đang đứng trước những thử thách lớn. Đổi mới diễn ra trên mọi mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Để có sự phát triển hài hòa. Hài hòa trong quan hệ con người. Hài hòa giữa đời sống vật chất và tinh thần. Trước hết phải dựa vào nội lực mạnh mẽ. Đặt con người vào trung tâm chiến lược. Lòng yêu nước Việt Nam là động lực to lớn. Tinh thần đoàn kết dân tộc là sức mạnh.
5.2. Hài hòa vật chất tinh thần Đạo làm người Việt và tương lai
Đảng khẳng định "văn hóa là sự sáng suốt bên trong của kinh tế." Điều này nhấn mạnh vai trò của văn hóa. Các giá trị truyền thống cần được phát huy. Giá trị nhân văn nói riêng rất quan trọng. Mục tiêu là công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cần tránh sự mất cân bằng. Sự giàu có vật chất không đi kèm tinh thần là nguy hiểm. Đạo làm người Việt cần được giữ vững. Phát triển chủ nghĩa nhân văn Việt Nam là con đường bền vững.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (188 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộTính cấp thiết của đề tài Các nhà nghiên cứu khẳng định: trong cuộc sống và hoạt động của mình, con người có hai chỗ dựa về tinh thần: đó là tri thức và giá trị. Hai yếu tố này có liên quan chặt chẽ với nhau, song thực chất có sự khác nhau. Tri thức hướng tới sự hiểu biết tường tận về sự vật, hiện tượng trong hiện thực, còn giá trị là sự biểu hiện lý tưởng tất cả những gì quý giá đối với con người. Hay nói cách khác: "Nhận thức hướng ngoại cố gắng làm cho nội dung tri thức phản ánh chân xác khách thể, còn giá trị lại hướng nội, nhằm vươn tới sự hoàn thiện nhân cách và tìm ý nghĩa cuộc sống trong sự hòa hợp với những khởi nguyên trong sáng muôn đời" [29, tr.
Chúng ta đang sống trong một thời đại mà sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ diễn ra với tốc độ chóng mặt. Nó đem lại cho con người những thay đổi lớn lao kỳ diệu, song cũng gây cho con người những tai họa khủng khiếp, phản nhân văn. Đó là môi trường sống tự nhiên bị hủy hoại, chiến tranh ngày càng sử dụng những phương tiện giết người tinh vi, tàn bạo. Đó là sự phân cực chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại: khoảng 5% dân số thế giới chiếm đến 80% của cải vật chất, đang sống thiên đường hơn mọi thiên đường, như trong trí tưởng tượng của người xưa; một phần dân số không nhỏ thì sống - đúng hơn là chết dần, chết mòn thê thảm trong nghèo đói, bệnh tật - hơn cả địa ngục mà sách vở miêu tả.
Nói cách khác, thế kỷ XX đưa lại nghịch lý: "Tự nó đã vừa là nhân chứng của những phát minh khoa học và phát triển kỹ thuật công nghệ tuyệt vời, đỉnh cao mà xã hội loài người chưa từng đạt được - nhưng lại vừa là sân khấu của những tấn thảm kịch, cũng chưa từng có trước đó" [21, tr. Bài học sống còn mà thế kỷ XX đã dạy cho chúng ta là: chỉ có một thế giới 6 an bình, khi những ai sống trên hành tinh này đều có ý thức, và có quyền như thành viên thực sự của một tập thể, cùng chia sẻ, cùng bảo vệ trái đất như ngôi nhà chung của tất cả. Khép lại một thế kỷ XX với những biến động chưa từng có trong lịch sử của sự sáng tạo và hủy diệt. Dù muốn hay không, chúng ta cũng đang bước vào thế kỷ XXI.
