Luận án: Sinh kế bền vững cư dân vùng đệm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, Quảng Bình

Sinh kế bền vững của cư dân vùng đệm vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng Quảng Bình được nghiên cứu nhằm tìm hiểu các mô hình kinh tế hỗ trợ cộng đồng.

Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án tiến sĩ

Năm xuất bản

Số trang

60

Thời gian đọc

9 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

40 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Vùng đệm VQG Phong Nha: Định nghĩa và vai trò.
Số trang:
60 trang
Trường:
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế
Chuyên ngành:
Kinh tế nông nghiệp
Năm:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Vùng đệm VQG Phong Nha Định nghĩa và vai trò

Vùng đệm là khu vực quan trọng tiếp giáp các khu bảo tồn, đặc biệt là Vườn Quốc gia. Luật Lâm nghiệp và Luật Đa dạng sinh học đã định nghĩa vùng đệm là khu vực rừng, đất, hoặc mặt nước. Nơi đây có tác dụng ngăn chặn, giảm thiểu các tác động tiêu cực từ bên ngoài ảnh hưởng đến khu bảo tồn. Quyết định 186/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cũng xác định vùng đệm bao gồm toàn bộ hoặc một phần các xã, phường, thị trấn liền kề với Vườn Quốc gia. Vùng đệm Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng (PNKB) đóng vai trò then chốt trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học và duy trì giá trị của Di sản thiên nhiên thế giới UNESCO. Việc phát triển sinh kế bền vững tại vùng đệm là yếu tố tất yếu, giúp bảo vệ các giá trị cốt lõi của VQG trước những thách thức và áp lực từ hoạt động kinh tế của cộng đồng địa phương.

1.1. Khái niệm vùng đệm theo luật định.

Vùng đệm được định nghĩa rõ ràng trong pháp luật Việt Nam. Luật Lâm nghiệp (Điều 2, Khoản 25) xác định vùng đệm là vùng rừng, đất, hoặc mặt nước nằm sát ranh giới khu rừng đặc dụng. Mục tiêu chính là ngăn chặn, giảm nhẹ các tác động tiêu cực. Luật Đa dạng sinh học (Điều 3, Khoản 30) cũng quy định tương tự, nhấn mạnh chức năng bảo vệ khu bảo tồn. Đến năm 2006, Quyết định 186/2006/QĐ-TTg mở rộng khái niệm, bao gồm các đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn tiếp giáp Vườn Quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên. Các định nghĩa này tạo khung pháp lý cho quản lý và phát triển vùng đệm.

1.2. VQG Phong Nha Kẻ Bàng vùng đệm.

Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được thành lập năm 2001. Vườn nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Quảng Bình, cách Đồng Hới hơn 50km về phía Tây Nam, thuộc ba huyện Bố Trạch, Minh Hóa và Quảng Ninh. VQG PNKB có diện tích vùng lõi và vùng đệm rộng lớn (343 km2). UNESCO đã công nhận VQG là Di sản thiên nhiên thế giới vào năm 2003 (tiêu chí địa chất, địa mạo) và lần thứ hai vào năm 2015 (tiêu chí đa dạng sinh học). Khu vực này cũng gắn liền với sự hiện diện của nhiều tộc người như Rục, Arem, Khùa, Ma Coong. Vùng đệm PNKB hiện có trên 60% dân số tham gia các hoạt động sinh kế phụ thuộc tài nguyên thiên nhiên.

1.3. Vai trò của vùng đệm trong bảo tồn.

Vùng đệm có vai trò tối quan trọng trong việc bảo vệ Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Nó hoạt động như một lá chắn, giảm thiểu các áp lực và tác động tiêu cực từ hoạt động con người đến vùng lõi. VQG PNKB, với tư cách là Di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận, yêu cầu một hệ thống bảo vệ nghiêm ngặt. Vùng đệm gánh vác trách nhiệm bảo vệ các giá trị bảo tồn, ngăn chặn sự suy giảm nguồn lực tự nhiên. Vì vậy, phát triển sinh kế bền vững vùng đệm là yêu cầu cấp thiết, đảm bảo hài hòa giữa phát triển kinh tế địa phương và bảo tồn đa dạng sinh học Phong Nha - Kẻ Bàng.

