Luận án tiến sĩ: Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta hiện nay
Luận án TS: Phân tích mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế & chính trị Việt Nam hiện nay. Khám phá tác động và đề xuất giải pháp.
Triết học / Chính trị học
Luan An
Đề tài nghiên cứu
Số trang
173
Thời gian đọc
26 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Đổi mới kinh tế, chính trị: Cấp thiết và tầm quan trọng
- Số trang:
- 173 trang
- Chuyên ngành:
- Triết học / Chính trị học
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Đổi mới kinh tế chính trị Cấp thiết và tầm quan trọng
Đại thắng Mùa xuân 1975 mở ra trang sử mới. Đất nước hòa bình, độc lập, thống nhất. Toàn quốc quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Công cuộc xây dựng đạt nhiều thành tựu. Tuy nhiên, kết quả chưa đáp ứng yêu cầu dân tộc, thời đại. Cần nâng cao chất lượng và hiệu quả xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra đường lối đổi mới toàn diện. Đổi mới từ tư duy, tổ chức bộ máy, phương pháp lãnh đạo đến phong cách hoạt động. Bao gồm cả đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Trong tổng thể sự nghiệp đổi mới, đổi mới kinh tế là trọng tâm. Chuyển từ kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp. Hướng tới kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, từng bước cải cách chính trị. Hướng tới hình thành, hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nội hàm cơ bản là toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân. Thành tựu của quá trình đổi mới toàn diện đất nước rất lớn. Đặc biệt, giải quyết đúng đắn quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội. Bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tổng kết 10 năm đổi mới, Đại hội VII khẳng định một bài học lớn: "Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị". Đây là kinh nghiệm quý báu cho chính sách phát triển.
1.1. Bối cảnh ra đời đường lối Đổi mới
Đại thắng Mùa xuân 1975 mở ra trang sử mới. Đất nước hòa bình, độc lập, thống nhất. Toàn quốc quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Công cuộc xây dựng đạt nhiều thành tựu. Tuy nhiên, kết quả chưa đáp ứng yêu cầu dân tộc, thời đại. Cần nâng cao chất lượng và hiệu quả xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra đường lối đổi mới toàn diện. Đổi mới từ tư duy, tổ chức bộ máy, phương pháp lãnh đạo đến phong cách hoạt động. Bao gồm cả đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị.
1.2. Trọng tâm đổi mới kinh tế chính trị
Trong tổng thể sự nghiệp đổi mới, đổi mới kinh tế là trọng tâm. Chuyển từ kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp. Hướng tới kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, từng bước cải cách chính trị. Hướng tới hình thành, hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nội hàm cơ bản là toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân.
1.3. Bài học kinh nghiệm từ quá trình Đổi mới
Thành tựu của quá trình đổi mới toàn diện đất nước rất lớn. Đặc biệt, giải quyết đúng đắn quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội. Bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tổng kết 10 năm đổi mới, Đại hội VII khẳng định một bài học lớn: "Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị". Đây là kinh nghiệm quý báu cho chính sách phát triển.
II. Thành tựu và thách thức cải cách kinh tế chính trị
Những thành quả trong nhận thức và giải quyết mối quan hệ cải cách kinh tế và cải cách chính trị là rất lớn. Chúng mang lại những biến đổi tích cực trong thực tiễn. Đưa đất nước vượt qua khó khăn, tạo nền tảng vững chắc. Công cuộc đổi mới đạt được nhiều dấu ấn quan trọng. Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ trên trường quốc tế. Nâng cao đời sống nhân dân, tăng cường tiềm lực quốc gia. Các chính sách phát triển đã phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, bên cạnh thành tựu, vẫn tồn tại những khiếm khuyết. Cả trên bình diện nhận thức lý luận lẫn tổ chức thực tiễn. Những lệch lạc này cần được nhìn nhận rõ ràng. Chúng ảnh hưởng đến tốc độ và chất lượng của công cuộc đổi mới. Đòi hỏi cần có những điều chỉnh kịp thời. Nâng cao năng lực quản trị quốc gia. Tránh những hệ lụy tiêu cực có thể phát sinh. Giải quyết triệt để những bất cập còn tồn tại.
2.1. Thành quả to lớn từ cải cách toàn diện
Những thành quả trong nhận thức và giải quyết mối quan hệ cải cách kinh tế và cải cách chính trị là rất lớn. Chúng mang lại những biến đổi tích cực trong thực tiễn. Đưa đất nước vượt qua khó khăn, tạo nền tảng vững chắc. Công cuộc đổi mới đạt được nhiều dấu ấn quan trọng. Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ trên trường quốc tế. Nâng cao đời sống nhân dân, tăng cường tiềm lực quốc gia. Các chính sách phát triển đã phát huy hiệu quả.
2.2. Hạn chế và khiếm khuyết trong thực tiễn
Tuy nhiên, bên cạnh thành tựu, vẫn tồn tại những khiếm khuyết. Cả trên bình diện nhận thức lý luận lẫn tổ chức thực tiễn. Những lệch lạc này cần được nhìn nhận rõ ràng. Chúng ảnh hưởng đến tốc độ và chất lượng của công cuộc đổi mới. Đòi hỏi cần có những điều chỉnh kịp thời. Nâng cao năng lực quản trị quốc gia. Tránh những hệ lụy tiêu cực có thể phát sinh. Giải quyết triệt để những bất cập còn tồn tại.
III. Nhận thức lệch lạc về thể chế kinh tế chính trị
Trên lĩnh vực nhận thức, một số quan điểm lệch lạc vẫn tồn tại. Một số người cho rằng kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội không thể tương dung. Họ không thể "bắt cá hai tay". Theo họ, nếu chấp nhận kinh tế thị trường, kinh tế phát triển. Nhưng thể chế chính trị tương ứng sẽ là chủ nghĩa tư bản. Hoặc phát triển nền kinh tế phi thị trường. Khi đó, chủ nghĩa xã hội sẽ là thứ "chia đều sự khổ ải". Những quan điểm này phủ nhận tính đúng đắn của đường lối đổi mới. Khi chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đa dạng hóa thành phần kinh tế diễn ra. Điều này dẫn tới đa dạng hóa cơ cấu xã hội, cơ cấu lợi ích. Trong giai đoạn này, không chỉ có sự đồng nhất, còn có khác biệt, thậm chí mâu thuẫn. Một số người cho rằng thích ứng với nền kinh tế "đa nguyên" đó. Nền chính trị không thể "nhất nguyên". Không thể duy trì chế độ lãnh đạo của một đảng duy nhất. Theo họ, mâu thuẫn cơ bản là: Yêu cầu phát triển kinh tế thị trường đầy đủ đòi hỏi đổi mới toàn diện kinh tế, chính trị. Điều này xung đột với vị trí độc quyền của một Đảng Cộng sản. Quan điểm này đặt ra thách thức cho ổn định chính trị. Trong nội bộ Đảng, đa số thống nhất với quan niệm về tương quan đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Tuy nhiên, vẫn có một bộ phận nhỏ hoang mang, dao động. Một số đề cao kinh tế thị trường quá mức. Xem đó là liều thuốc vạn năng giải quyết mọi vấn đề. Trước một số hiện tượng tiêu cực do mặt trái cơ chế thị trường. Một số khác lại muốn quay lại cơ chế cũ. Tình trạng đổ vỡ ở Liên Xô và Đông Âu ảnh hưởng tư duy. Một số người muốn kìm hãm quá trình cải cách chính trị. Những dao động này gây khó khăn cho việc hoạch định chính sách phát triển.
3.1. Quan điểm sai lầm về kinh tế thị trường
Trên lĩnh vực nhận thức, một số quan điểm lệch lạc vẫn tồn tại. Một số người cho rằng kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội không thể tương dung. Họ không thể "bắt cá hai tay". Theo họ, nếu chấp nhận kinh tế thị trường, kinh tế phát triển. Nhưng thể chế chính trị tương ứng sẽ là chủ nghĩa tư bản. Hoặc phát triển nền kinh tế phi thị trường. Khi đó, chủ nghĩa xã hội sẽ là thứ "chia đều sự khổ ải". Những quan điểm này phủ nhận tính đúng đắn của đường lối đổi mới.
3.2. Thách thức đối với thể chế chính trị hiện hành
Khi chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đa dạng hóa thành phần kinh tế diễn ra. Điều này dẫn tới đa dạng hóa cơ cấu xã hội, cơ cấu lợi ích. Trong giai đoạn này, không chỉ có sự đồng nhất, còn có khác biệt, thậm chí mâu thuẫn. Một số người cho rằng thích ứng với nền kinh tế "đa nguyên" đó. Nền chính trị không thể "nhất nguyên". Không thể duy trì chế độ lãnh đạo của một đảng duy nhất. Theo họ, mâu thuẫn cơ bản là: Yêu cầu phát triển kinh tế thị trường đầy đủ đòi hỏi đổi mới toàn diện kinh tế, chính trị. Điều này xung đột với vị trí độc quyền của một Đảng Cộng sản. Quan điểm này đặt ra thách thức cho ổn định chính trị.
3.3. Sự hoang mang dao động trong nội bộ Đảng
Trong nội bộ Đảng, đa số thống nhất với quan niệm về tương quan đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Tuy nhiên, vẫn có một bộ phận nhỏ hoang mang, dao động. Một số đề cao kinh tế thị trường quá mức. Xem đó là liều thuốc vạn năng giải quyết mọi vấn đề. Trước một số hiện tượng tiêu cực do mặt trái cơ chế thị trường. Một số khác lại muốn quay lại cơ chế cũ. Tình trạng đổ vỡ ở Liên Xô và Đông Âu ảnh hưởng tư duy. Một số người muốn kìm hãm quá trình cải cách chính trị. Những dao động này gây khó khăn cho việc hoạch định chính sách phát triển.
IV. Giải quyết quan hệ đổi mới Thực tiễn và sai lầm
Về mặt thực tiễn, có hiện tượng trì trệ. Tình trạng này cản trở đẩy mạnh đổi mới kinh tế hoặc đổi mới chính trị. Ngược lại, có nơi muốn đẩy nhanh quá trình. Làm cho hai quá trình đổi mới bị tách rời nhau. Gây hậu quả xấu cho cả cải cách kinh tế lẫn cải cách chính trị. Sự thiếu đồng bộ tạo ra những rủi ro. Việc quản lý và điều hành cần linh hoạt hơn. Đảm bảo sự hài hòa giữa hai mặt của công cuộc đổi mới. Trong thực tiễn đổi mới, cũng xuất hiện cực đoan. Giải quyết không đúng mối tương quan giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị. Có lúc, có nơi xuất hiện định hướng phiến diện của chính trị đối với kinh tế. Không đánh giá đầy đủ vai trò chỉ đạo của chính trị. Không nhận thức đúng tầm quan trọng của quan điểm chính trị đúng đắn. Việc này gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc giải quyết các vấn đề kinh tế. Thiếu sự chỉ đạo đúng đắn từ quản trị quốc gia. Nếu không kịp thời ngăn chặn sai lầm, hậu quả sẽ nghiêm trọng. Các trung tâm quyền lực có thể rơi vào tình trạng thụ động. Làm tăng những nhân tố tự phát không kiểm soát được trong kinh tế thị trường. Điều này gây ra sự mất cân bằng. Ảnh hưởng đến ổn định chính trị và phát triển bền vững. Cần có cơ chế kiểm soát hiệu quả. Đảm bảo sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng. Phát huy tối đa hiệu quả của chính sách phát triển.
4.1. Tình trạng trì trệ hoặc vội vàng trong đổi mới
Về mặt thực tiễn, có hiện tượng trì trệ. Tình trạng này cản trở đẩy mạnh đổi mới kinh tế hoặc đổi mới chính trị. Ngược lại, có nơi muốn đẩy nhanh quá trình. Làm cho hai quá trình đổi mới bị tách rời nhau. Gây hậu quả xấu cho cả cải cách kinh tế lẫn cải cách chính trị. Sự thiếu đồng bộ tạo ra những rủi ro. Việc quản lý và điều hành cần linh hoạt hơn. Đảm bảo sự hài hòa giữa hai mặt của công cuộc đổi mới.
4.2. Định hướng chính trị phiến diện kinh tế
Trong thực tiễn đổi mới, cũng xuất hiện cực đoan. Giải quyết không đúng mối tương quan giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị. Có lúc, có nơi xuất hiện định hướng phiến diện của chính trị đối với kinh tế. Không đánh giá đầy đủ vai trò chỉ đạo của chính trị. Không nhận thức đúng tầm quan trọng của quan điểm chính trị đúng đắn. Việc này gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc giải quyết các vấn đề kinh tế. Thiếu sự chỉ đạo đúng đắn từ quản trị quốc gia.
4.3. Hậu quả từ sai lầm trong quản trị quốc gia
Nếu không kịp thời ngăn chặn sai lầm, hậu quả sẽ nghiêm trọng. Các trung tâm quyền lực có thể rơi vào tình trạng thụ động. Làm tăng những nhân tố tự phát không kiểm soát được trong kinh tế thị trường. Điều này gây ra sự mất cân bằng. Ảnh hưởng đến ổn định chính trị và phát triển bền vững. Cần có cơ chế kiểm soát hiệu quả. Đảm bảo sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng. Phát huy tối đa hiệu quả của chính sách phát triển.
V. Định hướng chính sách phát triển Ổn định chính trị
Đại đa số cán bộ, đảng viên và các tổ chức đảng đều thống nhất. Quan niệm của Đảng về tương quan giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là đúng đắn. Quan điểm này được khẳng định và phát triển trong các văn kiện của Đảng. Đây là kim chỉ nam cho mọi hành động. Đảm bảo sự đồng thuận trong hệ thống chính trị. Tạo cơ sở vững chắc cho việc hoạch định chính sách phát triển quốc gia. Việt Nam luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của ổn định chính trị. Ổn định chính trị là nền tảng cốt lõi. Nó giúp tạo môi trường thuận lợi cho tự do hóa kinh tế. Ổn định chính trị là yếu tố then chốt để thu hút đầu tư. Đảm bảo phát triển kinh tế bền vững. Đây là nguyên tắc không thể tách rời trong đường lối đổi mới. Để tiếp tục phát triển, cần vận dụng các bài học kinh nghiệm. Tiếp tục giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Tăng cường năng lực quản trị quốc gia. Đảm bảo mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Xây dựng một Việt Nam hùng cường, phồn vinh.
5.1. Quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam
Đại đa số cán bộ, đảng viên và các tổ chức đảng đều thống nhất. Quan niệm của Đảng về tương quan giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là đúng đắn. Quan điểm này được khẳng định và phát triển trong các văn kiện của Đảng. Đây là kim chỉ nam cho mọi hành động. Đảm bảo sự đồng thuận trong hệ thống chính trị. Tạo cơ sở vững chắc cho việc hoạch định chính sách phát triển quốc gia.
5.2. Ưu tiên ổn định chính trị trong quá trình Đổi mới
Việt Nam luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của ổn định chính trị. Ổn định chính trị là nền tảng cốt lõi. Nó giúp tạo môi trường thuận lợi cho tự do hóa kinh tế. Ổn định chính trị là yếu tố then chốt để thu hút đầu tư. Đảm bảo phát triển kinh tế bền vững. Đây là nguyên tắc không thể tách rời trong đường lối đổi mới.
5.3. Tiếp tục hoàn thiện dân chủ hóa và quản trị quốc gia
Để tiếp tục phát triển, cần vận dụng các bài học kinh nghiệm. Tiếp tục giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Tăng cường năng lực quản trị quốc gia. Đảm bảo mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Xây dựng một Việt Nam hùng cường, phồn vinh.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (173 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộTính cấp thiết của đề tài Đại thắng Mùa xuân 1975 đã mở ra trang sử mới của dân tộc; Đất nước hoà bình, độc lập, thống nhất và cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Dưới sự lãnh đạo của Đảng và do sự nỗ lực của toàn dân, công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Song, do cả những nguyên nhân khách quan và chủ quan, những gì đã đạt được đó còn rất xa mới đáp ứng yêu cầu của dân tộc và thời đại. Để nâng cao chất lượng và hiệu quả xây dựng CNXH, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước - từ đổi mới tư duy đến đổi mới tổ chức bộ máy, đổi mới phương pháp lãnh đạo, đổi mới phong cách hoạt động; từ đổi mới kinh tế đến đổi mới chính trị.
Trong tổng thể chung của sự nghiệp đổi mới đó, đổi mới kinh tế theo hướng chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xem là trọng tâm; đồng thời cũng đã từng bước đổi mới về chính trị theo hướng từng bước hình thành và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà nội hàm cơ bản của nó là: Toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân. Những thành tựu của quá trình đổi mới toàn diện đất nước nói chung, của quá trình giải quyết đúng đắn quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị nói riêng đã đưa đất nước ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế- xã hội để bước vào giai đoạn mới - đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH). Đó là cơ sở thực tiễn để khi tổng kết chặng đường 10 năm đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII xem: "Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị" là một trong sáu bài học kinh nghiệm lớn được tích luỹ qua 10 năm đó. 2 Trong khi khẳng định những thành quả to lớn trong việc nhận thức và giải quyết quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị cùng những biến đổi tích cực trong thực tiễn do chúng mang lại, chúng ta cũng không thể không thấy rằng trên bình diện nhận thức lý luận lẫn tổ chức thực tiễn còn tồn tại những khiếm khuyết, lệch lạc nhất định.