Một trào lưu tư tưởng của thế giới hiện đại về vai trò con người đã được nêu lên, đặc biệt của UNESCO cách đây hai thập kỷ: "Con người đứng ở trung tâm của sự phát triển". Tư tưởng này ngày càng được hoan nghênh và phát triển ở nhiều nước trên thế giới. Nhân loại đang hướng tới thế kỷ XXI như là một sự phát triển văn hóa, một khát vọng hòa bình hạnh phúc. Không phải ngẫu nhiên mà trong mỗi cộng đồng quốc gia, dân tộc.
hay trên phạm vi toàn thế giới, việc giáo dục những giá trị Người như nhân văn, nhân đạo, khoan dung, nhân ái., cũng như nhân tố con người, được coi là chiến lược của mọi chiến lược. Trong bối cảnh đó, sự nghiệp đổi mới của đất nước đang đứng trước những thử thách trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Quá trình giao lưu, hội nhập này không phải đơn giản một chiều, mà đó là cuộc đấu tranh quyết liệt giữa thời cơ và thách thức của chúng ta để tồn tại, phát triển. Cùng với nhu cầu vật chất, nhu cầu nâng cao đời sống tinh thần của con người ngày càng tăng.
Lịch sử phát triển đã cho thấy sự nghèo nàn về vật chất là rất khổ, nhưng sự nghèo nàn về đời sống tinh thần của một dân tộc là thảm họa. Để có sự phát triển hài hòa trong quan hệ con người, hài hòa trong đời sống vật chất và tinh thần, trước hết chúng ta phải dựa vào nội lực của mình. Nghị quyết Trung ương 4 và Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đã khẳng định năng lực nội sinh không chỉ là những lực lượng vật chất mà còn là những lực lượng tinh thần. Tiềm năng con người Việt Nam trong đời sống tinh thần hiện tại và trong truyền thống của ông cha ta qua mấy nghìn năm lịch sử là một năng lực nội sinh to lớn trong quá 7 trình đổi mới đất nước.
Hơn lúc nào hết, việc phát huy mạnh mẽ năng lực nội sinh của dân tộc từ các giá trị truyền thống, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, đang là nhiệm vụ vừa quan trọng vừa cấp bách, góp phần đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đất nước. Đến hiện đại từ truyền thống là tất yếu trong chiến lược của mỗi quốc gia dân tộc, song để thực hiện thì cả về lý luận và thực tiễn không đơn giản, nhất là vấn đề khai thác, phát huy các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển. Với tầm nhìn "văn hóa là sự sáng suốt bên trong của kinh tế", Đảng ta rất coi trọng việc kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống nói chung, giá trị nhân văn truyền thống nói riêng trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong một cuộc phỏng vấn Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin Nguyễn Khoa Điềm (Thời báo Kinh tế Việt Nam - Xuân Mậu Dần, ngày 28- 1-1998, trang 5), phóng viên đã đưa ra câu hỏi: "Bây giờ người ta giàu lên rất nhiều, nhưng hình như nhân văn thì lại kém đi so với các cụ ngày xưa? Lỗi này có phải do công tác giáo dục nhân văn của ta còn yếu kém?.
Trả lời câu hỏi đó, không phải dễ dàng. Là một giá trị phổ biến của nhân loại, nhân văn đó là lòng yêu thương trân trọng con người, khát vọng giải thoát con người khỏi mọi khổ đau, bảo vệ phẩm giá và mang hạnh phúc cho con người. Nhưng trong lịch sử dân tộc cũng như nhân loại, khi cơ sở kinh tế - xã hội còn dựa trên sự chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, thì sự phát triển không phải bao giờ cũng vì mục đích nhân văn cao cả. Tăng trưởng kinh tế phải là cơ sở của việc xây dựng các giá trị nhân văn - điều đó đồng nghĩa với quan điểm: coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta đã nêu ra.
Hiểu sâu sắc về nhân tố con người, và vai trò của những giá trị nhân văn truyền thống dân tộc đối với việc xây dựng con người mới Việt Nam hôm nay, nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước - Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư của Ban chấp 8 hành Trung ương Đảng khóa VII đã khẳng định: "Chúng ta cần hiểu sâu sắc những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, chủ thể mọi sáng tạo của cải vật chất và văn hóa, mọi nền văn minh quốc gia. Phải xuất phát từ tinh thần nhân văn sâu sắc, nhằm phát triển con người toàn diện, xây dựng một xã hội công bằng nhân ái, thiết lập quan hệ thật sự tốt đẹp và tiến bộ giữa con người và con người trong sản xuất và đời sống, để từ đó làm tăng gấp bội hiệu quả kinh tế xã hội". Chỉ có con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, sống vì một lý tưởng nhân văn cao cả - thì con người mới là động lực để xây dựng xã hội mới, và đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Tiếp tục tinh thần đó, trong Dự thảo văn kiện trình Đại hội IX về tính chất hệ thống chính sách xã hội của Đảng ta trong những thập kỷ tới đã khẳng định: những giá trị nhân văn Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong nền văn hóa loài người, được biểu hiện tinh thần: yêu thương con người, tôn trọng con người, bảo vệ con người, coi trọng người tài, người có công, giúp đỡ người yếu thế, gặp rủi ro.
Đó là những định hướng rất quan trọng trong việc xây dựng con người mới cũng như bảo vệ giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc hiện nay. Hơn bao giờ hết nhằm đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới đất nước, khai thác và phát huy các giá trị truyền thống nói chung, các giá trị nhân văn truyền thống nói riêng phải được coi trọng. Tư tưởng nhân văn truyền thống Việt Nam là sự biểu hiện tập trung sâu sắc giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại, là cái cốt lõi bên trong để tạo nên sức mạnh tiềm tàng bền vững, chi phối, tạo nên bản lĩnh dân tộc, như nhà thơ Huy Cận đã viết: "Sống sừng sững bốn ngàn năm vững chãi Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa Trong và thật sáng - hai bờ suy tưởng 9 Sống hiên ngang mà nhân ái chan hòa" Bao thăng trầm của lịch sử dân tộc đã đi qua, để tư tưởng nhân văn truyền thống Việt Nam được kết tinh và tỏa sáng ở chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Với lý tưởng giải phóng con người, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, tư tưởng nhân văn Việt Nam được nâng lên ngang tầm thời đại.
Sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng XHCN chính là con đường để thực hiện lý tưởng nhân văn cao cả đó. Đồng chí Phạm Văn Đồng khẳng định: "Với tầm nhìn bao quát, phải thấy văn hóa là đổi mới, đổi mới là văn hóa, như vậy hai là một, và một thành hai" [31, tr. Tất yếu - sự nghiệp đổi mới đất nước phải bắt nguồn từ mảnh đất văn hóa - văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa thời đại. Chính vì vậy mà việc làm sáng tỏ những giá trị nhân văn truyền thống dân tộc là nhiệm vụ hết sức cấp bách về trước mắt cũng như lâu dài, để: thứ nhất: thấy được quá trình hình thành, phát triển tư tưởng nhân văn Việt Nam truyền thống (X - XIV), với những ưu điểm và hạn chế của tư tưởng đó; thứ hai: nhằm kế thừa, phát huy các giá trị nhân văn truyền thống trong sự nghiệp xây dựng phát triển đất nước hôm nay.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Luận án tiến sĩ tư tưởng nhân văn truyền thống việt nam thế (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/tai-lieu-khac/thua
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Luận án tiến sĩ tư tưởng nhân văn truyền thống việt nam thế" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án tiến sĩ nghiên cứu, phân tích giá trị cốt lõi của tư tưởng nhân văn truyền thống Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp phát huy trong bối cảnh hiện đại.
Luận án "Luận án tiến sĩ tư tưởng nhân văn truyền thống việt nam thế" có bao nhiêu trang?
Luận án "Luận án tiến sĩ tư tưởng nhân văn truyền thống việt nam thế" có 188 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Luận án tiến sĩ tư tưởng nhân văn truyền thống việt nam thế" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.