Luận án tiến sĩ tích cực hóa nhân tố chủ quan để giai cấp công nhân việt nam thự

Luận án: Luận án tiến sĩ tích cực hóa nhân tố chủ quan để giai cấp công nhân việt nam thực hiện và hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Xem tóm tắt và tải về tạ

Chuyên ngành

Khoa học chính trị

Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án tiến sĩ

Số trang

195

Thời gian đọc

30 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Tích cực hóa nhân tố chủ quan: Sứ mệnh giai cấp công nhân
Số trang:
195 trang
Chuyên ngành:
Khoa học chính trị
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Tích cực hóa nhân tố chủ quan Sứ mệnh giai cấp công nhân

Sự sụp đổ giai cấp tư sản, thắng lợi giai cấp vô sản là tất yếu. Đây là dự báo từ Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa bị lực lượng sản xuất hiện đại chống lại. Mâu thuẫn này biểu hiện giữa giai cấp công nhân (GCCN) và giai cấp tư sản (GCTS). GCCN đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, cách mạng. GCTS đại diện cho quan hệ sản xuất lỗi thời. GCCN cần lật đổ GCTS, xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân. Điều này mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. GCCN có sứ mệnh lịch sử giải phóng mình, giải phóng xã hội. GCCN hướng tới xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sứ mệnh lịch sử này không thể đảo ngược.

1.1. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

Giai cấp công nhân gánh vác sứ mệnh giải phóng nhân loại. Đó là giải phóng khỏi ách áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản. Sứ mệnh này bao gồm việc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Đây là xu thế vận động khách quan của lịch sử. Lịch sử tiến tới chủ nghĩa xã hội không thể đảo ngược. Vai trò của giai cấp công nhân được khẳng định vững chắc trong quá trình phát triển xã hội.

1.2. Vai trò quyết định của nhân tố chủ quan

Khả năng khách quan chỉ thành hiện thực khi có sự chín muồi nhân tố chủ quan. Nhân tố chủ quan của GCCN và phong trào công nhân rất quan trọng. Đặc biệt là vai trò của Đảng Cộng sản. Thực tiễn đã chứng minh điều này. Sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu có nguyên nhân trực tiếp từ sai lầm chủ quan của Đảng Cộng sản. Khủng hoảng kinh tế - xã hội Việt Nam cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 cũng liên quan đến nhận thức, vận dụng lý luận. Đó là lý luận về mối quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan. Vai trò nhân tố chủ quan ngày càng tăng lên trong hoạt động thực tiễn.

II. Bối cảnh và thách thức của giai cấp công nhân Việt Nam

Việt Nam đang trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Con đường bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đầy mới mẻ. Đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mục tiêu là trở thành nước công nghiệp vào năm 2020. Giai cấp công nhân Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo. Đó là lực lượng chủ đạo và tiên phong của xã hội. Trong bước ngoặt cách mạng hiện nay, GCCN cần thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Điều này đặt ra nhiều vấn đề phức tạp.

2.1. Nguồn gốc lịch sử và hạn chế cố hữu

Giai cấp công nhân Việt Nam sinh trưởng trong xã hội nông nghiệp lạc hậu. Xã hội này từng là thuộc địa nửa phong kiến. GCCN còn mang nặng nhiều nhược điểm, hạn chế do lịch sử để lại. Những yếu tố này ảnh hưởng đến năng lực chủ thể của giai cấp. Chúng cản trở sự phát huy nội lực và động lực phát triển. Cần có nhận thức rõ ràng về những hạn chế này.

2.2. Tác động của cơ chế thị trường và âm mưu Diễn biến hòa bình

Quá trình đổi mới mang lại tác động của cơ chế thị trường. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng ảnh hưởng. Cơ cấu GCCN Việt Nam biến chuyển nhanh, phức tạp. Những hạn chế, nhược điểm càng có điều kiện bộc lộ và tiến triển. Việc thực hiện sứ mệnh lịch sử trở nên khó khăn hơn. Các thế lực thù địch tấn công chủ nghĩa xã hội. Âm mưu "Diễn biến hòa bình" đe dọa Đảng Cộng sản và GCCN. Thực tế này đặt ra yêu cầu bức xúc cho sự phát triển GCCN.

III. Nâng cao năng lực chủ thể và ý thức giai cấp GCCN

Giai cấp công nhân Việt Nam phải đối mặt nhiều yêu cầu. Đó là yêu cầu cấp bách cho sự phát triển. GCCN cần khắc phục những nhược điểm và hạn chế vốn có. Đồng thời, GCCN phải nỗ lực vượt bậc. Nỗ lực này nhằm tạo ra sự phát triển mới về chất. Mục tiêu là xứng đáng với vai trò GCCN hiện đại. GCCN phải đủ sức thực hiện sứ mệnh lịch sử trọng đại của mình.

3.1. Vượt qua nhược điểm hạn chế để phát triển

Sự phát triển của GCCN Việt Nam đòi hỏi ý thức giai cấp cao. GCCN cần có năng lực tự chủ để giải quyết các vấn đề. Việc khắc phục nhược điểm không chỉ là loại bỏ yếu tố tiêu cực. Nó còn là quá trình tích cực hóa các yếu tố nội lực. Từ đó, GCCN phát huy động lực mạnh mẽ. Đây là con đường để GCCN tự khẳng định vị thế tiên phong của mình. Nhận thức sâu sắc về những hạn chế là bước đầu tiên.

3.2. Yêu cầu về năng lực trí tuệ bản lĩnh chính trị

Thực hiện sứ mệnh lịch sử là một thử thách lớn. Đây là thử thách về năng lực. Thử thách về trí tuệ. Thử thách về bản lĩnh chính trị. Thử thách này đặt ra cho GCCN và Đảng Cộng sản Việt Nam trong tình hình hiện nay. Tích cực hóa nhân tố chủ quan là yếu tố then chốt. Nó đảm bảo GCCN có đủ phẩm chất và năng lực. Phẩm chất và năng lực này cần thiết để vượt qua mọi khó khăn. Giai cấp công nhân cần nâng cao ý thức giai cấp và rèn luyện năng lực chủ thể.

IV. Vai trò nhận thức Phát huy nội lực động lực phát triển

Vấn đề "Tích cực hóa nhân tố chủ quan để giai cấp công nhân Việt Nam thực hiện và hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình" mang tầm quan trọng chiến lược. Vấn đề này có quan hệ tới sự thành bại của cách mạng Việt Nam. Nó liên quan đến triển vọng của chủ nghĩa xã hội. Nó ảnh hưởng tới tương lai của cả dân tộc. Đây không chỉ là vấn đề riêng của giai cấp công nhân.

4.1. Tầm quan trọng chiến lược của tích cực hóa NTCQ

Nghiên cứu về nhân tố chủ quan của GCCN là thiết yếu. Nó giúp phát huy tối đa nội lực của giai cấp. Sự tích cực hóa này tạo ra động lực mạnh mẽ cho toàn xã hội. Thành công của việc tích cực hóa NTCQ sẽ củng cố bản lĩnh chính trị. Nó tăng cường năng lực chủ thể cho GCCN. Điều này góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới. Đồng thời, nó bảo vệ thành quả cách mạng. Nhận thức đúng đắn về vai trò này là cần thiết.

4.2. Liên hệ với tích cực hóa nhân tố con người Việt Nam

Vấn đề tích cực hóa nhân tố chủ quan của GCCN liên quan chặt chẽ. Nó liên quan đến vấn đề tích cực hóa nhân tố con người Việt Nam nói chung. Hiện nay, về phương diện lý luận và thực tiễn, vẫn còn nhiều cách hiểu, cách làm khác nhau. Một đòi hỏi tất yếu là cần có những công trình nghiên cứu cơ bản, có hệ thống. Nghiên cứu cả về mặt lý luận và thực tiễn. Từ đó, tìm ra những phương hướng và giải pháp phù hợp. Nhằm tích cực hóa nhân tố chủ quan của GCCN Việt Nam. Đồng thời góp phần tích cực hóa nhân tố con người Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước.

V. Tổng quan nghiên cứu về nhân tố chủ quan giai cấp

Giai cấp công nhân ngay từ khi ra đời đã thu hút sự quan tâm lớn. GCCN trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học. Các ngành đó bao gồm quản lý học, xã hội học, tâm lý học. Sự quan tâm này thể hiện tầm vóc và vai trò của GCCN trong lịch sử. Việc nghiên cứu GCCN giúp hiểu rõ hơn về các giai cấp xã hội khác.

5.1. Lịch sử nghiên cứu về giai cấp công nhân

Cuối thế kỷ XVIII, tại phương Tây, cách mạng công nghiệp đặt ra yêu cầu mới. Yêu cầu đổi mới đối với quản lý. Một số nhà quản lý tài năng như R. Babbage đã bắt đầu chú ý GCCN. Họ tập trung vào mối quan hệ chủ - thợ. Cuối thế kỷ XIX, F. Taylor đề ra lý thuyết "con người kinh tế". Lý thuyết này được trường phái "quản lý khoa học" tán dương. Nó đề cao việc tận dụng tối đa yếu tố con người, kỹ thuật, đất đai và tài nguyên.

5.2. Hạn chế của các lý thuyết trước đây và hướng tiếp cận mới

Các lý thuyết ban đầu về GCCN có những hạn chế nhất định. Hạn chế lớn nhất của lý thuyết "con người kinh tế" là quá c... (phần văn bản bị cắt). Điều này cho thấy sự cần thiết của một cách tiếp cận toàn diện hơn. Cách tiếp cận mới cần tập trung vào tích cực hóa nhân tố chủ quan. Nó phải đánh giá đầy đủ ý thức giai cấp, năng lực chủ thể. Nghiên cứu này bổ sung vào khoảng trống đó. Luận án này cung cấp những giải pháp cụ thể hơn. Mục tiêu là phát huy nội lực và động lực của GCCN Việt Nam.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tiến sĩ tích cực hóa nhân tố chủ quan để giai cấp công nhân việt nam thực hiện và hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (195 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

Tính cấp thiết của đề tài Trong "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" - C.Ăngghen đã đưa ra dự báo: "Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau" [58, tr. Tính tất yếu đó có căn nguyên sâu xa và khách quan từ quy luật quan hệ sản xuất (QHSX) phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất (LLSX). QHSX mang tính chất chiếm hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất bị những "lực lượng sản xuất hiện đại nổi dậy, chống lại", do đó, nó phải bị xóa bỏ và thay thế bằng một QHSX mới. Mâu thuẫn giữa LLSX với QHSX trong phương thức sản xuất TBCN biểu hiện thành mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân (GCCN) tiêu biểu cho LLSX tiên tiến, cách mạng, với giai cấp tư sản (GCTS) tiêu biểu cho QHSX lỗi thời.

Rút cuộc, GCCN phải lật đổ quyền thống trị của GCTS, xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN đối với các tư liệu sản xuất chủ yếu, mở đường cho LLSX phát triển. Do đó GCCN hiện đại có sứ mệnh lịch sử (SMLS) là giải phóng mình, giải phóng xã hội và giải phóng toàn thể nhân loại khỏi ách áp bức, bóc lột, nô dịch của (GCTS), xóa bỏ chủ nghĩa tư bản (CNTB) và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội (CNXH). SMLS đó của GCCN và xu thế vận động của lịch sử tiến tới CNXH là không thể đảo ngược. Song khả năng khách quan đó có thành hiện thực hay không còn tùy thuộc vào tính chất quyết định trực tiếp của sự chín muồi các nhân tố chủ quan (NTCQ) của GCCN và phong trào công nhân, đặc biệt là đội tiên phong của nó - Đảng Cộng sản.

Thực tiễn đã chỉ ra rằng: sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu đầu thập kỷ 90 vừa qua do nhiều nguyên nhân, song trong đó có những nguyên nhân quan trọng, trực tiếp từ sai lầm chủ quan của các Đảng Cộng sản. Tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội ở nước ta từ những năm 6 cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80, cũng như những thành tựu mà chúng ta đạt đổi mới đều gắn với một vấn đề mấu chốt đó là nhận thức và vận dụng lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa điều kiện khách quan (ĐKKQ) và NTCQ, về vai trò ngày càng tăng lên trong hoạt động thực tiễn của NTCQ. Hiện nay, con đường quá độ tới CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN) đầy mới mẻ mà Việt Nam lựa chọn, đang ở giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, để đến năm 2020 nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Song, GCCN Việt Nam với tư cách là giai cấp lãnh đạo, là lực lượng chủ đạo và tiên phong của xã hội, trong bước ngoặt hiện nay của cách mạng Việt Nam, sẽ thực hiện như thế nào SMLS của mình? Vốn sinh trưởng trong một xã hội nông nghiệp lạc hậu, một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, GCCN Việt Nam còn mang nặng những nhược điểm và hạn chế do lịch sử để lại.

Thêm vào đó, trong quá trình đổi mới, trước tác động của cơ chế thị trường, của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu GCCN nước ta đang có sự biến chuyển nhanh và khá phức tạp, khiến cho những hạn chế, nhược điểm trên càng có điều kiện để bộc lộ, tiến triển. Việc thực hiện SMLS của GCCN Việt Nam càng khó khăn, phức tạp hơn khi mà các loại kẻ thù đang hằng ngày, hằng giờ, tấn công vào CNXH, vào Đảng Cộng sản và GCCN, bằng âm mưu "Diễn biến hòa bình". Thực tế đó đã đặt ra những yêu cầu bức xúc đối với sự phát triển của GCCN và Đảng của nó. GCCN Việt Nam chẳng những phải khắc phục những nhược điểm và hạn chế vốn có, mà còn phải nỗ lực vượt bậc để tạo ra sự phát triển mới về chất, xứng đáng là GCCN hiện đại, đủ sức thực hiện SMLS trọng đại của mình.

Đó thực sự là một thử thách về năng lực, trí tuệ và bản lĩnh chính trị đối với GCCN và Đảng Cộng sản Việt Nam trong tình hình hiện nay. Vì lẽ đó "Tích cực hóa nhân tố chủ quan để giai cấp công nhân Việt Nam thực hiện và hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình" trở thành một vấn 7 đề có tầm quan trọng chiến lược, quan hệ tới sự thành bại của cách mạng Việt Nam, tới triển vọng của CNXH và tương lai của cả dân tộc. Hơn nữa, đây cũng là vấn đề có liên quan chặt chẽ với vấn đề tích cực hóa nhân tố con người Việt Nam hiện nay, mà trên phương diện lý luận và thực tiễn còn đang tồn tại những cách hiểu, cách làm khác nhau. Chính vì vậy, một đòi hỏi tất yếu đang đặt ra là cần phải có những công trình nghiên cứu cơ bản, có hệ thống cả về mặt lý luận và thực tiễn, trên cơ sở đó tìm ra những phương hướng và giải pháp phù hợp nhằm tích cực hóa NTCQ của GCCN Việt Nam, đồng thời góp phần tích cực hóa nhân tố con người Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay.

Tình hình nghiên cứu đề tài GCCN ngay từ khi mới ra đời đã thu hút sự quan tâm và trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như: quản lý học, xã hội học, tâm lý học. Cuối thế kỷ XVIII, ở phương Tây khi cuộc cách mạng công nghiệp đặt ra yêu cầu đổi mới đối với quản lý, một số nhà quản lý có tài như R. Babbage đã bắt đầu chú ý đến GCCN trong mối quan hệ chủ thợ. Cuối thế kỷ XIX, lý thuyết "con người kinh tế" do F.

Taylor đề ra và được trường phái "quản lý khoa học" tán dương. Lý thuyết này đề cao việc tận dụng một cách tối đa yếu tố con người, kỹ thuật, đất đai và tài nguyên. Hạn chế lớn nhất của nó là quá coi trọng các yếu tố máy móc, thiết bị mà hạ thấp vai trò chủ động, sáng tạo có tính chất quyết định của người công nhân có ý thức. Do đó, nó quá thiên về việc khai thác công nhân ở khía cạnh cơ bắp và kinh tế mà chưa thể phát huy được vai trò của họ với tư cách là những con người - chủ thể xây dựng và cải tạo xã hội.

Đầu thế kỷ XX, "lý thuyết con người xã hội" được trường phái "quan hệ con người" ở Mỹ đề xuất nhằm thay thế cho lý thuyết Taylor. Những 8 người theo chủ thuyết này như D. Druker không phủ nhận ý nghĩa quan trọng của những khuyến khích vật chất và những biện pháp kiểm tra, đe dọa, trừng phạt, nhưng họ chú ý nhiều hơn yếu tố tự giác và sáng tạo của người công nhân. Họ thừa nhận công nhân là một thực thể xã hội, một sinh vật có ý thức, ngoài cuộc sống kinh tế, cá nhân đơn thuần, công nhân còn có một cuộc sống tâm lý, cộng đồng xã hội.

Ngoài nhu cầu cơ bản ăn, mặc, ở, "con người xã hội" - công nhân còn có nhu cầu xã hội như giao tiếp, tâm lý, học tập, tiến thân và cống hiến cho cộng đồng, xã hội. Vì thế, theo họ, công nhân sẽ phát huy được nhiều nhất khả năng của mình nếu như những nhu cầu trên của họ được đáp ứng, nếu họ được đặt trong một môi trường mà tính người của họ được tôn trọng và đề cao. Những quan niệm này đã được các nhà quản lý theo trường phái "quan hệ con người" đem áp dụng trong thực tế. Kết quả ban đầu cho thấy, ở đâu những nhu cầu xã hội của con người được thỏa mãn, tính tự giác và chủ động của công nhân được phát huy, thì năng suất lao động sẽ cao và hiệu quả công việc sẽ được cải thiện [105, tr.

Kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc phát huy và sử dụng nhân tố con người công nhân cho quá trình phát triển kinh tế có thể được xem là một thành công của lý thuyết "con người xã hội". Tuy nhiên có thể nhận thấy rằng những lý thuyết nêu trên chỉ tập trung khai thác GCCN và các tầng lớp nhân dân lao động khác nhằm mang lại lợi nhuận tối đa cho giới chủ, chứ không coi họ là chủ thể quá trình phát triển kinh tế- xã hội và là mục tiêu của mọi chiến lược, chính sách. Việc nghiên cứu nhân tố con người - công nhân của các nước tư bản vì thế mang màu sắc thực dụng, mỗi nghiên cứu chỉ nêu ý nghĩa của nhân tố con người ở một công đoạn thiết kế nào đó và khó tìm ra "ngôn ngữ" chung bởi những xuất phát điểm khác nhau. Các nhà tư tưởng XHCN trước Mác, đặc biệt là các nhà XHCN phê phán không tưởng đầu thế kỷ XIX, tuy có đứng về phía GCCN lên tiếng tố 9 cáo sự bóc lột tàn bạo, bất công của CNTB đối với GCCN và nói lên mơ ước của những người lao động về một xã hội không còn áp bức bóc lột.

Song do hạn chế lịch sử, họ chỉ nhìn nhận công nhân như những người bị áp bức, bóc lột, đáng thương hại, cần được cứu vớt mà không thấy được khả năng cách mạng to lớn của họ trong sự nghiệp tự giải phóng mình và giải phóng nhân loại.Ăngghen với tác phẩm "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" đã trở thành những người đầu tiên phát hiện ra vai trò lịch sử toàn thế giới của GCCN với tư cách là người đi đầu trong sự nghiệp xóa bỏ chế độ TBCN, xây dựng thành công xã hội XHCN và CSCN. Các ông đã luận chứng SMLS đó của GCCN là sự kết hợp biện chứng giữa ĐKKQ và NTCQ, trong đó việc phát huy NTCQ là những điều kiện quyết định trực tiếp để GCCN thực hiện và hoàn thành SMLS của mình. Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga và hàng loạt các cuộc cách mạng XHCN trên thế giới dẫn đến sự ra đời của CNXH hiện thực là những căn cứ thực tiễn sống động nhất cho những luận chứng khoa học của C.Ăngghen về vai trò NTCQ của GCCN. Từ thập kỷ 70 đến nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ và xu hướng toàn cầu hóa đã tác động và gây nên sự biến đổi nhiều mặt về số lượng, chất lượng, cơ cấu, thành phần GCCN.

Thêm vào đó sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu mà một trong những nguyên nhân quan trọng là do những sai lầm chủ quan của các Đảng Cộng sản đã đặt phong trào cộng sản và phong trào công nhân quốc tế trước những thử thách to lớn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Luận án tiến sĩ tích cực hóa nhân tố chủ quan để giai cấp cô (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/tai-lieu-khac/luan-an-tien-si-tich-cuc-hoa-nhan-to-chu-quan-de-giai-cap-cong-nhan-viet-nam-thuc-hien-va-hoan-thanh-su-menh-lich-su-cua-minh

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Luận án tiến sĩ tích cực hóa nhân tố chủ quan để giai cấp cô" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án: Luận án tiến sĩ tích cực hóa nhân tố chủ quan để giai cấp công nhân việt nam thực hiện và hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Xem tóm tắt và tải về tạ

Luận án "Luận án tiến sĩ tích cực hóa nhân tố chủ quan để giai cấp cô" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Luận án tiến sĩ tích cực hóa nhân tố chủ quan để giai cấp cô" thuộc chuyên ngành Khoa học chính trị. Danh mục: Tài liệu khác.

Luận án "Luận án tiến sĩ tích cực hóa nhân tố chủ quan để giai cấp cô" có bao nhiêu trang?

Luận án "Luận án tiến sĩ tích cực hóa nhân tố chủ quan để giai cấp cô" có 195 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Luận án tiến sĩ tích cực hóa nhân tố chủ quan để giai cấp cô" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter