Luận án tiến sĩ: Quan hệ biện chứng giữa tính cách mạng và tính khoa học trong công tác tư tưởng của Đảng ta

Nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa cách mạng và khoa học. Khám phá cách kết hợp này định hình, nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng.

Tác giả

Luan An

Số trang

195

Thời gian đọc

30 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Quan hệ biện chứng: Tính cách mạng và tính khoa học trong CTTT
Số trang:
195 trang
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Quan hệ biện chứng Tính cách mạng và tính khoa học trong CTTT

Công tác tư tưởng (CTTT) luôn có tầm quan trọng hàng đầu. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi CTTT là yếu tố then chốt cho mọi thành công. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh điều đó. Vai trò CTTT không giảm nhẹ. CTTT cần được đổi mới, tăng cường toàn diện. Mục tiêu là nâng cao hiệu quả hoạt động. Tính cách mạng và tính khoa học là hai mặt bản chất của CTTT. Chúng có mối quan hệ biện chứng sâu sắc. Sự thống nhất giữa tính cách mạng và tính khoa học tăng cường hiệu quả CTTT. Nó cũng góp phần quyết định thắng lợi cách mạng. Thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, CTTT đã kết hợp tốt hai yếu tố này. Mục tiêu độc lập dân tộc tạo thuận lợi lớn. CTTT khi đó đã động viên, thuyết phục quần chúng. Đông đảo nhân dân đã hăng hái tham gia cách mạng giải phóng dân tộc.

1.1. Tầm quan trọng CTTT Nền tảng thành công cách mạng

Công tác tư tưởng là yếu tố sống còn. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn ưu tiên công tác này. Thành công của cách mạng Việt Nam gắn liền với CTTT. Vai trò CTTT không ngừng được nhấn mạnh. CTTT cần tiếp tục đổi mới. Cần tăng cường hiệu quả trên mọi mặt. CTTT là nền tảng vững chắc. Nó định hướng tư duy xã hội. CTTT tạo đồng thuận trong nhân dân. Nó là động lực thúc đẩy sự phát triển. CTTT bảo vệ những giá trị cốt lõi. CTTT phản bác các quan điểm sai trái. CTTT nâng cao nhận thức chính trị. Nó củng cố niềm tin vào Đảng, vào chế độ. Không có CTTT mạnh, cách mạng khó thành công. CTTT là công cụ sắc bén. Nó hình thành ý chí, hành động cách mạng. CTTT phải phát huy tối đa sức mạnh. CTTT phải thích ứng mọi hoàn cảnh. Cần nâng cao tính chiến đấu của CTTT. CTTT cần duy trì sự chủ động.

1.2. Bản chất mối quan hệ Tính cách mạng và khoa học

Tính cách mạng và tính khoa học là cặp phạm trù cốt lõi. Chúng tồn tại trong CTTT. Chúng có mối quan hệ biện chứng khăng khít. Tính cách mạng thể hiện sự kiên định mục tiêu. Nó phản ánh ý chí đấu tranh vì lý tưởng. Tính khoa học đòi hỏi sự khách quan, thực tiễn. Nó dựa trên cơ sở lý luận vững chắc. Hai yếu tố này không tách rời nhau. Chúng bổ sung và thống nhất với nhau. Thiếu tính cách mạng, CTTT trở nên mơ hồ. Thiếu tính khoa học, CTTT dễ rơi vào giáo điều. Sự kết hợp nhuần nhuyễn mang lại sức mạnh. Nó tạo ra hiệu quả cao nhất cho CTTT. Thắng lợi cách mạng là minh chứng. Thời kỳ giải phóng dân tộc đã chứng tỏ điều này. CTTT phải vừa tiến công, vừa thuyết phục. Nó phải có sức mạnh lý luận. Cần làm rõ quan hệ biện chứng này. Cần vận dụng đúng trong thực tiễn. Tính cách mạng đòi hỏi kiên quyết. Tính khoa học đòi hỏi sáng tạo. Cần cân bằng hai mặt này.

II. Đổi mới công tác tư tưởng Thách thức thời kỳ hiện đại

Việt Nam đang trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Công cuộc đổi mới từ Đại hội VI đã mang lại nhiều thay đổi. Điều kiện cách mạng hiện nay phức tạp hơn nhiều. CTTT đã có những đổi mới đáng kể. Nhiều thành tựu quan trọng được ghi nhận. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những lệch lạc. CTTT còn bộc lộ nhiều yếu kém. Đặc biệt là sự kết hợp giữa tính cách mạng và tính khoa học. Sự kết hợp này chưa thật sự nhuần nhuyễn. Nhiều vấn đề lớn đặt ra cho nội dung CTTT. Hình thức, phương pháp, phương tiện CTTT cũng cần đổi mới. Cần kết hợp chặt chẽ hơn nữa hai mặt bản chất. CTTT phải đáp ứng yêu cầu mới. CTTT cần giải quyết những thách thức hiện đại. Đòi hỏi sự linh hoạt và sáng tạo. Cần có sự đổi mới tư duy sâu sắc. Nâng cao chất lượng CTTT là cấp thiết. CTTT cần bắt kịp với thực tiễn cách mạng.

2.1. Bối cảnh đổi mới Yêu cầu mới với CTTT

Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đặt ra nhiều yêu cầu. Công cuộc đổi mới đất nước đã thay đổi mọi mặt. Xã hội Việt Nam đang phát triển nhanh chóng. Điều kiện cách mạng có nhiều khác biệt so với trước. CTTT phải thích nghi với tình hình mới. CTTT cần đáp ứng các nhiệm vụ mới. Đã có những đổi mới tích cực. Nhiều thành tựu đã được ghi nhận. CTTT đã góp phần vào sự phát triển. Tuy nhiên, các yêu cầu mới rất cao. CTTT cần nâng cao khả năng dự báo. CTTT phải đi trước một bước. Cần có sự chuyển biến mạnh mẽ. CTTT phải đổi mới nội dung, phương pháp. Cần đa dạng hóa hình thức tuyên truyền. CTTT cần sử dụng công nghệ hiện đại. Phải nâng cao hiệu quả truyền thông. CTTT cần tạo được sức lan tỏa. Nó cần thu hút sự quan tâm của quần chúng. CTTT phải bám sát thực tiễn. CTTT phải giải quyết các vấn đề nóng.

2.2. Hạn chế CTTT Kết hợp chưa nhuần nhuyễn

Trong bối cảnh mới, CTTT còn nhiều hạn chế. Việc kết hợp tính cách mạng và tính khoa học chưa đạt yêu cầu. Sự nhuần nhuyễn còn là thách thức lớn. Đây là vấn đề phức tạp. Nó đòi hỏi sự nghiên cứu kỹ lưỡng. Nhiều quan điểm còn lệch lạc, yếu kém. Nhận thức về quan hệ biện chứng chưa sâu sắc. Chủ thể CTTT đôi khi còn lúng túng. Việc vận dụng vào thực tiễn còn chưa hiệu quả. CTTT có lúc kém sức thuyết phục. Điều này ảnh hưởng đến niềm tin quần chúng. Nó làm giảm hiệu quả CTTT. Cần đánh giá đúng các hạn chế này. Cần tìm ra nguyên nhân gốc rễ. Cần có giải pháp khắc phục triệt để. Cần nâng cao năng lực chủ thể CTTT. Cần đổi mới phương pháp luận. Cần khắc phục tư duy cũ. Cần phát huy sự sáng tạo. CTTT phải gắn lý luận với thực tiễn.

III. CTTT hiện nay Bảo vệ phát triển lý luận Mác Lênin

Một trong những thách thức lớn nhất là bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin. Học thuyết này đang đối mặt với nhiều cuộc tấn công. Sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội thế giới cũng ảnh hưởng. CTTT cần làm rõ giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác-Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng. Cần giúp nhân dân nhận thức đúng đắn. Cần vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng. CTTT phải định hướng trong nền kinh tế nhiều thành phần. Cơ chế thị trường đang vận hành. Quá trình mở cửa, giao lưu quốc tế diễn ra mạnh mẽ. CTTT phải kế thừa những thành tựu kinh tế của chủ nghĩa tư bản. CTTT cần tiếp thu giá trị nhân văn, tiến bộ của thế giới. Đồng thời, CTTT phải giữ vững giá trị dân tộc và cách mạng. Đây là một nhiệm vụ rất khó khăn, phức tạp. CTTT đòi hỏi sự bản lĩnh và trí tuệ. Cần có lý luận chính trị vững chắc.

3.1. Vận dụng chủ nghĩa Mác Lênin Giá trị cốt lõi

Công tác tư tưởng có vai trò then chốt. Nó phải bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin. Học thuyết này đang đứng trước nhiều thử thách. Các thế lực thù địch không ngừng tấn công. CTTT cần khẳng định giá trị bền vững của lý luận. Cần làm cho nhân dân hiểu sâu sắc chủ nghĩa Mác-Lênin. Cần nhận thức rõ tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là kim chỉ nam cho hành động. Cần vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng. Lý luận chính trị phải được phổ biến rộng rãi. Cần bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch. Cần tăng cường sức đề kháng tư tưởng. CTTT phải là lá chắn vững chắc. CTTT phải là mũi nhọn tấn công. Cần nâng cao trình độ lý luận. Cần cập nhật kiến thức mới. Cần đổi mới phương pháp nghiên cứu. Chủ nghĩa Mác-Lênin cần được phát triển.

3.2. CTTT trong nền kinh tế thị trường Hội nhập quốc tế

Nền kinh tế nhiều thành phần là thực tế khách quan. Cơ chế thị trường tạo ra nhiều cơ hội. Song cũng tiềm ẩn nhiều thách thức. Mở cửa, giao lưu quốc tế là xu thế tất yếu. CTTT phải hoạt động trong bối cảnh này. Cần kế thừa thành tựu kinh tế của chủ nghĩa tư bản. Cần tiếp thu những giá trị nhân văn tiến bộ. Đồng thời, phải giữ vững bản sắc dân tộc. Cần phát huy giá trị của cách mạng Việt Nam. CTTT phải giải quyết mâu thuẫn giữa cũ và mới. Cần làm rõ định hướng xã hội chủ nghĩa. CTTT phải đấu tranh chống lại lối sống thực dụng. Cần bảo vệ văn hóa truyền thống. CTTT cần tạo sự đồng thuận xã hội. Cần đảm bảo công bằng và tiến bộ. CTTT phải có tầm nhìn chiến lược. Nó cần sự nhạy bén và linh hoạt. Cần phương pháp luận khoa học.

IV. Nâng cao hiệu quả CTTT Phương pháp luận và thực tiễn

Công tác tư tưởng cần giúp quần chúng có định hướng đúng. Bối cảnh thông tin hiện nay rất đa dạng và phức tạp. Nhiều luận điệu phản tuyên truyền tinh vi, nguy hiểm xuất hiện. CTTT cần trang bị cho nhân dân khả năng 'miễn dịch'. Cần phòng chống hữu hiệu âm mưu 'diễn biến hòa bình' của các thế lực thù địch. CTTT phải biến mục tiêu đổi mới thành hành động tự giác. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là nhiệm vụ trọng tâm. Thực hiện mục tiêu 'dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh'. Vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. CTTT phải làm cho mỗi người dân Việt Nam nhận thức được. Cần biến mục tiêu thành hành động tự giác. CTTT là động lực mạnh mẽ. Nó tạo sự đồng lòng trong toàn xã hội. Cần đổi mới tư duy trong CTTT. Cần phát triển phương pháp luận phù hợp thực tiễn cách mạng.

4.1. Định hướng tư duy Chống diễn biến hòa bình

Công tác tư tưởng có nhiệm vụ định hướng tư duy. Quần chúng cần có cái nhìn đúng đắn. Thông tin hiện nay rất đa dạng, phức tạp. Có nhiều luận điệu phản tuyên truyền tinh vi. Các thế lực thù địch luôn tìm cách xuyên tạc. CTTT phải giúp nhân dân 'miễn dịch'. Cần trang bị kiến thức để phân biệt đúng sai. Cần phòng chống âm mưu 'diễn biến hòa bình'. CTTT cần nâng cao tinh thần cảnh giác. Nó cần củng cố niềm tin vào Đảng, vào chế độ. CTTT phải đưa thông tin chính thống kịp thời. Cần có sự phản bác mạnh mẽ, thuyết phục. Cần phát huy vai trò của báo chí, truyền thông. Cần tạo môi trường thông tin lành mạnh. CTTT cần sử dụng các phương pháp mới. Cần nâng cao hiệu quả tuyên truyền trực tuyến. CTTT phải chủ động tấn công.

4.2. Thúc đẩy mục tiêu quốc gia Hành động tự giác của dân

CTTT có sứ mệnh cao cả. Nó biến các mục tiêu quốc gia thành hành động cụ thể. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là trọng tâm. Mục tiêu 'dân giàu, nước mạnh' cần đạt được. 'Xã hội công bằng, văn minh' là khát vọng. Vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội là con đường. CTTT phải khơi dậy tinh thần yêu nước. Nó phải thúc đẩy ý chí cống hiến. Cần làm cho mỗi người dân hiểu rõ. Cần biến nhận thức thành hành động tự giác. CTTT phải tạo động lực mạnh mẽ. Cần huy động mọi nguồn lực xã hội. Cần phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. CTTT phải là cầu nối giữa Đảng và dân. Nó cần lắng nghe ý kiến quần chúng. CTTT phải phản ánh tâm tư nguyện vọng. Cần củng cố mối quan hệ máu thịt. CTTT cần hành động vì lợi ích nhân dân.

V. Chủ thể CTTT Nhận thức và vận dụng quan hệ biện chứng

Nhận thức của chủ thể CTTT về mối quan hệ biện chứng còn hạn chế. Nhận thức về tính cách mạng và tính khoa học chưa thật đầy đủ. Sự hiểu biết chưa sâu sắc, chưa bắt kịp tình hình mới. Nội dung các khái niệm cần được làm rõ hơn. Bản chất mối quan hệ trong hoàn cảnh hiện nay không phải ai cũng nhận thức đúng. Việc vận dụng vào thực tiễn còn nhiều khó khăn. Đây là một trong những nguyên nhân chính. CTTT nhiều khi kém sức thuyết phục. Cần nâng cao trình độ lý luận cho đội ngũ cán bộ CTTT. Cần đổi mới tư duy và phương pháp làm việc. Cần tổng kết thực tiễn để tìm ra biện pháp tốt nhất. Mục tiêu là kết hợp nhuần nhuyễn hai mặt ấy. CTTT mới có thể góp phần thúc đẩy mạnh mẽ công cuộc đổi mới. Sự yếu kém này đòi hỏi các giải pháp toàn diện. Cần đào tạo, bồi dưỡng cán bộ CTTT.

5.1. Nhận thức CTTT Chưa đầy đủ chưa sâu sắc

Chủ thể công tác tư tưởng cần nâng cao nhận thức. Nhận thức về tính cách mạng còn chung chung. Nhận thức về tính khoa học đôi khi còn máy móc. Quan hệ biện chứng giữa chúng chưa được hiểu thấu đáo. Sự hiểu biết còn chưa đầy đủ. Chưa sâu sắc về bản chất của mối quan hệ. Điều này cản trở hiệu quả công việc. Nhận thức chưa theo kịp tình hình mới. Bối cảnh xã hội đã thay đổi nhanh chóng. Các khái niệm cần được cập nhật. Cần làm rõ nội hàm trong điều kiện hiện nay. Cần tránh sự cứng nhắc trong tư duy. Cần có góc nhìn đa chiều, khách quan. Cần nghiên cứu sâu hơn về lý luận chính trị. Cần trao đổi, thảo luận rộng rãi. Cần có cái nhìn thực tiễn. CTTT cần đổi mới phương pháp tiếp cận.

5.2. Hậu quả CTTT Thiếu sức thuyết phục thực tiễn

Nhận thức chưa đúng dẫn đến nhiều hậu quả. Công tác tư tưởng nhiều khi kém sức thuyết phục. Lý luận không gắn với thực tiễn. Nội dung tuyên truyền còn khô khan. Phương pháp chưa linh hoạt, hấp dẫn. Quần chúng khó tiếp nhận thông điệp. CTTT không tạo được sự đồng thuận cao. Nó không khơi dậy được nhiệt huyết cách mạng. Niềm tin có thể bị giảm sút. Các vấn đề xã hội phức tạp không được giải thích rõ ràng. Luận điệu xuyên tạc dễ lan truyền. Cần khắc phục tình trạng này. Cần nâng cao chất lượng cán bộ CTTT. Cần đổi mới phương tiện truyền thông. Cần tăng cường đối thoại trực tiếp. Cần làm CTTT có hồn, có sức sống. Cần gắn chặt với đời sống nhân dân. Cần đưa CTTT về cơ sở. CTTT cần lắng nghe phản hồi.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tiến sĩ quan hệ biện chứng giữa tính cách mạng và tính khoa học trong công tác tư tưởng của đảng ta

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (195 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

Tính cấp thiết của đề tài Trong mọi giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn coi CTTT có tầm quan trọng hàng đầu. Trong những nguyên nhân thành công của cách mạng nước ta, có sự góp phần đáng kể của CTTT. Hiện nay, vai trò CTTT không những không giảm nhẹ, trái lại, cần được đổi mới, tăng cường về nhiều mặt để nâng cao hiệu quả. Tính cách mạng và tính khoa học trong CTTT là hai mặt của cùng bản chất, có mối quan hệ biện chứng với nhau.

Trong mối quan hệ đó, sự thống nhất, kết hợp giữa tính cách mạng và tính khoa học tỷ lệ thuận với hiệu quả CTTT và thắng lợi của cách mạng. Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, CTTT đã kết hợp khá nhuần nhuyễn tính cách mạng và tính khoa học, nên đã động viên, thuyết phục, lôi cuốn được đông đảo quần chúng nhân dân vào dòng thác cách mạng giải phóng dân tộc. Bối cảnh cách mạng khi ấy, với mục tiêu độc lập dân tộc trên hết, cũng có những thuận lợi nhất định cho việc kết hợp tính cách mạng và tính khoa học trong CTTT. Thời kỳ cả nước quá độ lên CNXH, đặc biệt trong công cuộc đổi mới đất nước từ sau Đại hội VI của Đảng, điều kiện cách mạng có nhiều thay đổi, CTTT nhìn chung cũng đã có những đổi mới nhiều mặt để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới và đạt được nhiều thành tựu đáng kể.

Tuy nhiên, đây là vấn đề rất khó khăn, phức tạp nên vẫn còn những lệch lạc, yếu kém, nhất là việc kết hợp tính cách mạng và tính khoa học trong CTTT ở điều kiện mới chưa thật nhuần nhuyễn. Nhiều vấn đề lớn đặt ra đối với nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện CTTT hiện nay đòi hỏi phải đổi 1 mới theo tinh thần kết hợp chặt chẽ hơn nữa tính cách mạng và tính khoa học như: - Làm thế nào để bảo vệ và phát triển học thuyết Mác - Lênin trước sự khủng hoảng của CNXH và sự tấn công của kẻ thù, làm cho các tầng lớp nhân dân nhận thức được những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, hiểu và vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam. - Làm CTTT như thế nào trong điều kiện phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành trong cơ chế thị trường cùng với việc mở cửa, đẩy mạnh giao lưu quốc tế, để vừa kế thừa được những thành tựu phát triển kinh tế của CNTB, những giá trị nhân văn, tiến bộ của thế giới mà vẫn giữ vững và phát huy những giá trị của dân tộc và của cách mạng. - Bằng cách nào giúp quần chúng có định hướng đúng đắn trong bối cảnh thông tin đa dạng, phức tạp, có khả năng "miễn dịch" với luận điệu phản tuyên truyền tinh vi, nguy hiểm của các thế lực thù địch, phòng chống hữu hiệu âm mưu "diễn biến hòa bình" của địch.

- Làm CTTT thế nào để việc tham gia sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước nhằm thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh", vững bước tiến lên CNXH trở thành hành động tự giác của mỗi người dân Việt Nam v. Đối với chủ thể CTTT, có thể nói, nhận thức về tính cách mạng và tính khoa học cũng như quan hệ biện chứng giữa chúng trong CTTT chưa thật đầy đủ và sâu sắc, chưa bắt kịp tình hình mới. Nội dung các khái niệm cũng như bản chất mối quan hệ đó trong hoàn cảnh cụ thể hiện nay không phải ai cũng nhận thức và vận dụng đúng. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng CTTT nhiều khi kém sức thuyết phục.

2 Tất cả những điều trên cho thấy, CTTT phải được nâng cao cả tính cách mạng và tính khoa học, kết hợp ngày càng nhuần nhuyễn hai mặt ấy. Có như vậy, CTTT mới góp phần thúc đẩy mạnh mẽ công cuộc đổi mới. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, cần tìm ra những biện pháp tốt nhất để kết hợp tính cách mạng và tính khoa học của CTTT trong tình hình hiện nay. Đó là lý do tác giả chọn đề tài "Quan hệ biện chứng giữa tính cách mạng và tính khoa học trong công tác tư tưởng của Đảng ta hiện nay".

Tình hình nghiên cứu đề tài Ở Việt Nam, đã có một số cuốn sách, một số công trình khoa học và nhiều bài viết về CTTT từ những góc độ tiếp cận khác nhau. Về những vấn đề chung của CTTT có nhiều tác phẩm, công trình khoa học có giá trị của các nhà lãnh đạo CTTT, các cơ quan chuyên nghiên cứu và giảng dạy về CTTT như: cuốn Một số vấn đề về công tác tư tưởng của Đào Duy Tùng; cuốn Mấy vấn đề về công tác chính trị và tư tưởng trong chặng đường hiện nay. của Hoàng Tùng; cuốn Góp phần đổi mới công tác lý luận - tư tưởng của Trần Trọng Tân; cuốn Một số vấn đề lý luận và nghiệp vụ công tác tư tưởng của Ban Tư tưởng - văn hóa Trung ương; cuốn Nguyên lý công tác tư tưởng của khoa Tuyên truyền, phân viện Báo chí và Tuyên truyền.; các báo cáo tổng kết của Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương tại Hội nghị Công tác tư tưởng - văn hóa toàn quốc tháng 3/1997, tháng 3/1998 và tháng 3/1999 ; đề tài KHXH 05-02 Đổi mới và nâng cao chất lượng hiệu quả công tác tư tưởng; nhiều bài viết của các tác giả Nguyễn Đức Bình, Nguyễn Phú Trọng, Hữu Thọ v. Về sự lãnh đạo của Đảng đối với CTTT có một số luận án thạc sĩ của các tác giả như Đỗ Thị An với đề tài Vai trò công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới; Nguyễn Vũ Tiến với đề tài Sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí trong giai đoạn hiện nay; Nguyễn 3 Văn Minh với đề tài Đổi mới công tác tư tưởng của tổ chức cơ sở Đảng nông thôn ngoại thành Hà Nội.

Về đội ngũ cán bộ làm CTTT có đề tài cấp Nhà nước KX 10-09B Đổi mới phương thức đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; đề tài cấp Bộ 92-98-043 Vấn đề dạy và học các môn lý luận Mác - Lênin trong trường đại học, đề tài KX BĐ-05 của Ban TT-VH TW Thực trạng đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp tỉnh, thành, quận, huyện. Ngoài ra, còn có nhiều bài viết của các tác giả Tô Huy Rứa, Lương Khắc Hiếu, Nguyễn Chí Mỳ, Vũ Đình Hòe. đã đề cập đến vấn đề này. Vấn đề quan hệ biện chứng giữa tính cách mạng và tính khoa học trong CTTT của Đảng ta đôi khi cũng được đề cập, song mới chỉ đi vào những khía cạnh cụ thể (luận án phó tiến sĩ của Phùng Đăng Bách về Quan hệ biện chứng giữa tính chân thật và tính đảng của báo chí cách mạng), những suy nghĩ, những nhận xét khái quát hay các bài viết ngắn như: một số ý kiến của các tác giả Phạm Ngọc Quang, Trần Hữu Tiến, Trần Xuân Sầm.

trong cuốn Sự thống nhất giữa tính cách mạng và tính khoa học trong phương pháp lãnh đạo [20]; bài viết Quán triệt tính cách mạng và tính khoa học trong công tác tư tưởng của Đậu Thế Biểu trong cuốn Cách mạng và sáng tạo [11, 12-17]; bài viết của Trần Hữu Tiến Kết hợp tính khoa học và tính chính trị trong nghiên cứu lý luận [90]; bài viết của Lê Hữu Nghĩa Khoa học và chính trị [74]. Trên thế giới cũng có một số sách, báo đề cập đến những vấn đề có liên quan đến đề tài này như: cuốn Hoạt động tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô của tập thể tác giả Xô-viết do X.I Xu-rơ-ni-tren-cô chủ biên; cuốn Tuyên truyền miệng của tập thể tác giả Liên Xô do M.Ra-khơ-man-cu-nốp chủ biên; cuốn Phương pháp học tập lý luận chính trị của tập thể tác giả Liên Xô do A. Vi-sơ-nhia-cốp chủ biên; cuốn Tâm lý học tuyên truyền 4 của S.Na-đi-na-si-li. Bài viết của các tác giả Trung Quốc như: Về bản lĩnh của công tác chính trị - tư tưởng của Đới Châu [13]; Về giáo dục chính trị tư tưởng ở đặc khu Thâm Quyến của Lin Yuan Shang [82].

Bài viết của tác giả Boun Chom Vong Phet về Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với báo chí ở Lào (Tạp chí Báo chí & tuyên truyền, Số 6/1998). Có thể nhận xét rằng, trong nước cũng như trên thế giới chưa có công trình khoa học nào đề cập trực tiếp và toàn diện về đề tài "Quan hệ biện chứng giữa tính cách mạng và tính khoa học trong công tác tư tưởng của Đảng ta hiện nay". Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án Luận án chủ yếu đề cập đến quan hệ biện chứng giữa tính cách mạng và tính khoa học trong CTTT của các chủ thể làm CTTT dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng Mác - Lênin. Luận án đi sâu nghiên cứu về quan hệ biện chứng giữa tính cách mạng và tính khoa học trong CTTT do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, ở thời kỳ đổi mới từ Đại hội VI đến nay.

Mục đích và nhiệm vụ của luận án Luận án được chọn với mục đích nhận thức sâu sắc hơn nữa mối quan hệ biện chứng giữa tính cách mạng và tính khoa học trong CTTT và sự thể hiện của nó trong CTTT của Đảng ta (nhất là ở thời kỳ đổi mới). Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả CTTT theo hướng tăng cường mối quan hệ biện chứng giữa tính cách mạng và tính khoa học, để công tác này góp phần thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta hiện nay. Để thực hiện mục đích trên, luận án có nhiệm vụ là: - Đứng trên quan điểm mácxít, làm rõ nội hàm các khái niệm "tư tưởng", "công tác tư tưởng", "tính cách mạng của CTTT", "tính khoa học 5 của CTTT", mối quan hệ giữa tính cách mạng và tính khoa học trong CTTT; chỉ ra cấu trúc, vai trò, chức năng của các khái niệm đó. - Làm rõ thực trạng mối quan hệ biện chứng (chủ yếu là sự thống nhất biện chứng) giữa tính cách mạng và tính khoa học trong CTTT của Đảng ta từ đổi mới đến nay; phân tích những nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó; rút ra bài học chính cho CTTT nhìn từ mối quan hệ này.

- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường mối quan hệ biện chứng giữa tính cách mạng và tính khoa học trong CTTT của Đảng ta hiện nay.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Quan hệ biện chứng giữa tính cách mạng và khoa học trong công tác tư tưởng (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/tai-lieu-khac/quan-he-bien-chung-giua-tinh-cach-mang-va-khoa-hoc-trong-cong-tac-tu-tuong

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Quan hệ biện chứng giữa tính cách mạng và khoa học trong công tác tư tưởng" nghiên cứu về vấn đề gì?

Nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa cách mạng và khoa học. Khám phá cách kết hợp này định hình, nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng.

Luận án "Quan hệ biện chứng giữa tính cách mạng và khoa học trong công tác tư tưởng" có bao nhiêu trang?

Luận án "Quan hệ biện chứng giữa tính cách mạng và khoa học trong công tác tư tưởng" có 195 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Quan hệ biện chứng giữa tính cách mạng và khoa học trong công tác tư tưởng" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter