Luận án tiến sĩ y học - Nghiên cứu một số chỉ số đông máu của thai phụ tại trường Đại học Y Hà Nội
Nghiên cứu chuyên sâu các chỉ số đông máu ở thai phụ, đánh giá biến động và ý nghĩa lâm sàng. Phân tích tác động đến sức khỏe mẹ và bé.
Luan An
Luận án tiến sĩ y học
Năm xuất bản
Số trang
142
Thời gian đọc
22 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
40 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Thay đổi chỉ số đông máu thai kỳ: Tổng quan
- Số trang:
- 142 trang
- Trường:
- Trường Đại học Y Hà Nội
- Chuyên ngành:
- Sinh lý học
- Tác giả:
- Phan Thị Minh Ngọc
- Năm:
- 2018
Tóm tắt nội dung luận án
I. Thay đổi chỉ số đông máu thai kỳ Tổng quan
Thai kỳ mang lại nhiều thay đổi sinh lý. Hệ thống đông cầm máu biến đổi đáng kể để thích nghi. Những thay đổi này có thể dẫn đến biến chứng nguy hiểm. Cần hiểu rõ các biến đổi chỉ số đông máu thai kỳ. Việc này hỗ trợ theo dõi và xử lý kịp thời các bất thường.
1.1. Sinh lý đông máu ở thai phụ
Cầm máu là cơ chế hạn chế mất máu. Quá trình này có ba giai đoạn chính. Giai đoạn cầm máu thì đầu liên quan co mạch và tiểu cầu. Giai đoạn đông máu huyết tương tạo cục máu đông. Giai đoạn tiêu sợi huyết là quá trình tan cục máu đông. Mỗi giai đoạn đều có sự điều chỉnh trong thai kỳ.
1.2. Mục đích thay đổi đông máu thai kỳ
Cơ thể người mẹ chuẩn bị cho sinh nở. Đông máu tăng cường để giảm thiểu mất máu. Đây là cơ chế tự nhiên giảm nguy cơ xuất huyết sau sinh. Những thay đổi này đảm bảo sự phát triển an toàn của thai nhi.
1.3. Tiềm ẩn nguy cơ từ thay đổi đông máu
Các thay đổi sinh lý vẫn tiềm ẩn rủi ro. Rối loạn đông máu thai kỳ có thể xảy ra. Cần theo dõi chặt chẽ để phòng ngừa biến chứng. Các vấn đề nghiêm trọng có thể ảnh hưởng đến tính mạng mẹ và bé.
II. Vai trò xét nghiệm đông máu thai phụ tiền sản
Xét nghiệm đông máu thai phụ rất quan trọng. Chúng giúp đánh giá tình trạng đông cầm máu trước sinh. Việc này đặc biệt cần thiết cho thai phụ nguy cơ cao. Các chỉ số đông máu giúp điều chỉnh rối loạn kịp thời. Điều trị hiệu quả giảm biến chứng khi sinh.
2.1. Đánh giá nguy cơ rối loạn đông máu
Xét nghiệm giúp phát hiện sớm bất thường. Rối loạn đông máu thai kỳ có thể được nhận biết. Chuẩn bị kế hoạch xử lý phù hợp. Điều này giảm thiểu nguy cơ cho mẹ và bé.
2.2. Hỗ trợ chẩn đoán và điều trị biến chứng
Các xét nghiệm hỗ trợ chẩn đoán chính xác. Chúng định hướng phương pháp điều trị tối ưu. Đặc biệt quan trọng với các biến chứng chảy máu. Điều này bao gồm cả trong và sau khi sinh.
2.3. Xét nghiệm định kỳ cho thai phụ nguy cơ cao
Thai phụ tiền sản giật cần được theo dõi chặt. Phụ nữ mang thai sinh mổ cũng cần xét nghiệm. Các xét nghiệm này giúp dự phòng hiệu quả. Giảm thiểu rủi ro trong quá trình sinh nở.
III. Rối loạn đông máu thai kỳ Biến chứng nguy hiểm
Rối loạn đông máu thai kỳ là vấn đề nghiêm trọng. Chúng có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm. Trong đó, xuất huyết sau sinh là nguyên nhân hàng đầu. Biến chứng này chiếm tỷ lệ tử vong cao. Huyết khối thai kỳ cũng là một nguy cơ tiềm ẩn. Tầm soát và quản lý sớm rất cần thiết.
3.1. Xuất huyết sau sinh Nguyên nhân tử vong hàng đầu
Chảy máu sau đẻ rất nguy hiểm. Nó là nguyên nhân chính gây tử vong cho thai phụ. Định nghĩa là mất máu trên 500ml trong 24 giờ đầu. Tỷ lệ tử vong cao ở nhiều quốc gia. Xuất huyết sau sinh là biến chứng thường gặp trong sản khoa.
3.2. Nguy cơ huyết khối trong thai kỳ
Thai kỳ làm tăng nguy cơ hình thành huyết khối. Đây là biến chứng ít gặp hơn xuất huyết. Tuy nhiên, huyết khối có thể gây hậu quả nghiêm trọng. Cần theo dõi các dấu hiệu cảnh báo. Điều này giúp ngăn ngừa biến cố nguy hiểm.
3.3. Tầm soát biến chứng đông máu
Việc tầm soát giúp phát hiện sớm vấn đề. Các chỉ số đông máu thai kỳ cung cấp thông tin. Các rối loạn đông máu được điều chỉnh kịp thời. Giảm nguy cơ biến chứng trong quá trình mang thai và sinh. Đặc biệt ở những thai phụ có tiền sử.
IV. Nghiên cứu chuyên sâu chỉ số đông máu thai phụ
Nhiều nghiên cứu về chỉ số đông máu thai kỳ đã được thực hiện. Tuy nhiên, các nghiên cứu này còn hạn chế. Chúng thường chỉ mô tả đông máu trong một giai đoạn. Chưa có nghiên cứu đầy đủ suốt toàn bộ thai kỳ. Giá trị dự báo của các chỉ số cũng chưa được đề cập. Nghiên cứu mới nhằm lấp đầy khoảng trống này.
4.1. Khoảng trống trong nghiên cứu hiện có
Các công trình trước đây còn thiếu. Chưa mô tả toàn diện sự biến đổi. Sự thay đổi các chỉ số đông máu qua từng tam cá nguyệt chưa rõ. Điều này cần được làm rõ hơn để có cái nhìn toàn diện.
4.2. Mục tiêu nghiên cứu về chỉ số đông máu
Mục tiêu là mô tả đặc điểm chính. Các chỉ số đông máu của thai phụ qua các thai kỳ. Diễn biến của các chỉ số cũng được quan tâm. Mối tương quan với đặc điểm của thai phụ cũng cần phân tích sâu.
4.3. Các chỉ số đông máu quan trọng cần theo dõi
Nghiên cứu tập trung vào các chỉ số cơ bản. Ví dụ như PT, aPTT, fibrinogen thai phụ. D-dimer trong thai kỳ cũng là chỉ số quan trọng. Số lượng tiểu cầu ở thai phụ cũng được đánh giá kỹ lưỡng. Việc theo dõi toàn diện giúp cải thiện quản lý lâm sàng.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (142 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI PHAN THỊ MINH NGỌC NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ SỐ ĐÔNG MÁU CỦA THAI PHỤ LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC HÀ NỘI - 2018 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI ======== PHAN THỊ MINH NGỌC NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ SỐ ĐÔNG MÁU CỦA THAI PHỤ Chuyên ngành : Sinh lý học Mã số : 62720107 LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC Người hướng dẫn khoa học: 1. Phạm Quang Vinh 2. Lê Ngọc Hưng HÀ NỘI - 2018 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Thai nghén là giai đoạn sinh lý bình thường của người phụ nữ trong lứa tuổi sinh đẻ. Khi có thai cơ thể người phụ nữ có nhiều thay đổi về giải phẫu, sinh lý và sinh hóa để đáp ứng với các tác động do thai và phần phụ của thai gây ra.
Hệ thống tuần hoàn máu nói chung và hệ thống đông cầm máu nói riêng cũng có những thay đổi để đảm bảo điều hòa và phát triển của người mẹ và thai nhi. Tuy những biến đổi này có tính chất sinh lý song nó cũng có thể dẫn đến các biến chứng nguy hiểm ảnh hưởng đến sinh mạng của phụ nữ mang thai cũng như thai nhi [1]. Vì vậy việc tìm hiểu đầy đủ những thay đổi của cơ thể người mẹ trong quá trình mang thai, trong đó có các đặc điểm của hệ thống huyết học, sẽ giúp cho quá trình theo dõi thai nghén, xử trí bất thường trong thời kỳ mang thai được kịp thời, chính xác, tạo điều kiện cho thai nhi phát triển khỏe mạnh, an toàn. Trong sản khoa, cầm máu tốt đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong sự thành công của một cuộc sinh nở, giúp giảm thiểu tối đa các tai biến trong sản khoa đặc biệt là băng huyết sau khi sinh.
Chảy máu sau đẻ là một biến chứng thường gặp và rất nguy hiểm khi chuyển dạ, trong khi sinh và sau sinh, là nguyên nhân chính gây tử vong cho phụ nữ mang thai. Chảy máu sau đẻ được định nghĩa là chảy máu từ đường âm đạo với thể tích từ 500ml trở lên trong 24 giờ đầu tính từ lúc sinh con [2]. Biến chứng này chiếm tới 30% trong số các nguyên nhân gây tử vong cho phụ nữ mang thai ở châu Phi và châu Á [3]. Tỷ lệ tử vong do xuất huyết sau sinh của phụ nữ mang thai chiếm khoảng 3,4% ở Anh trong giai đoạn 2006-2008 [4] và 11,4% ở Mỹ trong giai đoạn 2006-2010 [5].
Ở Việt Nam, Thái Danh Tuyên khi nghiên cứu các chỉ số đông 2 cầm máu trong tan máu miễn dịch cũng đã cảnh báo các nhà sản khoa về các rối loạn đông máu thường gặp ở phụ nữ mang thai [6]. Các xét nghiệm đông cầm máu trước sinh từ lâu đã được sử dụng nhằm mục đích giúp điều chỉnh các rối loạn đông máu trước khi sinh, đặc biệt các rối loạn đông máu ở sản phụ có nguy cơ cao như sản phụ bị tiền sản giật và tất cả các phụ nữ mang thai sinh mổ. Xét nghiệm đông cầm máu cũng giúp chẩn đoán và điều trị các biến chứng chảy máu trong và sau khi sinh [7]. Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có nhiều tác giả như Liu XH, Jiang YM, Shi H và cộng sự [8], Cerneca F, Ricci G, Simeone R [9], Boehlen F và CS [10], Đoàn Thị Bé Hùng (2007) [11], Trần Thị Khảm (2008) [12], Hoàng Hương Huyền (2010) [7] nghiên cứu đặc điểm đông máu ở phụ nữ có thai.
Tuy nhiên, các nghiên cứu của các tác giả nói trên dừng lại nghiên cứu đông máu của một thai kỳ. Các nghiên cứu mô tả đầy đủ sự biến đổi các chỉ số đông cầm máu trong toàn bộ thời kỳ mang thai lại chưa được thực hiện. Đặc biệt, các nghiên cứu có giá trị dự báo của một số biến đổi các chỉ số xét nghiệm đông cầm máu trong suốt thời kỳ thai nghén và diễn biến sinh nở vẫn chưa được đề cập. Để góp phần làm rõ vấn đề này, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu một số chỉ số đông máu của phụ nữ mang thai” với các mục tiêu sau: 1.
Mô tả đặc điểm một số chỉ số đông máu của phụ nữ mang thai qua các thai kỳ. Mô tả diễn biến một số chỉ số đông máu qua các thai kỳ và mối tương quan với một số đặc điểm của phụ nữ mang thai. 3 Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sinh lý quá trình cầm máu Cầm máu là những cơ chế nhằm hạn chế hoặc ngăn cản sự mất máu khi thành mạch bị tổn thương.
Có nhiều cơ chế tham gia vào quá trình cầm máu hay người ta gọi là các giai đoạn cầm máu. Có ba giai đoạn của quá trình cầm máu là giai đoạn cầm máu thì đầu (bao gồm cơ chế co mạch tại chỗ và tạo nút tiểu cầu), giai đoạn đông máu huyết tương và giai đoạn tiêu sợi huyết (bao gồm co cục máu đông và tan cục máu đông). Giai đoạn cầm máu thì đầu Có hai cơ chế tham gia giai đoạn cầm máu ban đầu gồm co mạch tại chỗ và tạo nút tiểu cầu. Các yếu tố tham gia trong quá trình cầm máu thì đầu *Mạch máu: Về tổ chức học, nói chung mạch máu được tạo thành bởi 3 lớp vỏ đồng tâm gồm lớp nội mạc mạch máu, lớp dưới nội mạc, và lớp ngoại mạc [14].
* Tiểu cầu: Vùng ngoại vi của tiểu cầu gồm màng bào tương, hệ thống ống dẫn bề mặt, và hệ thống ống dẫn đậm đặc. Vùng bào tương của tiểu cầu có chứa nhiều protein giúp tiểu cầu thay đổi hình dạng, mọc giả túc, di động và tiết các hạt. Hai protein chính của hệ thống co rút là actin và myosin. Các hạt nội tiểu cầu gồm hạt đặc chứa can xi cũng như serotonin và các hạt nucleotid.
Các hạt α chứa nhiều protein. Các protein huyết tương được chứa nhiều trong hạt α là protein dính (fibrinogen, yếu tố von Willebrand, fibronectin, thrombospondin), các protein đông máu (fibrinogen, yếu tố V) và các protein tiêu fibrin (ức chế hoạt hóa plasminogen, PAI-1).1: Sơ đồ cấu trúc tiểu cầu *Các protein bám dính: Yếu tố von Willebrand (vWF) là glycoprotein trọng lượng phân tử cao. Yếu tố này được sinh ra ở tế bào nội mạc (70%) và mẫu tiểu cầu (30%), nó được tích trữ trong các tế bào nội mạc và trong các hạt α của tiểu cầu. vWF tuần hoàn trong huyết tương liên kết với yếu tố VIII.
vWF đảm bảo cho tiểu cầu dính với tổ chức dưới nội mạc [15]. * Fibrinogen: Là chất trung gian chính cho sự ngưng tụ tiểu cầu (NTTC), fibrinogen tạo “cầu nối” giữa hai tiểu cầu bằng cách gắn lần lượt trên các glycoprotein IIb/IIIa. Cơ chế cầm máu thì đầu Xảy ra ngay khi thành mạch bị tổn thương, lớp dưới nội mạc bị bộc lộ. Tiểu cầu dính vào lớp dưới nội mạc với sự có mặt của vWF và receptor GPIb trên bề mặt tiểu cầu.
Tiểu cầu dính vào tổ chức dưới nội mạc, chúng giải phóng ra các sản phẩm ADP, serotonin, epinephrine và các dẫn suất của prostaglandin, đặc biệt là thromboxan A2. Một số sản phẩm này thúc đẩy quá trình ngưng tập tiểu 5 cầu. Các tiểu cầu dính vào nhau, kết quả là hình thành nút tiểu cầu mà bắt đầu là sự kết dính tiểu cầu vào lớp dưới nội mạc. Nút tiểu cầu nhanh chóng lớn lên về mặt thể tích và sau một vài phút hoàn thành nút tiểu cầu chỗ mạch máu bị tổn thương.
Đây là quá trình phức tạp với phản ứng co mạch, kết dính tiểu cầu, phản ứng giải phóng, ngưng tập tiểu cầu và làm hoạt hóa quá trình đông máu. Thành mạch tổn thương Tiểu cầu Dính vào Collagen (Lớp dưới nội mạc mạch máu) ADP, Ca++, Mg++. Kết dính có hồi phục yếu tố tiểu cầu Thrombin TC Kết dính không hồi phục Thrombin huyết tương Đinh cầm máu (nút tiểu cầu) Hình 1.2: Sơ đồ giai đoạn cầm máu thì đầu [14] 6 1. Giai đoạn đông máu huyết tương 1.
Các yếu tố tham gia đông máu huyết tương Bảng 1.1: Các yếu tố tham gia đông máu huyết tương[15] Yếu tố đông máu Chức năng Nơi sản xuất Nửa đời sống I (fibrinogen) Cơ chất Tế bào gan 90 giờ Mẫu tiểu cầu II (prothrombin) Zymogen Tế bào gan 60 giờ V (proaccelerin) Đồng yếu tố Tế bào gan 12 – 36 giờ Mẫu tiểu cầu VII (proconvertin) Zymogen Tế bào gan 4 – 6 giờ VIII (yếu tố chống Đồng yếu tố Tế bào gan 12 giờ hemophilia A) IX (yếu tố chống Zymogen Tế bào gan 24 giờ hemophilia B) X (yếu tố Stuart) Zymogen Tế bào gan 24 giờ XI (yếu tố Rosenthal) Zymogen Tế bào gan 40 giờ XII (hageman) Zymogen Tế bào gan 48 – 52 giờ XIII (yếu tố ổn định sợi huyết) Zymogen Tế bào gan 3 – 5 ngày Prekallikrein (yếu tố Zymogen Tế bào gan 48 – 52 giờ fletcher) HMWK - Kininogen trọng Đồng yếu tố Tế bào gan 6,5 ngày lượng phân tử cao (yếu tố fitzgerald) 7 1. Các nhóm yếu tố tham gia đông máu huyết tương.[13-15] - Nhóm yếu tố tham gia vào giai đoạn đầu (giai đoạn tiếp xúc) được gọi chung là các yếu tố tiếp xúc, đó là yếu tố XI, XII, prekallikrein, và kininogen trọng lượng phân tử cao. Các yếu tố thuộc nhóm này có đặc tính không phụ thuộc vitamin K khi tổng hợp, không phụ thuộc Ca++ trong quá trình hoạt hóa, ổn định tốt trong huyết tương lưu trữ và là những yếu tố bền vững. - Nhóm prothrombin gồm các yếu tố II, VII, IX, và X.
Đây là các yếu tố phụ thuộc vitamin K khi tổng hợp, cần có Ca++ trong quá trình hoạt hóa. - Nhóm fibrinogen gồm các yếu tố I, V, VIII và XIII. Thrombin có tác dụng qua lại với tất cả các yếu tố này. Các yếu tố trong nhóm fibrinogen bị tiêu thụ trong quá trình đông máu, riêng yếu tố V và yếu tố VIII còn bị mất hoạt tính trong huyết tương lưu trữ.
- Yếu tố tổ chức: sự tiếp xúc của máu với tổ chức dập nát sẽ phát động quá trình đông máu, chất khởi phát là một lipoprotein được gọi là TF (tissue factor, yếu tố tổ chức) hay thromboplastin ngoại sinh. TF không có hoạt tính men nhưng tác động như một đồng yếu tố trong hoạt hóa yếu tố VII và X. - Ion can-xi: ion can-xi tạo thuận lợi cho các protein phụ thuộc vitamin K kết hợp với phospholipid. Giai đoạn đông máu huyết tương Quá trình đông máu huyết tương có thể chia thành 3 thời kỳ: - Hình thành thromboplastin hoạt hóa (phức hợp prothrombinase) bằng 2 con đường nội sinh và ngoại sinh.
- Hình thành thrombin - Hình thành fibrin 8 Hình 1.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Phan Thị Minh Ngọc (2018). Nghiên cứu chỉ số đông máu ở thai phụ [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Y Hà Nội]. LuanAn.net. https://luanan.net/tai-lieu-khac/nghien-cuu-chi-so-dong-mau-o-thai-phu
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Nghiên cứu chỉ số đông máu ở thai phụ" nghiên cứu về vấn đề gì?
Nghiên cứu chuyên sâu các chỉ số đông máu ở thai phụ, đánh giá biến động và ý nghĩa lâm sàng. Phân tích tác động đến sức khỏe mẹ và bé.
Luận án "Nghiên cứu chỉ số đông máu ở thai phụ" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Y Hà Nội. Năm bảo vệ: 2018.
Luận án "Nghiên cứu chỉ số đông máu ở thai phụ" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Nghiên cứu chỉ số đông máu ở thai phụ" thuộc chuyên ngành Sinh lý học. Danh mục: Tài liệu khác.
Luận án "Nghiên cứu chỉ số đông máu ở thai phụ" có bao nhiêu trang?
Luận án "Nghiên cứu chỉ số đông máu ở thai phụ" có 142 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Nghiên cứu chỉ số đông máu ở thai phụ" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.