Trên lĩnh vực nhận thức: lúc này hay lúc khác, một số người vẫn cho rằng kinh tế thị trường và CNXH như nước với lửa, chúng không thể tương dung; rằng, do đó, không thể "bắt cá hai tay". Theo họ, hoặc chấp nhận kinh tế thị trường thì kinh tế phát triển, nhưng thể chế chính trị tương ứng sẽ là chủ nghĩa tư bản (CNTB); hoặc là phát triển nền kinh tế phi thị trường, khi đó sẽ là thứ CNXH "chia đều sự khổ ải"(!). Dựa trên một sự thực là khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), sự đa dạng hoá thành phần kinh tế dẫn tới đa dạng hoá cơ cấu xã hội, đa dạng hoá cơ cấu lợi ích, trong giai đoạn đó không chỉ có sự đồng nhất, còn có sự khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau, một số người cho rằng thích ứng với nền kinh tế "đa nguyên" đó, nền chính trị không thể "nhất nguyên", không thể duy trì mãi chế độ lãnh đạo của một đảng duy nhất. Do vậy, theo họ, ở nước ta hiện nay có mâu thuẫn cơ bản là: "Yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường một cách đầy đủ trong điều kiện hiện đại với nhiều thách thức và cạnh tranh gay gắt đòi hỏi sự đổi mới toàn diện cả về kinh tế và chính trị đã xung đột với vị trí độc quyền của một Đảng Cộng sản" (!)….
Ngay trong Đảng, trong khi đại đa số cán bộ, đảng viên và các tổ chức đảng đều thống nhất với quan niệm của Đảng về tương quan giữa đổi mới kinh tế và đổi mới về chính trị như đã được khẳng định và phát triển trong các văn kiện của Đảng, thì vẫn có một bộ phận nhỏ hoang mang, dao động ngả nghiêng. Một số đề cao kinh tế thị trường lên tận mây xanh, xem đó là liều thuốc vạn năng có thể chữa được bách bệnh và giải quyết được mọi 3 vấn đề mà công cuộc đổi mới đặt ra. Trước một số hiện tượng tiêu cực phát triển do tác động của mặt trái thuộc cơ chế thị trường , một số khác lại muốn quay lại cơ chế cũ. Trong tình trạng đổ vỡ nặng nề ở Liên bang Xô - viết cũ và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu do những bước đi sai lầm trong cải cách chính trị, một số người lại muốn kìm hãm quá trình đổi mới chính trị… Về mặt thực tiễn: Bên cạnh hiện tượng trì trệ trong đẩy mạnh đổi mới kinh tế hoặc đổi mới chính trị, cũng có tình trạng ở nơi này hay nơi khác, lúc này hay lúc kia muốn đẩy thật nhanh quá trình đổi mới kinh tế hoặc đổi mới chính trị, làm cho hai quá trình đổi mới đó bị tách rời nhau, gây ra hậu quả xấu cho cả đổi mới kinh tế lẫn đổi mới chính trị.
Mặt khác, trong thực tiễn đổi mới cũng xuất hiện hai cực đoan dẫn tới giải quyết không thật đúng mối tương quan giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị. Một là, có lúc, có nơi xuất hiện sự định hướng phiến diện của chính trị đối với kinh tế, không đánh giá đầy đủ vai trò chỉ đạo của chính trị, của quan điểm chính trị đúng đắn đối với việc giải quyết các vấn đề kinh tế. Không kịp thời ngăn chặn sai lầm đó sẽ làm cho các trung tâm quyền lực rơi vào tình trạng thụ động, làm tăng những nhân tố tự phát không thể kiểm soát được trong nền kinh tế thị trường. Hai là, có hiện tượng chính trị tách rời kinh tế; đây đó có lúc xuất hiện thái độ coi thường các nhu cầu kinh tế, tuyệt đối hoá sức mạnh của các quyết định chính trị, làm cho các quyết định đó mất cơ sở khách quan trên nền tảng kinh tế.
Sự lệch lạc như vậy sẽ đưa chúng ta rơi vào sai lầm của chủ nghĩa chủ quan duy ý chí. Vì vậy, hiện nay, việc tiếp tục làm rõ hơn nữa quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị nhằm tìm ra giải pháp đúng đắn thúc đẩy sự đổi mới trên hai lĩnh vực này vẫn là vấn đề cấp bách. 4 Từ suy nghĩ đó, tôi chọn vấn đề :" Mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta hiện nay" làm đối tượng nghiên cứu trong luận án của mình. Tình hình nghiên cứu đề tài Trước yêu cầu bức xúc của công cuộc đổi mới, vấn đề quân đội giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là một đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà lý luận, do vậy, đã có nhiều công trình có liên quan tới đề tài này được công bố.
Chẳng hạn, "Kinh tế thị trường và định hướng XHCN" của GS Bùi Ngọc Chưởng (Tạp chí Cộng sản, 12/1994); "NEP - Một cách tiếp cận mới mang tính nguyên tắc của V. Lênin về CNXH" của PTS Nguyễn Thế Nghĩa (Tạp chí Triết Học, 2/1995); "Đổi mới và phát triển các thành phần kinh tế" của PTS Đỗ Hoài Nam (Nxb CTQG, Hà Nội, 1993); "Bài học kinh nghiệm về việc xử lý mối quan hệ giữa cải tổ chính trị và cải tổ kinh tế ở Liên Xô trước đây" của PGS, PTS Phạm Ngọc Quang (Tạp chí Lịch sử Đảng 4/1993); "Chính trị với kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay" của PGS, PTS Phạm Ngọc Quang (Tạp chí Nghiên cứu lý luận 4/1995); "Đổi mới chính sách và cơ chế quản lý kinh tế bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế bền vững" của GS.PTS Vũ Đình Bách, GS.TS Ngô Đình Giao (Nxb CTQG, Hà Nội, 1996); "Hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" (Chương trình KX. Nguyễn Đức Bình làm chủ nhiệm); "Định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - một số vấn đề lý luận cấp bách" của GS.Trần Xuân Trường (Nxb CTQG, Hà Nội, 1996); "Coi trọng cao độ vấn đề địa vị cầm quyền của Đảng trong điều kiện kinh tế thị trường" của Wang Mao Lin (Tạp chí Thông tin khoa học xã hội , 5/1994); " Chủ nghĩa xã hội cũng có thể áp dụng kinh tế thị trường" của Cung Kim Quốc… (Nxb CTQG, Hà Nội, 1996 ); "Kinh tế thị trường và những vấn đề xã hội" của nhiều tác giả (Viện Thông tin khoa học xã hội xuất bản, H, 1994); v. 5 Các công trình khoa học trên đề cập tương đối có hệ thống một số vấn đề về mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và CNXH, làm sáng tỏ vai trò của một số nhân tố chính trị trong việc định hướng sự phát triển của nền kinh tế đó vào việc đạt mục tiêu của CNXH (như: vai trò và nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với kinh tế thị trường; vai trò quản lý của Nhà nước đối với sự phát triển của nền kinh tế đó…).
Ngoài ra, do tính bức xúc của vấn đề này, trong những năm gần đây đã có một số luận án liên quan tới mối quan hệ chính trị và kinh tế được bảo vệ. Chẳng hạn, "Vai trò của Nhà nước chuyên chính vô sản đối với việc xây dựng phương thức sản xuất XHCN ở Việt Nam" của PTS Trần Văn Hải; "Bệnh chủ quan duy ý chí trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta sau 1975:nguyên nhân và phương hướng khắc phục" của PGS Nguyễn Văn Sáu. Tuy nhiên, vấn đề quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và điều kiện chính trị trong quá trình đổi mới ở nước ta chưa trở thành đối tượng trình bày một cách tương đối toàn diện trong bất kỳ một công trình khoa học nào. Vì thế, luận án này là sự bổ sung, phát triển hơn nữa những vấn đề liên quan tới quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ít nhiều đã được đề cập trong các công trình đã có, nó góp phần đưa nhận thức về vấn đề này tới độ sâu sắc cần thiết theo yêu cầu của thực tiễn đổi mới CNH, HĐH và phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Quan hệ đổi mới kinh tế và chính trị (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/tai-lieu-khac/quan-he-doi-moi-kin-te-va-chinh-tri
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Quan hệ đổi mới kinh tế và chính trị" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án TS: Phân tích mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế & chính trị Việt Nam hiện nay. Khám phá tác động và đề xuất giải pháp.
Luận án "Quan hệ đổi mới kinh tế và chính trị" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Quan hệ đổi mới kinh tế và chính trị" thuộc chuyên ngành Triết học / Chính trị học. Danh mục: Tài liệu khác.
Luận án "Quan hệ đổi mới kinh tế và chính trị" có bao nhiêu trang?
Luận án "Quan hệ đổi mới kinh tế và chính trị" có 173 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Quan hệ đổi mới kinh tế và chính trị" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.