Luận án tiến sĩ: Phát triển lực lượng sản xuất ở miền núi phía Bắc nước ta hiện nay
Luận án: Luận án tiến sĩ vấn đề phát triển lực lượng sản xuất ở miền núi phía bắc nước ta hiện nay. Xem tóm tắt và tải về tại LuanAn.net
Số trang
186
Thời gian đọc
28 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Tầm quan trọng phát triển lực lượng sản xuất xã hội
- Số trang:
- 186 trang
- Chuyên ngành:
- Triết học
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Tầm quan trọng phát triển lực lượng sản xuất xã hội
Sự vận động và phát triển của xã hội loài người do sản xuất xã hội quyết định. Lực lượng sản xuất giữ vai trò tiên quyết. Thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội đòi hỏi phát triển lực lượng sản xuất. Sau 30 năm Đổi Mới, Việt Nam đạt thành tựu to lớn. Đất nước đủ vững mạnh cho giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mục tiêu là trở thành nước công nghiệp cơ bản. Xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh. Giai đoạn mới đòi hỏi lực lượng sản xuất phát triển nhanh hơn. Bối cảnh toàn cầu hóa và kinh tế tri thức tạo áp lực. Phát triển lực lượng sản xuất song song với cải tạo quan hệ sản xuất là tất yếu. Đây là yêu cầu khách quan với nhiều thách thức.
1.1. Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là yếu tố tiên quyết. Yếu tố này quyết định sự vận động xã hội. Mọi biện pháp phát triển đều tập trung vào nó. Đó là nền tảng cho sự tiến bộ của đất nước.
1.2. Mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Việt Nam đang đẩy mạnh công nghiệp hóa. Mục tiêu là hiện đại hóa đất nước. Nước ta hướng tới thành nước công nghiệp. Mục tiêu dân giàu, nước mạnh được đặt ra. Đây là tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng.
1.3. Yếu tố nền tảng cho chất lượng sản xuất mới
Phát triển các yếu tố cơ bản là trọng tâm. Nguồn nhân lực, khoa học, kỹ thuật, công nghệ được chú trọng. Mục tiêu là tạo ra chất lượng mới. Những năm gần đây đã thu được thắng lợi đáng kể.
II. Cấp bách phát triển lực lượng sản xuất miền núi phía Bắc
Sự phát triển giữa các vùng trong nước không đồng đều. Khoảng cách giữa các khu vực còn lớn. Miền núi chiếm 3/4 diện tích tự nhiên. Tuy nhiên, vùng này có chỉ số phát triển thấp. Mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ thành công. Điều đó xảy ra khi giảm khoảng cách này. Giảm khoảng cách với đồng bằng, thành thị là cần thiết. Miền núi phía Bắc là khu vực chậm phát triển. Vùng này gắn liền với lịch sử dân tộc. Nguyên nhân sâu xa là lực lượng sản xuất yếu kém. Lạc hậu về nhiều mặt đang gây khó khăn. Không chỉ cho địa phương mà còn cho cả nước. Tình trạng này không thể kéo dài mãi.
2.1. Khoảng cách phát triển vùng miền còn lớn
Các vùng, khu vực trong nước chưa đồng đều. Một khoảng cách lớn vẫn tồn tại. Vùng miền núi có chỉ số phát triển thấp. Đây là một thách thức lớn.
2.2. Miền núi phía Bắc Vùng chậm phát triển
Miền núi phía Bắc là khu vực lịch sử. Hiện tại, đây là vùng chậm phát triển. Lực lượng sản xuất yếu kém gây ra điều này. Sự lạc hậu ảnh hưởng nhiều mặt.
2.3. Hậu quả của lực lượng sản xuất yếu kém
Lực lượng sản xuất yếu gây khó khăn. Không chỉ cho địa phương miền núi. Nó còn cản trở sự phát triển chung của cả nước. Cần thay đổi nhanh chóng tình trạng này.
III. Hiện trạng lực lượng sản xuất vùng núi phía Bắc
Sự lạc hậu về lực lượng sản xuất là rõ rệt. Nó ảnh hưởng đến các địa phương miền núi. Đồng bào các dân tộc thiểu số cũng chịu ảnh hưởng. Điều này gây khó khăn cho phát triển. Không chỉ khu vực mà còn cho sự đi lên chung của đất nước. Vấn đề cấp thiết là đẩy nhanh sự phát triển. Điều này không chỉ giảm bất bình đẳng. Nó còn thúc đẩy phát triển chung của cả nước. Muốn phát triển, cần tập trung lực lượng sản xuất. Cần tìm ra các giải pháp hữu hiệu. Cần có con đường, bước đi, khâu đột phá thích hợp. Lực lượng sản xuất khu vực này phải phát triển nhanh hơn.
3.1. Thực trạng lạc hậu nhiều mặt trong sản xuất
Lực lượng sản xuất khu vực miền núi lạc hậu. Sự yếu kém thể hiện ở nhiều khía cạnh. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống.
3.2. Ảnh hưởng đến sự phát triển chung của đất nước
Sự yếu kém của miền núi gây khó khăn. Không chỉ địa phương chịu ảnh hưởng. Nó còn cản trở đà phát triển chung. Sự đi lên của đất nước đòi hỏi thay đổi.
3.3. Yêu cầu bức thiết từ thực tiễn phát triển
Đẩy nhanh phát triển miền núi là cấp thiết. Nó giảm bớt sự bất bình đẳng. Nó cũng đẩy nhanh phát triển cả nước. Cần có giải pháp hiệu quả ngay lập tức.
IV. Giải pháp thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất vùng
Phát triển lực lượng sản xuất là con đường duy nhất. Cần nhanh chóng tìm ra giải pháp hiệu quả. Các con đường, bước đi, khâu đột phá phải phù hợp. Mục tiêu là lực lượng sản xuất khu vực phát triển nhanh hơn. Công việc này mang ý nghĩa chính trị to lớn. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh phức tạp. Đại hội VIII và Đại hội IX của Đảng đặc biệt quan tâm. Đây là nhiệm vụ vừa bức xúc, vừa lâu dài. Tất cả các ngành, các cấp phải hoạt động. Giới khoa học xã hội cũng cần tham gia. Triết học cần giải quyết nhiệm vụ lý luận, thực tiễn này.
4.1. Tập trung phát triển lực lượng sản xuất cốt lõi
Phát triển phải tập trung vào lực lượng sản xuất. Đây là nguyên tắc không thể thay đổi. Cần ưu tiên các yếu tố cơ bản nhất.
4.2. Tìm kiếm các giải pháp hữu hiệu và đột phá
Các giải pháp hiệu quả cần được tìm ra. Con đường, bước đi phải thích hợp. Cần có khâu đột phá chiến lược. Mục tiêu là tăng tốc độ phát triển.
4.3. Ý nghĩa chính trị to lớn của nhiệm vụ phát triển
Công việc này có ý nghĩa chính trị lớn. Nó quan trọng trong tình hình phức tạp. Đại hội Đảng liên tục quan tâm đến vấn đề này. Đây là nhiệm vụ cấp bách và lâu dài.
V. Tổng quan nghiên cứu về lực lượng sản xuất Việt Nam
Lực lượng sản xuất là nội dung cơ bản của học thuyết Mác. Tuy nhiên, nó chứa đựng nhiều vấn đề tranh cãi. Quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất được nghiên cứu. Nhiều khía cạnh đã được quan tâm trong và ngoài nước. Ở Liên Xô, nhiều nhà khoa học nghiên cứu sâu. Họ ứng dụng quy luật vào xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhiều vấn đề lý luận đã được giải quyết. Nhưng thực tiễn còn nhiều câu hỏi. Đặc biệt là từ giữa những năm 80. Chế độ xã hội chủ nghĩa ở một số nước lâm vào khủng hoảng.
5.1. Lực lượng sản xuất trong học thuyết C. Mác
Đây là nội dung cơ bản của học thuyết Mác. Nó quan trọng trong chủ nghĩa duy vật lịch sử. Tuy nhiên, có nhiều vấn đề vẫn gây tranh cãi. Vai trò của nó luôn được thảo luận.
5.2. Nghiên cứu quốc tế về quan hệ sản xuất
Nhiều nhà khoa học Liên Xô nghiên cứu sâu. Họ tập trung vào lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất cũng được xem xét. Quy luật này được ứng dụng xây dựng chủ nghĩa xã hội.
5.3. Bài học kinh nghiệm từ Việt Nam về phát triển
Đảng Cộng sản Việt Nam rất chú ý nghiên cứu. Nhiều bài học đã được rút ra. Cần tôn trọng quy luật khách quan. Sai lầm do tuyệt đối hóa công nghiệp nặng đã được phân tích.
VI. Ý nghĩa chính trị của phát triển miền núi phía Bắc
Việc phát triển lực lượng sản xuất ở miền núi phía Bắc là một nhiệm vụ quan trọng. Nhiệm vụ này có ý nghĩa bức xúc. Đồng thời, nó mang ý nghĩa lâu dài. Hoạt động này liên quan đến tất cả các ngành, các cấp. Giới khoa học xã hội cũng đóng vai trò quan trọng. Triết học cần quan tâm giải quyết nhiệm vụ này. Đây là một nhiệm vụ thực tiễn và lý luận. Đề tài luận án đã được chọn để giải quyết vấn đề này. Điều này chứng tỏ sự nhìn nhận nghiêm túc đối với khu vực miền núi phía Bắc.
6.1. Nhiệm vụ bức xúc và lâu dài của phát triển
Phát triển miền núi là cấp thiết. Nó cũng là một nhiệm vụ dài hạn. Yêu cầu này đặt ra cho nhiều lĩnh vực. Cần có sự phối hợp đồng bộ.
6.2. Quan tâm của Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng đặc biệt quan tâm đến vấn đề này. Nghị quyết Đại hội VIII và IX đã đề cập. Đây là sự khẳng định tầm quan trọng chính trị.
6.3. Sự tham gia của khoa học xã hội và triết học
Giới khoa học xã hội cần tham gia. Triết học cũng có trách nhiệm. Giải quyết nhiệm vụ thực tiễn, lý luận là cần thiết. Luận án đã chọn đề tài này để nghiên cứu.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (186 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộTính cấp bách của đề tài Theo quan điểm duy vật lịch sử, sự vận động và phát triển của xã hội loài người, xét đến cùng, do sản xuất xã hội quyết định, trong đó lực lượng sản xuất là yếu tố giữ vai trò tiên quyết. Vì vậy, để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, mọi con đường, mọi biện pháp đều phải dẫn đến thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sau 30 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, đất nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đã đạt được những thành tựu "rất to lớn và rất quan trọng", thế và lực của đất nước đã đủ vững mạnh để chuyển sang một giai đoạn cách mạng mới, giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhằm mục tiêu sớm đưa đất nước về cơ bản trở thành một nước công nghiệp, từng bước hiện thực hóa lý tưởng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh như tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã đề ra. Vào giai đoạn mới, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và kinh tế tri thức, lực lượng sản xuất của đất nước cần phải phát triển nhanh hơn so với trước đây.
Việc phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất đồng thời từng bước cải tạo quan hệ sản xuất sao cho phù hợp trình độ phát triển mới của nó là một yêu cầu tất yếu khách quan với những khó khăn và thách thức rất lớn. Chúng ta đang chú trọng phát triển các yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất như nguồn nhân lực, khoa học, kỹ thuật và công nghệ. nhằm tạo ra một chất lượng mới cho lực lượng sản xuất, và trên thực tế, những năm gần đây, chúng ta đã thu được những thắng lợi đáng kể. Tuy nhiên, sự phát triển của các vùng, các khu vực trong nước vẫn chưa đồng 2 đều và còn một khoảng cách tương đối lớn.
Khu vực miền núi mặc dù chiếm đến 3/4 diện tích tự nhiên cả nước, nhưng lại là vùng có các chỉ số phát triển thấp và rất thấp. Trong giai đoạn cách mạng mới, mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ chỉ thực sự thành công khi chúng ta làm giảm được khoảng cách phát triển giữa khu vực này với khu vực đồng bằng và thành thị. Như đã biết, miền núi phía Bắc nước ta là khu vực có các địa danh gắn liền với lịch sử vinh quang của dân tộc và của cách mạng, nhưng hiện lại là khu vực chậm phát triển. Nguyên nhân sâu xa của sự chậm phát triển đó nằm ở thực trạng yếu kém của lực lượng sản xuất.
Sự lạc hậu về nhiều mặt, trước hết là về lực lượng sản xuất của khu vực miền núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số nước ta, đang gây khó khăn cho sự phát triển không chỉ của các địa phương đó mà còn gây khó khăn cho sự phát triển chung của cả nước. Sự đi lên của đất nước đòi hỏi không thể kéo dài mãi tình trạng đó. Vấn đề cấp thiết đặt ra là phải đẩy nhanh sự phát triển của các địa phương này, không những để giảm bớt sự bất bình đẳng mà còn để đẩy nhanh sự phát triển chung của cả nước. Muốn phát triển thì không có cách nào khác hơn là phải tập trung phát triển lực lượng sản xuất.
Cần phải nhanh chóng tìm ra các giải pháp hữu hiệu cho công việc này, với những con đường, bước đi, khâu đột phá thích hợp để lực lượng sản xuất khu vực này phát triển nhanh hơn. Đây cũng là công việc có ý nghĩa chính trị hết sức to lớn trong bối cảnh phức tạp của tình hình đất nước và quốc tế, mà liên tục được Đại hội VIII và Đại hội IX của Đảng ta đặc biệt quan tâm [21], [23]. Vì vậy, đây là nhiệm vụ vừa có ý nghĩa bức xúc vừa có ý nghĩa lâu dài đối với hoạt động của tất cả các ngành, các cấp, trong đó có giới khoa học xã hội. Nhận thấy triết học cần phải quan tâm giải quyết nhiệm vụ thực tiễn và lý luận quan trọng này, chúng tôi chọn "Vấn đề phát triển lực lượng 3 sản xuất ở miền núi phía Bắc nước ta hiện nay" làm đề tài luận án của mình.
Tình hình nghiên cứu đề tài Lực lượng sản xuất và vai trò của nó trong sự phát triển là một trong những nội dung cơ bản và quan trọng của học thuyết C. Mác về hình thái kinh tế - xã hội, nhưng cũng là nội dung chứa đựng nhiều vấn đề còn gây tranh cãi trong hệ thống các tri thức về chủ nghĩa duy vật lịch sử. Từ nhiều năm nay, lực lượng sản xuất và quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất đã được quan tâm nghiên cứu từ nhiều khía cạnh khác nhau ở cả trong và ngoài nước. Ở Liên xô và một số nước xã hội chủ nghĩa trước đây, nhiều nhà khoa học đã có những nghiên cứu khá sâu về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và ứng dụng quy luật này vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Nhiều vấn đề lý luận đã được giải quyết. Nhưng cũng còn nhiều vấn đề thực tiễn chưa có câu trả lời, đặc biệt là từ giữa những năm 80 trở lại đây, khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở một số nước lâm vào khủng hoảng. Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về lực lượng sản xuất trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa đã được Đảng ta hết sức chú ý. Từ nhiều năm trước đây, những bài học về sự cần thiết phải tôn trọng quy luật khách quan, về những sai lầm do quá nhấn mạnh ý nghĩa mở đường của các quan hệ sản xuất, do sự tuyệt đối hóa vai trò của công nghiệp nặng.
đã được phân tích và rút kinh nghiệm. Tuy vậy, với các công trình ở những năm trước đây, vấn đề đặt ra và cách giải quyết cũng có khác so với hiện nay, khi tình hình thế giới đã có nhiều thay đổi và đất nước ta đã bước vào một giai đoạn mới của sự phát triển. Khoảng hơn 15 năm gần đây, ở nước ta, đã có nhiều luận án tiến sĩ, trực tiếp bàn đến vấn đề này. Chẳng hạn, luận án của Nguyễn Tĩnh Gia - 4 nghiên cứu biểu hiện đặc thù của quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Qua đó, tác giả đã khái quát những định hướng cơ bản cho thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và đề xuất một số nhiệm vụ cụ thể để các yếu tố của quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển. Luận án của Hồ Anh Dũng - khai thác một yếu tố cụ thể của lực lượng sản xuất là yếu tố con người trong lực lượng sản xuất và việc phát huy yếu tố đó ở nước ta hiện nay. Qua công trình của mình, tác giả đã trình bày vấn đề con người trong nội dung của lực lượng sản xuất, phân tích đặc điểm của người lao động Việt Nam và đề xuất một số giải pháp để phát huy yếu tố này. Luận án của Đoàn Quang Thọ - nghiên cứu về nhận thức và vận dụng quy luật trong thời kỳ đổi mới và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Công trình đã nghiên cứu quá trình nhận thức và vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất trong trong thời kỳ đổi mới. Luận án của Trương Hữu Hoàn - tác giả đã xuất phát từ việc nhận thức và vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất ở một số nước xã hội chủ nghĩa, để làm rõ sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất và một số tiêu chuẩn để đánh giá sự phù hợp đó. Luận án của Trung Giang Vim - từ những đặc thù của một số tỉnh miền núi Tây Nguyên, tác giả đi tìm con đường cho sự phát triển ở vùng này là vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Tây Nguyên. Luận án của Bùi Chí Kiên - nghiên cứu quy luật này để ứng dụng phát triển nền kinh tế hàng hóa ở một tỉnh miền núi Tây Nguyên.
Trong luận án, tác giả làm rõ những yêu cầu của một tỉnh có nhiều tiềm năng, nhiều đặc thù "Tây Nguyên" nhất khi bắt đầu đón nhận cơ chế kinh tế mới. Luận án của Đoàn Văn Khái - nghiên cứu nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tác giả đã làm rõ khái niệm 5 nguồn lực con người và vai trò quyết định của nguồn lực con người trong so sánh với các nguồn lực khác của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và những năng lực, phẩm chất cần có của người lao động trong quá trình này. Có thể nhận xét rằng, với các công trình đã viết về lực lượng sản xuất và về quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, các tác giả đã khai thác những vấn đề theo hai hướng cơ bản. Thứ nhất, sự hoạt động của quy luật này trong từng thời kỳ, ở từng điều kiện, với từng khu vực địa lý cụ thể; thứ hai, đi sâu khai tác các yếu tố của lực lượng sản xuất, đặc biệt là yếu tố con người đã được nhiều công trình nghiên cứu, lý giải vai trò to lớn của nó và tìm cách phát huy vai trò đó.
Ở khuynh hướng thứ hai, chúng tôi thấy có nhiều công trình và bài viết phân tích vấn đề lực lượng sản xuất ở khu vực miền núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số với những đặc thù của khu vực này.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Phát triển lực lượng sản xuất ở miền núi phía Bắc (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/tai-lieu-khac/phat-trien-luc-luong-san-xuat-o-mien-nui-phia-bac
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Phát triển lực lượng sản xuất ở miền núi phía Bắc" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án: Luận án tiến sĩ vấn đề phát triển lực lượng sản xuất ở miền núi phía bắc nước ta hiện nay. Xem tóm tắt và tải về tại LuanAn.net
Luận án "Phát triển lực lượng sản xuất ở miền núi phía Bắc" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Phát triển lực lượng sản xuất ở miền núi phía Bắc" thuộc chuyên ngành Triết học. Danh mục: Tài liệu khác.
Luận án "Phát triển lực lượng sản xuất ở miền núi phía Bắc" có bao nhiêu trang?
Luận án "Phát triển lực lượng sản xuất ở miền núi phía Bắc" có 186 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Phát triển lực lượng sản xuất ở miền núi phía Bắc" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.