II. Thực trạng sinh kế cộng đồng vùng đệm PNKB

Cư dân vùng đệm Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đối mặt với nhiều khó khăn trong sinh kế. Phần lớn dân số phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên, dẫn đến rủi ro cao về kinh tế và môi trường. Tỷ lệ người dân tộc thiểu số và hộ nghèo/cận nghèo vẫn còn đáng kể, phản ánh nguồn lực sinh kế hạn chế. Các hoạt động sinh kế hiện tại thường thiếu bền vững, gây áp lực lên đa dạng sinh học và nguồn tài nguyên rừng. Mặc dù có nhiều chương trình hỗ trợ, nhưng tổng thể, nguồn lực sinh kế vẫn còn nghèo nàn và việc quản lý, sử dụng nguồn lực còn bất cập, chưa đạt hiệu quả mong muốn.

2.1. Phụ thuộc tài nguyên và rủi ro sinh kế.

Trên 60% dân số vùng đệm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng tham gia vào các hoạt động sinh kế phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên. Điều này tạo ra rủi ro lớn cho sinh kế cộng đồng vùng đệm, đặc biệt khi tài nguyên bị suy giảm. Gần 20% cư dân là người dân tộc thiểu số với điều kiện sống vô cùng khó khăn. Hơn 41% số hộ dân thuộc diện nghèo và cận nghèo. Thực trạng này cho thấy nguồn lực sinh kế của người dân còn yếu kém, thiếu khả năng tự chủ. Sự phụ thuộc quá lớn vào khai thác tài nguyên làm tăng nguy cơ tổn thương sinh kế.

2.2. Nguồn lực sinh kế còn hạn chế.

Tổng thể, nguồn lực sinh kế của cư dân vùng đệm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng còn rất nghèo. Quá trình tổ chức, quản lý và sử dụng nguồn lực còn nhiều bất cập. Nhiều tiêu chí đánh giá sinh kế, như an ninh lương thực và thu nhập của người dân tộc thiểu số, được xếp hạng thấp. Tình hình này kém hơn so với các vùng đệm của Vườn Quốc gia Xuân Sơn, Vườn Quốc gia Tam Đảo, và một số Vườn Quốc gia khác tại Việt Nam. Sự hạn chế về nguồn lực là rào cản lớn cho việc phát triển nông thôn bền vững và cải thiện đời sống.

2.3. Thiếu bền vững và tác động môi trường.

Nhiều hoạt động sinh kế hiện tại trong vùng đệm được đánh giá là thiếu bền vững. Sự phụ thuộc quá mức vào khai thác nguồn lực tự nhiên đã và đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính bảo tồn và duy trì đa dạng sinh học của Vườn Quốc gia. Các hành vi này làm suy giảm nguồn lực tự nhiên, đồng thời thiếu tự chủ về các nguồn lực sinh kế. Điều này tạo ra một vòng luẩn quẩn: nghèo đói dẫn đến khai thác quá mức, làm suy thoái môi trường, và tiếp tục làm giảm cơ hội sinh kế bền vững cho tương lai.

III. Thách thức bảo tồn đa dạng sinh học Phong Nha Kẻ Bàng

Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đang đối mặt với những thách thức nghiêm trọng về bảo tồn đa dạng sinh học. Các hoạt động sinh kế truyền thống, thiếu bền vững của cộng đồng vùng đệm tạo áp lực lớn lên tài nguyên thiên nhiên. Sự suy giảm nguồn lực và đa dạng sinh học là mối đe dọa trực tiếp đến giá trị của Di sản thế giới này. Để duy trì và phát triển VQG, việc tìm kiếm và áp dụng các mô hình sinh kế thay thế, bền vững cho người dân vùng đệm là vô cùng cấp thiết, giúp giảm gánh nặng lên hệ sinh thái tự nhiên và bảo vệ môi trường.

3.1. Áp lực từ sinh kế truyền thống.

Sinh kế của cư dân vùng đệm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng thường tập trung vào khai thác tài nguyên rừng và nông nghiệp. Những hoạt động truyền thống này, khi thiếu kiểm soát và không bền vững, tạo áp lực lớn lên hệ sinh thái. Việc khai thác quá mức nguồn lực tự nhiên như gỗ, lâm sản ngoài gỗ, và săn bắt đã làm giảm tính đa dạng sinh học. Điều này gây ra sự suy giảm nguồn tài nguyên, đe dọa cân bằng sinh thái của Vườn Quốc gia. Cần có sự chuyển đổi sang các mô hình sinh kế thay thế để giảm áp lực này.

3.2. Đe dọa tài nguyên và hệ sinh thái.

Theo các nhà quy hoạch và hoạch định chính sách, Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đang bị đe dọa nghiêm trọng về tính đa dạng sinh học và tài nguyên thiên nhiên. Các hoạt động kinh tế của con người, đặc biệt là sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, gây ra mất mát môi trường sống, suy giảm quần thể loài và biến đổi cảnh quan. Việc này ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị bảo tồn toàn cầu của Di sản UNESCO. Thách thức này đòi hỏi một chiến lược tổng thể về quản lý tài nguyên rừng cộng đồng và phát triển bền vững.

3.3. Yêu cầu phát triển bền vững cấp thiết.

Để ứng phó với thách thức bảo tồn, việc phát triển bền vững sinh kế vùng đệm là một yêu cầu cấp thiết. PNKB không chỉ là một Vườn Quốc gia mà còn là Di sản thiên nhiên thế giới, có trách nhiệm bảo vệ các giá trị cốt lõi. Phát triển sinh kế bền vững giúp giảm thiểu tác động tiêu cực, bảo vệ đa dạng sinh học Phong Nha - Kẻ Bàng. Điều này đòi hỏi các giải pháp đồng bộ, từ hỗ trợ sinh kế cộng đồng vùng đệm đến quản lý tài nguyên hiệu quả. Nó cũng là con đường để giảm nghèo vùng đệm, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân địa phương.

IV. Nỗ lực phát triển sinh kế giảm nghèo vùng đệm

Trong bối cảnh cần bảo tồn đa dạng sinh học, nhiều nỗ lực đã được triển khai tại vùng đệm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng. Gần 100 chương trình, chính sách và dự án đã được thực hiện nhằm hỗ trợ người dân phát triển sinh kế. Những can thiệp này đã mang lại những thay đổi đáng kể về kinh tế - xã hội, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo và tăng thu nhập. Cơ cấu lao động cũng có sự dịch chuyển tích cực, cùng với sự phát triển của cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế nhất định cần được giải quyết để đạt được mục tiêu phát triển bền vững toàn diện.

4.1. Chính sách và dự án hỗ trợ sinh kế.

Trước nhiều thách thức, gần 100 chương trình, chính sách và dự án đã được triển khai để hỗ trợ người dân vùng đệm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng. Các sáng kiến này nhằm phát triển sinh kế cộng đồng vùng đệm, giảm sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên thiên nhiên. Mục tiêu là chuyển đổi sang các mô hình sinh kế thay thế, thân thiện với môi trường và bền vững hơn. Những nỗ lực này thể hiện cam kết của chính quyền và các tổ chức trong việc cải thiện đời sống dân cư và bảo vệ Di sản.

4.2. Kết quả giảm nghèo và tăng thu nhập.

Các chương trình hỗ trợ đã mang lại những kết quả tích cực. Tỷ lệ hộ nghèo trong vùng đệm đã giảm gần 50% chỉ trong vòng 5 năm. Thu nhập bình quân của người dân tăng khoảng 2% mỗi năm. Đây là những chỉ số quan trọng cho thấy hiệu quả của các chính sách giảm nghèo vùng đệm. Việc cải thiện thu nhập và giảm nghèo góp phần ổn định đời sống, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân tham gia vào các hoạt động phát triển nông thôn bền vững và bảo vệ môi trường.

4.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế cải thiện hạ tầng.

Cùng với việc giảm nghèo, cơ cấu lao động trong vùng đệm cũng có sự dịch chuyển đáng kể. Tỷ lệ lao động từ lĩnh vực nông lâm nghiệp đã chuyển sang lĩnh vực phi nông nghiệp gấp đôi. Sự dịch chuyển này cho thấy tiềm năng phát triển mô hình sinh kế thay thế và đa dạng hóa kinh tế địa phương. Cơ sở hạ tầng trong vùng đệm cũng được đầu tư và phát triển. Những thay đổi này là tiền đề quan trọng để xây dựng một nền kinh tế bền vững hơn, ít phụ thuộc vào tài nguyên rừng và đa dạng hóa nguồn thu nhập cho cộng đồng.

V. Hướng tới sinh kế bền vững và quản lý hiệu quả

Để đảm bảo sinh kế bền vững và bảo tồn hiệu quả Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, cần có một hệ thống đánh giá và quản lý toàn diện. Các nghiên cứu hiện tại đã chỉ ra nguyên nhân gây sinh kế thiếu bền vững, chủ yếu do phụ thuộc quá lớn vào tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế trong việc đo lường và đánh giá mức độ bền vững của sinh kế. Việc phát triển các tiêu chí rõ ràng, thống nhất là cần thiết để đưa ra các chính sách hỗ trợ phù hợp và đảm bảo sự phát triển bền vững cho cộng đồng vùng đệm, đồng thời bảo vệ đa dạng sinh học.

5.1. Nghiên cứu sinh kế bền vững hiện có.

Trên thế giới và tại Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu đã tập trung vào sinh kế bền vững, cả về lý luận và thực tiễn. Hầu hết các nghiên cứu này chỉ ra rằng sinh kế thiếu bền vững thường do sự phụ thuộc quá lớn vào khai thác nguồn lực tự nhiên. Điều này làm giảm tính đa dạng sinh học và suy giảm nguồn lực, thiếu tự chủ về các nguồn lực sinh kế. Một số nghiên cứu đã đánh giá nguồn lực sinh kế, nhận định lợi thế và hạn chế. Các nghiên cứu mới hơn sử dụng thang đo chỉ số để đo lường mức độ an ninh và bền vững của sinh kế.

5.2. Hạn chế trong đánh giá và đo lường.

Mặc dù có nhiều nghiên cứu, nhưng hầu hết các công trình về sinh kế bền vững tại vùng đệm chưa có một hệ thống chỉ tiêu đánh giá rõ ràng. Các thang đo thường thiếu thống nhất. Số lượng và chất lượng các chỉ tiêu nghiên cứu còn phụ thuộc lớn vào ý kiến chủ quan của người nghiên cứu. Điều này dẫn đến nhiều kết quả đánh giá khác nhau về mức độ bền vững của sinh kế. Hạn chế này gây khó khăn cho việc hoạch định chính sách và quản lý tài nguyên rừng cộng đồng một cách hiệu quả và minh bạch.

5.3. Yêu cầu hệ thống đánh giá toàn diện.

Để giải quyết những hạn chế trên, cần phát triển một hệ thống đánh giá sinh kế bền vững toàn diện và khách quan hơn. Hệ thống này cần có các chỉ tiêu rõ ràng, thang đo thống nhất, giảm thiểu tính chủ quan. Một hệ thống đánh giá chuẩn hóa sẽ giúp nhận định chính xác hơn thực trạng sinh kế cộng đồng vùng đệm, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp. Điều này quan trọng cho việc định hướng phát triển nông nghiệp bền vững vùng đệm, thúc đẩy mô hình sinh kế thay thế và đảm bảo quản lý tài nguyên hiệu quả, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học Phong Nha - Kẻ Bàng lâu dài.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Sinh kế bền vững của cư dân vùng đệm vườn quốc gia phong nha kẻ bàng quảng bình tóm tắt luận án tiến sĩ kinh tế

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (60 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TRẦN THỊ THU THỦY SINH KẾ BỀN VỮNG CỦA CƯ DÂN VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA - KẺ BÀNG, QUẢNG BÌNH Ngành: Kinh tế nông nghiệp Mã số: 9620115 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP NĂM 2021 i Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế Người hướng dẫn khoa học: 1. NGUYỄN ĐĂNG HÀO 2. NGUYỄN XUÂN KH OÁT Phản biện 1: ………………………………………. Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Đại học Huế họp tại ………… vào hồi……… giờ ….

Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Trường Đại học Kinh tế, Thư viện Quốc gia Việt Nam ii PHẦN 1. Tính cấp thiết của đề tài Vùng đệm được hình thành dựa theo Luật Lâm nghiệp tại Điều 2, khoản 25 giải thích: “Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất, vùng mặt nước nằm sát ranh giới của khu rừng đặc dụng có tác dụng ngăn chặn, giảm nhẹ sự tác động tiêu cực đến khu rừng đặc dụng [23]. Theo Luật Đa dạng sinh học quy định tại Điều 3, Khoản 30 thì “Vùng đệm là vùng bao quanh, tiếp giáp khu bảo tồn, có tác dụng ngăn chặn, giảm nhẹ tác động tiêu cực từ bên ngoài đối với khu bảo tồn” [22]; Đến năm 2006, ranh giới vùng đệm được quy định trong Quyết định 186/2006/QĐ-TTg tại Điều 24, Khoản 2 “Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm liền kề với Vườn Quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên; bao gồm toàn bộ hoặc một phần các xã, phường, thị trấn nằm sát ranh giới với Vườn Quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên” [8]. Vườn Quốc gia (VQG) Phong Nha - Kẻ Bàng thành lập năm 2001 theo Quyết định 189/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Quảng Bình, cách thành phố Đồng Hới trên 50 km về phía Tây Nam, thuộc địa phận ba huyện Bố Trạch, Minh Hoá và Quảng Ninh, với diện tích vùng lõi và một vùng đệm rộng 343.

VQG Phong Nha - Kẻ được UNESCO công nhận năm 2003 là Di sản thiên nhiên thế giới với nhiều tiêu chí nổi trội về địa chất, địa mạo và lần thứ 2 năm 2015 về tiêu chí đa dạng sinh học và gắn với sự ra đời của nhiều tộc người (Rục, Arem, Khùa, Ma coong…) [27]. Vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng Quảng Bình có trên 60% dân số tham gia vào các hoạt động sinh kế phụ thuộc tài nguyên thiên nhiên, với gần 20% là người dân tộc thiểu số có điều kiện sống vô cùng khó khăn và trên 41% là người nghèo và cận nghèo. Thực trạng trên cho thấy, nguồn lực sinh kế của người dân còn nghèo, nhiều hoạt động sinh kế phụ thuộc tài nguyên và thiếu bền vững đã ảnh hưởng rất lớn đến tính bảo tồn và duy trì đa dạng sinh học của Vườn quốc gia. Trước bối cảnh phải bảo tồn tính đa dạng sinh học và đảm nhiệm thiên chức là Di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận.

Trách nhiệm của vùng đệm là phải bảo vệ những tác động tiêu cực đến giá trị bảo tồn và làm suy giảm nguồn lực tự nhiên thì tất yếu phải phát triển bền vững sinh kế 1 vùng đệm. Trước nhiều thách thức đối với xu hướng phát triển theo hướng bền vững đã có gần 100 các chương trình, chính sách, dự án hỗ trợ người dân phát triển sinh kế làm thay đổi tình hình kinh tế - xã hội vùng đệm đáng kể, giảm tỷ lệ hộ nghèo gần 50% trong vòng 5 năm, tăng thu nhập bình quân 2%/năm, dịch chuyển cơ cấu lao động nông lâm nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp gấp đôi, cơ sở hạ tầng phát triển…Tuy nhiên, nhìn tổng thể nguồn lực sinh kế của cư dân vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng còn rất nghèo; quá trình tố chức, quản lý và sử dụng nguồn lực còn nhiều bất cập; nhiều tiêu chí được đánh giá thấp hơn Vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Sơn, Vườn quốc gia Tam Đảo hay một số vùng đệm Vườn quốc gia khác trong nước như an ninh lương thực, thu nhập của người dân tộc thiểu số. Trên thế giới và ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu sinh kế bền vững cả về lý luận và thực tiễn. Hầu hết các nghiên cứu chỉ ra rằng, sinh kế thiếu bền vững là do sự phụ thuộc quá lớn vào khai thác nguồn lực tự nhiên đã làm giảm đi tính đa dạng sinh học và suy giảm nguồn lực, thiếu tự chủ về các nguồn lực sinh kế [39], [60], [73].

Một số nghiên cứu sinh kế bền vững tại vùng đệm thực hiện đánh giá nguồn lực sinh kế, từ đó nhận định những lợi thế, hạn chế của nguồn lực đối với việc thực hiện các hoạt động sinh kế theo hướng bền vững [58], [66], [13], [16], [21]. Các nghiên cứu mới hơn đã sử dụng thang đo chỉ số nhằm đo lường mức độ an ninh sinh kế, bền vững của sinh kế [31], [46], [30], [69], [65], [50]. Nghiên cứu trong nước và ở địa phương có những cách thức đánh giá sinh kế bền vững khác nhau, nhưng hầu hết các nghiên cứu cũng tập trung phân tích thực trạng các nguồn lực sinh kế; đánh giá kết quả thực hiện sinh kế; từ đó nhận định kết quả và mục tiêu thực hiện sinh kế. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu sinh kế bền vững tại vùng đệm chưa có một hệ thống chỉ tiêu đánh giá rõ ràng, các thang đo thiếu thống nhất, số lượng và chất lượng các chỉ tiêu nghiên cứu phụ thuộc lớn vào ý kiến chủ quan của người nghiên cứu, do vậy có nhiều kết quả đánh giá khác nhau về sinh kế bền vững.

Mặt khác, theo các nhà quy hoạch và hoạch định chính sách, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (PNKB) đang bị đe dọa về tính đa dạng sinh học và tài nguyên bảo tồn bởi 13 nguy cơ [27], trong đó phần lớn các nguy cơ đều liên quan đến các hoạt động sinh kế của người dân vùng đệm và đây cũng là những nguyên nhân dẫn đến phát triển thiếu bền vững ở vùng đệm. Vấn đề cốt 2 lõi mà cơ quan, chính quyền địa phương cần quan tâm là phát triển kinh tế - xã hội vùng đệm mà vẫn bảo tồn các nguồn lực, trong đó bảo tồn và duy trì nguồn lực tự nhiên là vấn đề quan trọng trong bối cảnh hiện tại. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi và ứng dụng tại các vùng đệm Vườn quốc gia nói chung và vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng nói riêng chưa được như mong muốn, kết quả thực hiện sinh kế của cư dân vẫn còn nhiều hạn chế và chưa bền vững. Cho đến nay, vẫn chưa có một nghiên cứu nào toàn diện về vấn đề sinh kế bền vững của cư dân vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng Quảng Bình.

Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu:“Sinh kế bền vững của cư dân vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Quảng Bình” làm luận án tiến sỹ kinh tế, chuyên ngành kinh tế nông nghiệp. Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu chung Đánh giá đúng thực trạng các hoạt động sinh kế điển hình; đo lường mức độ bền vững sinh kế của người dân vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng; trên cơ sở đó, luận án đề xuất các giải pháp và hàm ý chính sách nhằm tăng cường sinh kế bền vững cho người dân vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Quảng Bình, từ đó giảm phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên. Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về sinh kế bền vững của cư dân vùng đệm Vườn quốc gia.

- Đánh giá đúng thực trạng nguồn lực và kết quả hoạt các động sinh kế điển hình của cư dân vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Quảng Bình. - Đo lường mức độ bền vững về sinh kế của cư dân vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Quảng Bình. - Đề xuất giải pháp và hàm ý chính sách nhằm tăng cường sinh kế bền vững của cư dân vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Quảng Bình thời gian tới. Câu hỏi nghiên cứu Để thực hiện mục tiêu chung của đề tài, các câu hỏi nghiên cứu là: - Thực trạng về nguồn lực và kết quả các hoạt động sinh kế cho thấy 3 những lợi thế và thách thức nào?.

- Mức độ bền vững sinh kế của cư dân vùng đệm Vườn quốc gia PNKB thế nào? Những hạn chế và nguyên nhân còn tồn tại?. - Kết quả đạt được của các chiến lược sinh kế như thế nào? Đa dạng hóa sinh kế tác động thế nào đến khả năng bền vững của sinh kế?. - Những giải pháp và chính sách nào để phát triển sinh kế bền vững của cư dân vùng đệm Vườn quốc gia PNKB, Quảng Bình trong thời gian tới?. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.

Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là sinh kế của cư dân vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Quảng Bình; Đối tượng tiếp cận nghiên cứu là các hộ gia đình. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi không gian: Luận án tập trung nghiên cứu sinh kế bền vững của cư dân vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Quảng Bình. Phạm vi thời gian: Thông tin dữ liệu đánh giá tình hình cơ bản của vùng đệm Vườn quốc gia PNKB giai đoạn 2013-2018; thông tin khảo sát thực trạng được thực hiện năm 2018; các giải pháp được đề xuất trong thời gian tới. Phạm vi nội dung: Luận án nghiên cứu các vấn đề về lý luận và thực tiễn về sinh kế bền vững của cư dân vùng đệm, tập trung nghiên cứu các hoạt động sinh kế điển hình mà cư dân đang thực hiện để sinh sống, trong đó phân tích thực trạng các nguồn lực sinh kế và kết quả đạt được; đo lường mức độ bền vững sinh kế của cư dân vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Quảng Bình trên khía cạnh ba nhóm hộ (nghèo, cận nghèo và khá) và các chiến lược sinh kế điển hình (nông nghiệp, lâm nghiệp và khai thác LSNG, thủy sản và hoạt động phi nông nghiệp).

Đóng góp của luận án - Luận án làm sáng rõ lý luận về sinh kế bền vững của cư dân vùng đệm Vườn quốc gia, làm cơ sở lý luận để xây dựng mô hình lý thuyết phát triển sinh kế bền vững của cư dân vùng đệm vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Quảng Bình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Trần Thị Thu Thủy (2021). Sinh kế bền vững vùng đệm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế]. LuanAn.net. https://luanan.net/tai-lieu-khac/sinh-ke-ben-vung-dem-vqg-phong-nha-ke-bang-quang-binh

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Sinh kế bền vững vùng đệm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng" nghiên cứu về vấn đề gì?

Sinh kế bền vững của cư dân vùng đệm vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng Quảng Bình được nghiên cứu nhằm tìm hiểu các mô hình kinh tế hỗ trợ cộng đồng.

Luận án "Sinh kế bền vững vùng đệm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng" được bảo vệ tại trường nào?

Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế. Năm bảo vệ: 2021.

Luận án "Sinh kế bền vững vùng đệm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Sinh kế bền vững vùng đệm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng" thuộc chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp. Danh mục: Tài liệu khác.

Luận án "Sinh kế bền vững vùng đệm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng" có bao nhiêu trang?

Luận án "Sinh kế bền vững vùng đệm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng" có 60 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Sinh kế bền vững vùng đệm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter