Luận án tiến sĩ vấn đề giảm nghèo trong nền kinh tế thị trường hiện nay
Luận án tiến sĩ nghiên cứu sâu về vấn đề giảm nghèo bền vững trong bối cảnh kinh tế thị trường. Đề xuất các giải pháp chính sách hiệu quả.
Luan An
Luận án tiến sĩ
Số trang
103
Thời gian đọc
16 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
40 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- Bối cảnh lịch sử nghèo đói tại Việt Nam qua các thời kỳ
- Số trang:
- 103 trang
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I.Bối cảnh lịch sử nghèo đói tại Việt Nam qua các thời kỳ
Luận án tiến sĩ này khám phá thực trạng nghèo ở Việt Nam. Vấn đề giảm nghèo không chỉ xuất hiện với kinh tế thị trường. Nó có mặt trong các xã hội phân chia giai cấp. Lịch sử Việt Nam ghi nhận nghèo đói qua nhiều thời kỳ. Xã hội phong kiến, thực dân đã chứng kiến phân hóa giàu nghèo. Nghiên cứu đặt vấn đề giảm nghèo vào bối cảnh lịch sử. Nhận diện nguyên nhân gốc rễ là cần thiết. Đây là bước đầu để xây dựng chính sách giảm nghèo hiệu quả. Hiểu rõ quá khứ giúp định hình tương lai phát triển bền vững.
1.1. Thực trạng nghèo đói trước kinh tế thị trường
Trước Đổi mới (1986), trên 70% dân số Việt Nam ở trong tình trạng nghèo đói. Đây là vấn đề gay gắt. Nó đặt ra nhiệm vụ lớn cho Đảng và Nhà nước. Nền kinh tế lạc hậu, chiến tranh kéo dài. Mô hình kinh tế tập trung, bình quân, bao cấp được áp dụng. Mô hình này có tác dụng tích cực trong giải phóng đất nước. Tuy nhiên, việc kéo dài gây ra nhiều nhược điểm. Nó che giấu thực tế nghèo đói. Quan niệm sai lệch về nghèo đói tồn tại. Việc nhìn nhận khách quan, khoa học còn hạn chế.
1.2. Nghèo đói trong các xã hội phong kiến và thực dân
Nghèo đói không phải hiện tượng mới. Nó đã có từ lâu trong lịch sử Việt Nam. Xã hội phong kiến và thực dân thống trị đã có nghèo đói. Phân hóa giàu nghèo đã xảy ra. Nông dân nông thôn thường rơi vào cảnh nghèo đói. Đây là đặc trưng điển hình. Nét đặc trưng này vẫn tiếp tục hiện hữu. Nó phản ánh trình độ phát triển kinh tế thấp. Giải quyết vấn đề này đòi hỏi nỗ lực xóa đói giảm nghèo toàn diện.
II.Nghèo đói đặc trưng của nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam
Nghèo đói ở Việt Nam gắn liền với nền nông nghiệp lạc hậu. Cơ cấu kinh tế thuần nông lệ thuộc tự nhiên. Trình độ phân công lao động thấp. Phương thức sản xuất cổ truyền, thô sơ phổ biến. Đây là thực tế cần thay đổi. Thúc đẩy phát triển nông thôn là yếu tố then chốt. Nâng cao năng suất lao động là yêu cầu cấp thiết. Điều này góp phần vào giảm nghèo bền vững. Nó cũng giúp giảm bất bình đẳng thu nhập.
2.1. Nông thôn và nghèo đói Một nét đặc trưng cố hữu
Nghèo đói kinh tế của nông dân là đặc trưng nổi bật. Nó phổ biến ở nông thôn Việt Nam trước đây và hiện nay. Điều này phản ánh rõ trình độ phát triển kinh tế. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp còn yếu kém. Nó lệ thuộc nặng nề vào tự nhiên. Cần có giải pháp phát triển nông thôn toàn diện. Chính sách giảm nghèo cần tập trung vào khu vực này. Đây là chìa khóa để đạt được tăng trưởng kinh tế bao trùm.
2.2. Hạn chế của cơ cấu kinh tế và thị trường sơ khai
Kinh tế hàng hóa ở Việt Nam còn ở trình độ thấp. Kinh tế thị trường mới sơ khai. Nhiều vùng nghèo, vệt nghèo còn tự cung tự cấp. Thị trường chưa phát triển đồng bộ. Cơ cấu loại hình thị trường chưa hoàn chỉnh. Điều này cản trở xóa đói giảm nghèo. Nó gây ra bất bình đẳng thu nhập đáng kể. Phát triển thị trường lao động hiệu quả là cần thiết.
2.3. Chậm phát triển Dấu ấn của nước nông nghiệp lạc hậu
Nghèo đói ở Việt Nam nằm trong phạm vi của một nước nông nghiệp lạc hậu. Đất nước chậm phát triển. Quá trình chuyển mình sang xã hội công nghiệp lâu dài, khó khăn. Yêu cầu tăng trưởng kinh tế bao trùm. Cần đảm bảo công bằng trong quá trình này. Giảm nghèo bền vững là mục tiêu hàng đầu. Tiếp cận nghèo đa chiều giúp nhận diện đúng bản chất. Chính sách giảm nghèo cần linh hoạt, phù hợp.
III.Tình trạng nghèo đói dưới mô hình kinh tế tập trung bao cấp
Mô hình kinh tế hiện vật, tập trung, bình quân bao cấp có nghèo đói. Đặc trưng nổi bật là nghèo dai dẳng, kéo dài. Cấp độ nghèo lớn. Đại đa số dân cư rơi vào tình trạng thiếu hụt. Nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng rất hạn chế. Đây là giai đoạn khó khăn của lịch sử kinh tế Việt Nam. Nó đặt nền tảng cho sự thay đổi sau này. Chính sách an sinh xã hội thời kỳ này còn rất sơ khai.
3.1. Nghèo dai dẳng cấp độ lớn Thực tế thời bao cấp
Thời kỳ bao cấp, nghèo đói tồn tại dai dẳng. Mức độ nghèo bao trùm diện rộng. Nhiều người chỉ đủ sống. Các nhu cầu cơ bản bị giới hạn. Đây không phải do lười lao động. Đó là hậu quả của cơ chế. Cơ chế không khuyến khích sản xuất. Nó kìm hãm sự phát triển. Điều này làm trầm trọng thêm tình trạng nghèo đói.
3.2. Quan niệm sai lệch về nghèo đói trong chủ nghĩa xã hội
Thời kỳ này, nghèo đói dường như không được nhìn nhận đúng. Quan niệm trước đây cho rằng chủ nghĩa xã hội không thể có nghèo đói. Nó chỉ có trong xã hội tư bản. Cách đánh giá nghèo đói méo mó, thiếu khách quan. Điều này cản trở giải quyết vấn đề. Nó làm chậm quá trình xóa đói giảm nghèo. Thiếu nhận thức đúng dẫn đến thiếu chính sách phù hợp.
3.3. Hậu quả của mô hình kinh tế tập trung bình quân
Mô hình kinh tế tập trung, bình quân kìm hãm cạnh tranh kinh tế. Nó không mở rộng thị trường. Nhu cầu kinh doanh không nảy nở. Sự tháo vát, năng động không được thúc đẩy. Con người tìm kiếm vị thế xã hội thuận lợi. Hưởng bao cấp ưu đãi của nhà nước là mục tiêu. Điều này dẫn đến trì trệ kéo dài. Nó góp phần vào khủng hoảng kinh tế - xã hội những năm 80.
IV.Nguyên nhân sâu xa của nghèo đói Động lực và cơ chế
Nghèo đói thời bao cấp mang ý nghĩa phản phát triển. Nó là hệ quả của sự kìm hãm. Sức sản xuất xã hội bị trói buộc. Năng lực sản xuất của con người bị hạn chế. Sự lệch chuẩn các thước đo giá trị xảy ra. Quy luật lợi ích, quy luật phân phối bị vi phạm. Đây là những nguyên nhân cốt lõi. Chúng gây ra tình trạng trì trệ kinh tế kéo dài. Hiểu rõ nguyên nhân giúp định hình chính sách giảm nghèo hiệu quả.
4.1. Thiếu động lực kinh tế cá nhân và sáng tạo
Cơ chế cũ không dựa trên động lực là lợi ích kinh tế cá nhân. Các năng lực tiềm tàng bị mai một. Chúng không được bộc lộ, phát triển. Xã hội rơi vào tình trạng trì trệ kéo dài. Khủng hoảng kinh tế - xã hội những năm 80 trầm trọng hơn. Giàu có không phải là kết quả tự nhiên của nỗ lực sản xuất, kinh doanh. Nó hướng vào tiêu dùng lãng phí.
4.2. Hệ lụy từ quan niệm và chính sách lệch chuẩn
Quan niệm về định hướng giá trị xã hội không khuyến khích làm giàu. Sản xuất kinh doanh bị hạn chế. Nhu cầu đổi mới, phát triển không được thúc đẩy. Giàu lên bằng con đường phi kinh tế xuất hiện. Tiêu dùng lãng phí là thực tế. Điều này làm suy yếu động lực phát triển. Nó ảnh hưởng tiêu cực đến chính sách giảm nghèo. Sự vi phạm quy luật lợi ích kinh tế là rõ rệt.
4.3. Khủng hoảng kinh tế xã hội những năm 80
Tình trạng trì trệ kéo dài dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội. Nghèo đói ở Việt Nam càng trở nên trầm trọng hơn. Nguyên nhân chính không phải do lười biếng. Nó do bị kìm hãm. Không có điều kiện và môi trường để thi thố các năng lực tiềm năng của con người. Cần đổi mới toàn diện để vượt qua. Đây là bài học kinh nghiệm quan trọng về chính sách giảm nghèo.
V.Vai trò kinh tế thị trường Chuyển đổi và thách thức giảm nghèo
Sự chuyển đổi sang kinh tế thị trường là tất yếu. Nó mở ra cơ hội giải quyết vấn đề nghèo đói. Tuy nhiên, thị trường sơ khai cũng có thách thức. Cần nhận diện đúng bản chất. Điều này quan trọng để xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nó giúp đảm bảo tăng trưởng kinh tế bao trùm. Mục tiêu là xóa đói giảm nghèo một cách bền vững. Cần xem xét cả nghèo đa chiều trong quá trình này.
5.1. Thách thức khi chuyển sang kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường ở Việt Nam chỉ mới sơ khai. Nhiều vùng vẫn còn ở hình thái kinh tế tự nhiên. Tự cung, tự cấp còn phổ biến. Thị trường chưa phát triển đồng bộ. Cơ cấu thị trường chưa hoàn chỉnh. Điều này tạo ra thách thức lớn cho xóa đói giảm nghèo. Nó cần giải pháp đồng bộ. Phát triển thị trường lao động hiệu quả là một ưu tiên.
5.2. Sự cần thiết của đổi mới và mở rộng thị trường
Chuyển đổi đòi hỏi đổi mới tư duy. Cần mở rộng thị trường. Phát triển kinh tế hàng hóa. Thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh. Tạo động lực kinh doanh. Điều này giúp phát huy năng lực con người. Nó là nền tảng cho tăng trưởng kinh tế. Từ đó, cải thiện an sinh xã hội. Giảm nghèo bền vững hơn. Chính sách giảm nghèo cần ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp và cá nhân sản xuất.
5.3. Tiềm năng và giới hạn của kinh tế thị trường sơ khai
Kinh tế thị trường mang lại tiềm năng phát triển. Tuy nhiên, nó cũng có giới hạn. Nó chưa thể giải quyết triệt để nghèo đa chiều. Đặc biệt ở các vùng khó khăn, nông thôn. Cần có chính sách hỗ trợ phù hợp. Cần điều tiết thị trường. Đảm bảo công bằng trong phân phối lợi ích. Điều này giúp tránh bất bình đẳng thu nhập gia tăng. Hướng tới một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (103 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộ59 THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN NGHÈO Ở VIỆT NAM 2. Thực trạng nghèo ở Việt Nam 2. Lịch sử vấn đề Nghèo đói không phải là hiện tượng chỉ đến khi có kinh tế thị trường, mở cửa, hoà nhập vào thế giới mới xuất hiện. Như ở chương 1 đã trình bày, nghèo đói có trong các xã hội đã phân chia giai cấp với sự phát triển của phân công lao động xã hội.
Đối với nước ta nghèo đói và phân hoá giàu nghèo đã từng xảy ra trong nhiều thời kỳ lịch sử xa xưa, trong các xã hội phong kiến thực dân thống trị và đô hộ. Nghèo đói kinh tế của nông dân ở nông thôn là một nét đặc trưng điển hình của nghèo đói ở Việt Nam trước đây. Hiện nay nét đặc trưng này vẫn tiếp tục hiện hữu. Nó phản ánh thực tế về trình độ phát triển kinh tế ở nước ta.
Rõ nhất là cơ cấu kinh tế nông nghiệp thuần nông lệ thuộc nặng nề vào tự nhiên, trình độ phân công lao động, chuyên môn hoá, xã hội hoá còn rất thấp, phương thức sản xuất, canh tác còn mang nặng tính cổ truyền, thô sơ. Nhìn phổ quát, kinh tế hàng hoá ở nước ta còn ở một trình độ thấp, kinh tế thị trường chỉ mới sơ khai, nhiều vùng nghèo, vệt nghèo vẫn còn ở hình thái kinh tế tự nhiên, tự cung, tự cấp. Thị trường chưa phát triển và thống nhất trong cả nước, cơ cấu loại hình thị trường còn chưa hoàn chỉnh. Do đó, nghèo đói ở nước ta nằm trong phạm vi, tính chất của nghèo đói ở một nước nông nghiệp lạc hậu, chậm phát triển đang từng bước chuyển mình một cách lâu dài và khó khăn sang hình thái phát triển của xã hội công nghiệp.
Ở thời kỳ kinh tế hiện vật cộng với mô hình kinh tế tập trung, bình quân bao cấp cũng có hiện tượng nghèo đói với hai đặc trưng nổi bật là nghèo dai dẳng kéo dài và nghèo có cấp độ lớn. Đại đa số dân cư xã hội trong thời kỳ này rơi vào tình trạng nghèo hoặc chỉ vừa đủ cho những sinh hoạt tiêu dùng vốn rất hạn chế về nhu cầu. Theo đánh giá của UNDP, trước đổi mới (1986) trên 70% 60 dân số Việt Nam ở vào tình trạng nghèo đói. Đây là vấn đề gay gắt đã và đang đặt ra cho Đảng, Nhà nước và nhân dân ta nhiệm vụ phải giải quyết.
Với một nền kinh tế lạc hậu, có chiến tranh, nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu là giải phóng đất nước, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã buộc chúng ta áp dụng mô hình kinh tế tập trung, bình quân và bao cấp. Mô hình kinh tế và cơ chế quản lý này - Theo quan điểm lịch sử cụ thể - có những mặt hợp lý, cần thiết và có tác dụng tích cực đã huy động sức người và của góp phần vào việc giải phóng đất nước. Tuy nhiên việc kéo dài những phương pháp cũ trong tình hình mới khi tình hình và điều kiện đã thay đổi làm bộc lộ nhiều nhược điểm của mô hình và cơ chế. Trong thời kỳ này nghèo đói dường như không được nhìn nhận như một tồn tại thực tế trong xã hội.
Bởi quan niệm trước đây trong chủ nghĩa xã hội không thể có nghèo đói. Nó chỉ có trong xã hội tư bản chủ nghĩa. Do đó cách nhìn nhận, đánh giá về nghèo đói ở đây có phần méo nó, thiếu khách quan và không khoa học. Với một nền kinh tế lạc hậu, chậm phát triển không thể không có nghèo đói.
Nguyên nhân nghèo đói trong thời kỳ này không phải chủ yếu do lười lao động, tay nghề kém. Ở kinh tế hiện vật, bao cấp, bình quân không có cạnh tranh kinh tế, không mở rộng thị trường, không làm nảy nở nhu cầu kinh doanh, không hối thúc sự cần thiết phải tháo vát, năng động, có tài năng, phải đổi mới cách nghĩ, cách làm. Nó chỉ thúc đẩy con người đi theo các tiêu chí sao cho ở vào một vị thế xã hội thuận lợi, có điều kiện hưởng bao cấp ưu đãi của nhà nước. Hiện tượng lãi giả, lỗ thật của đa số các đơn vị kinh tế quốc doanh thời bao cấp là một thực tế vì không hạch toán đủ và đúng.
Giàu lên bằng con đường phi kinh tế để tiêu dùng lãng phí phi kinh tế cũng là một thực tế trong thời kỳ này. Do những ràng buộc và kìm hãm bởi quan niệm về định hướng những giá trị xã hội (không khuyến khích và thúc đẩy vươn tới làm giàu bằng sản xuất kinh doanh, không đổi mới và phát triển nhu cầu.) do chính sách và cơ chế (không dựa trên động 61 lực là lợi ích kinh tế của cá nhân người lao động, các năng lực tiềm tàng bị mai một đi không bộc lộ và phát triển được), xã hội rơi vào tình trạng trì trệ kéo dài dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội những năm 80 làm cho tình trạng nghèo đói ở nước ta càng trở nên trầm trọng hơn. Như vậy trên một ý nghĩa nào đó có thể rút ra nhận xét: xã hội ta ở thời kỳ bao cấp, bình quân ở trong tình trạng thiếu hụt động lực và các nhân tố kích thích phát triển. Giàu có không phải là kết quả tự nhiên của nỗ lực sản xuất, kinh doanh.
Giàu có hướng vào tiêu dùng chứ không tạo đà cho sản xuất và thúc đẩy sản xuất phát triển. Nghèo đói cũng không phải do lười biếng hoặc bị thua lỗ, phá sản trong cạnh tranh của sản xuất và kinh doanh mà chủ yếu là do bị kìm hãm không có điều kiện và môi trường để thi thố các năng lực tiềm năng của con người. Do đó có thể nói Nghèo đói trong thời kỳ bao cấp, bình quân mang ý nghĩa phản phát triển. Nó là hậu quả của sự kìm hãm, trói buộc sức sản xuất xã hội và năng lực sản xuất của nhân tố con người, của sự lệch chuẩn các thước đo giá trị trong đó có sự vi phạm qui luật lợi ích, qui luật phân phối lao động, không đảm bảo công bằng và bình đẳng xã hội.
Nhận rõ đặc điểm và những biểu hiện của giàu nghèo, nghèo đói trong thời kỳ này là cần thiết để thấy rõ sự khác biệt của nó so với nghèo đói trong thời kỳ đổi mới, mở cửa, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay. Nhờ đó có thể phân tích và tìm đúng những giải pháp để xử lý sao cho vẫn nhất quán với đường lối đổi mới, vẫn thúc đẩy sự phát triển chứ không lùi trở lại, tiếp tục những giải pháp và cơ chế cũ có tính kìm hãm. Có thể nói nền kinh tế tập trung với cơ chế bình quân, bao cấp đã làm cho quyền lực và các thang bậc (có tính đẳng cấp) trong hệ thống quyền lực chi phối tới hiện tượng giàu, nghèo. Song thực tế của hiện tượng này bị chìm đi, lắng xuống chứ không nổi lên trên bề mặt các lớp quan hệ xã hội.
Vì chế độ phân phối, cung cấp hiện vật bao cấp đã không hạch toán theo giá trị trong sản xuất lẫn trong tiêu dùng. Nó không tính đủ những đối tượng được ưu tiên, ưu đãi, khu vực kinh tế quốc doanh, các cấp bậc, chức vụ chức danh trong hệ thống quyền lực được hưởng đặc quyền đặc lợi. 62 Mặt khác trong thời kỳ này do chế độ bao cấp nên phúc lợi xã hội cũng mang tính chất bao cấp nặng nề, tràn lan và do nhà nước đảm nhận. Do vậy ở thời kỳ này, người nghèo sống chủ yếu dựa vào phúc lợi xã hội (thông qua bao cấp), gây tâm lý ỷ lại trông chờ vào nhà nước.
Đồng thời họ cũng mất đi tính chủ động và động lực phát triển vươn lên. Trong khi đó phúc lợi xã hội do nhà nước đảm nhận này vượt quá khả năng cho phép của nền kinh tế nên gây ra tình trạng nền kinh tế đang rơi vào bế tắc trong phát triển lại càng thêm bế tắc. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội vào những năm của thập kỷ 80. Tóm lại, trong thời kỳ kinh tế tập trung, bao cấp, do mô hình kinh tế và cơ chế kìm hãm sự phát triển của cá nhân và xã hội nên nghèo đói đã diễn ra rất trầm trọng, nặng nề, có tính phổ biến toàn xã hội và không tìm ra lối thoát.
Trên nền tảng của kinh tế chậm phát triển, cộng với mô hình và cơ chế này, các chính sách, giải pháp của nhà nước (mặc dù rất tích cực) và sự tương trợ giúp đỡ của cộng đồng xã hội nhằm giảm nghèo đói đều gặp rất nhiều hạn chế. Ví dụ với phần thặng dư của xã hội và cá nhân quá nhỏ bé, nhà nước và cộng đồng xã hội không thể có giải pháp giảm nghèo hữu hiệu. Đổi mới là bước ngoặt trong con đường phát triển ở Việt Nam. Và thực chất nó chính là đổi mới mô hình phát triển, chuyển mô hình kinh tế tập trung, bao cấp, khép kín sang kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Đây cũng chính là lời giải của bài toán về phát triểnvà giảm nghèo. Bước vào thời kỳ đổi mới, nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường đã mở ra những khả năng mới để giải phóng sức sản xuất xã hội và các năng lực sản xuất của từng cá nhân. Những nhân tố kìm hãm, trói buộc sự phát triển trước đây dần dần được khắc phục. Thị trường và cơ chế thị trường đã đòi hỏi và làm bộc lộ những yêu cầu liên quan tới sự phát triển kinh tế xã hội mà mỗi chủ thể sản xuất kinh doanh phải đáp ứng.
Chính trong sự đáp ứng đó với những mức độ chênh lệch khác nhau, những khác biệt về nhiều mặt giữa các chủ thể trong hoạt động sản xuất kinh doanh đã diễn ra và được phản ánh trong kết cục của nó là hiện tượng phân hoá giàu nghèo. 63 Trong kinh tế thị trường, người ta buộc phải tính toán bằng giá trị và tính đủ giá trị cho mọi kết quả lao động, do đó lợi ích được chú trọng, trước hết là lợi ích cá nhân. Nó khách quan hoá và nâng cao một cách đáng kể vai trò của năng lực cá nhân, thúc đẩy tính tự giác và ý thức trách nhiệm đối với công việc và sản phẩm lao động. Giá trị lợi ích đã thúc đẩy cạnh tranh, làm nẩy nở tài năng, kích thích con người về tính chủ động, óc sáng kiến, tính linh hoạt trong các phản ứng và hành vi đáp ứng.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Luận án tiến sĩ vấn đề giảm nghèo trong nền kinh tế thị trườ (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/tai-lieu-khac/luan-an-tien-si-van-de-giam-ngheo-trong-nen-kinh-te-thi-truong-hien-nay
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Luận án tiến sĩ vấn đề giảm nghèo trong nền kinh tế thị trườ" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án tiến sĩ nghiên cứu sâu về vấn đề giảm nghèo bền vững trong bối cảnh kinh tế thị trường. Đề xuất các giải pháp chính sách hiệu quả.
Luận án "Luận án tiến sĩ vấn đề giảm nghèo trong nền kinh tế thị trườ" có bao nhiêu trang?
Luận án "Luận án tiến sĩ vấn đề giảm nghèo trong nền kinh tế thị trườ" có 103 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Luận án tiến sĩ vấn đề giảm nghèo trong nền kinh tế thị trườ" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.